Chế Bồng Nga cười ha hả, chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trước địa đồ. Một lúc sau, ông ta dừng bước, hào hứng nói:
- Kế này quả thực kỳ diệu. Người Việt từ trước đến nay chỉ đề phòng chúng ta ở phía nam và ngoài biển, chưa bao giờ nghĩ quân ta có thể xuất hiện ở phía tây kinh thành. Nếu thành công, quả thực là một đòn sét đánh giữa trời quang. Nhưng...
Ông ta quay phắt lại nhìn La Ngai:
- Quốc vương Ai Lao đâu phải kẻ ngu. Nếu cho quân ta mượn đường, lỡ ngày sau ta quay sang đánh họ thì sao? Cái câu chuyện “mượn đường diệt Quắc” ai chả biết, họ làm sao dám tin chúng ta?
La Ngai cúi đầu chắp tay với Chế Bồng Nga, khẩn khoản đáp:
- Bệ hạ nói rất phải. Chính vì vậy, thần cho rằng muốn mượn được đường Ai Lao, trước hết phải khiến họ tin rằng Chiêm Thành ta tuyệt đối không có ý định xấu với họ.
Chế Bồng Nga gật đầu, giọng nói đã dịu lại:
- Ngươi đã nói như vậy, hẳn cũng đã nghĩ ra cách rồi?
La Ngai cúi thấp đầu hơn nữa:
- Hạ thần quả có một kế. Chỉ là kế này động chạm đến hoàng gia, thần không dám tự tiện nói ra.
Chế Bồng Nga ngửa mặt cười vang:
- Ha ha ha! Vì nghiệp lớn thiên hạ, còn có gì mà không dám? Ngươi cứ nói! Chớ nói là động chạm đến hoàng gia, cho dù phải đem cả hoàng hậu của ta sang bên đó làm con tin, nếu đổi được chiến thắng với Đại Việt thì ta cũng cam lòng!
La Ngai nghe vậy mừng rỡ, vội dập đầu ba cái rồi thưa:
- Bệ hạ quả là bậc hùng chủ hiếm có trong thiên hạ! Theo ngu ý của thần, chúng ta nên cử một vị hoàng tử sang kinh đô Xiêng Đông - Xiêng Thoong(1) của Ai Lao, lấy danh nghĩa kết thân bang giao. Trong thời gian đại quân ta bắc phạt, vị hoàng tử ấy sẽ ở lại Ai Lao. Như vậy, quốc vương Ai Lao tất sẽ tin rằng chúng ta không dám nuốt lời.
----------------------
1. Kinh đô của Ai Lao bấy giờ, ngày nay thuộc huyện Louangphabang thuộc tỉnh Louangphabang, ở phía bắc Trung Lào
----------------------
Chế Bồng Nga đứng lặng hồi lâu. Mặc dù biết chuyện này không hề đơn giản, nhưng lúc này trong tâm trí ông ta chỉ thấy cảnh mấy chục vạn quân Chiêm vượt núi rừng Tây Việt, bất ngờ xuất hiện dưới chân thành Thăng Long; lại tưởng như nghe thấy tiếng voi chiến gầm vang, tiếng trống trận rung trời, cờ xí phấp phới che kín cả bầu trời phương bắc.
Cuối cùng, ông ta đập mạnh tay xuống bàn, quát lớn:
- Được, ta đồng ý !
Ông ta quay sang nhìn La Ngai, ánh mắt sáng rực:
- Hiện nay nhị hoàng tử Chế Sơn Nô đã trưởng thành, hiểu việc quốc gia. Nếu cần, ta sẽ cho nó sang Ai Lao làm tin. Chỉ cần lấy được thiên hạ phương Bắc, một chút hy sinh ấy có đáng gì!
Nói rồi, Chế Bồng Nga tiến xuống tận nơi, tự tay đỡ La Ngai đứng dậy:
- Đại tướng quân, ngươi lập tức trở cùng với Tể tướng Nhã Đam bàn bạc kỹ càng việc này. Từ đường đi, lương thảo, quân số, cho đến việc bang giao với Ai Lao, tất cả đều phải chuẩn bị chu toàn. Khi nào hoàn tất, lập tức dâng lên cho ta.
La Ngai cảm động đến mức nước mắt gần như trào ra, quỳ xuống lần nữa mà rằng:
- Thần nguyện dốc hết gan ruột, vì bệ hạ mà đánh hạ Thăng Long, lấy đầu hai vua Đại Việt dâng trước điện!
Chế Bồng Nga ngửa mặt cười dài. Tiếng cười vang vọng khắp cung điện Đồ Bàn, khiến những tì nữ, lính hầu vô tình nghe được đều cảm thấy lạnh sống lưng. Bởi kẻ nào đã ở lâu bên vua, đều hiểu được, sau tiếng cười ấy, đất nước Chiêm Thành lại có những sự thay đổi kinh hoàng.
= = =
Kinh thành Thăng Long.
Tháng mười một, tiết trời đã vào chính đông. Gió bấc từ phương bắc thổi về từng cơn lạnh buốt, quất qua những mái ngói lưu ly của hoàng thành phát ra tiếng rít dài nghe não nuột. Bầu trời ngày nào cũng phủ một màu chì xám đục. Dẫu đến giữa trưa, mặt trời có gắng gượng hé sau màn mây mỏng thì cũng chỉ tỏa ra thứ ánh sáng nhợt nhạt, không đủ xua đi hơi giá thấm tận xương người.
Trong điện Hàm Long, lò than hồng đỏ rực, hương trầm nghi ngút, vậy mà bầu không khí vẫn nặng nề đến nghẹt thở.
Ngự Câu Vương Trần Húc co mình trong chiếc áo Hồ Cừu(2), hai tay chắp sau lưng đứng lặng bên cửa sổ nhìn ra khoảng sân phủ đầy sương trắng. Khuôn mặt hắn âm trầm, đôi mày nhíu chặt, chẳng nói chẳng rằng, nhưng chính sự im lặng ấy còn đáng sợ hơn cả tiếng quát tháo.
----------------------
2. Loại áo sang trọng, bên trong là lông bên ngoài là da thuộc, tên gọi chung là áo Cừu. Có nhiều loại: Hồ Cừu là áo lông cáo, Điêu Cừu là áo lông chồn, Dương Cừu là áo lông dê... Ở Việt Nam từ thời Lý đã có áo Cừu. Toàn thư chép, năm 1055 vua Lý Thánh Tông nói: “Ta ở trong thâm cung, sưởi than xương thú, mặc áo Hồ Cừu mà còn lạnh đến thế này, huống hồ những kẻ bị giam trong ngục”, đoạn sai đem chăn chiếu ban cho tù nhân.
----------------------
Khắp điện rộng mênh mông không một tiếng động. Đám cung nữ, hoạn quan đứng nép sát hai bên hành lang, người nào người nấy cúi gằm mặt, ngay cả thở mạnh cũng không dám. Có tên tiểu hoạn quan đứng gần cửa, hai chân run lập cập, không rõ vì cái lạnh cắt da của ngày đông hay vì nỗi kinh hoàng đang bóp nghẹt tim gan.
Sự sợ hãi ấy cũng chẳng phải vô cớ. Chỉ từ chiều hôm qua đến giờ, Ngự Câu Vương đã nổi giận liên tiếp, truyền đánh đòn mười một người. Kẻ thì vì dâng cơm chậm nửa khắc, người thì vì thay trà không đủ nóng. Có tên hoạn quan chỉ vì lúc quỳ hành lễ vô ý ngẩng đầu lên nhìn chủ nhân một cái cũng bị kéo ra sân đánh đến ngất xỉu. Một nữ tỳ khác trong lúc lau dọn để sót vài hạt bụi trên chân ngự sàng, lập tức bị phạt hai mươi roi. Tiếng kêu khóc vang khắp phủ khiến ai nấy nghe mà sởn gai ốc.
Nhưng thảm khốc nhất vẫn là chuyện của tiểu nữ tỳ tên Bạch Liên. Con bé mới mười bốn tuổi, vừa được tuyển vào phủ chưa đầy ba tháng. Sáng sớm hôm ấy, nó bưng chậu nước nóng đến hầu Ngự Câu Vương rửa mặt.
Ngoài trời rét cắt da, hơi nước bốc lên nghi ngút. Chậu đồng lại vừa lớn vừa nặng. Trong lúc bước qua bậc cửa, nước nóng bất ngờ sánh lên làm bỏng rát mu bàn tay. Bạch Liên giật mình, chân lại vướng vào vạt váy, cả người chúi về phía trước.
"Choang!"
Chiếc chậu đồng rơi xuống nền đá. Nước nóng bắn tung tóe khắp điện, một ít còn văng lên vạt áo Hồ cừu của Trần Húc.
Bạch Liên sợ đến hồn xiêu phách lạc, quỳ sụp xuống đất, dập đầu liên tiếp, vừa khóc vừa van xin:
- Điện hạ tha tội! Điện hạ tha tội! Nô tỳ... nô tỳ không cố ý...
Tiếng khóc còn chưa dứt, Trần Húc đã sa sầm mặt. Hắn cúi xuống nhìn vạt áo bị vấy nước, ánh mắt lạnh như băng:
- Đồ vô dụng!
Rồi quay sang thị vệ quát lớn:
- Kéo nó ra ngoài! Lột sạch y phục, đánh năm mươi gậy!
Nghe mệnh lệnh ấy, cả điện lập tức chết lặng.
Mấy tên thị vệ nhìn nhau, trong lòng đều biết với một đứa bé gái mười bốn tuổi thì năm mươi gậy chẳng khác nào án tử. Có kẻ định mở miệng xin tha, nhưng vừa bắt gặp ánh mắt sắc lạnh của Trần Húc liền vội vàng cúi đầu, không dám hé nửa lời.
Bạch Liên bị lôi xềnh xệch ra ngoài sân. Lúc đó trời còn chưa sáng hẳn, gió bấc rít từng hồi, mặt đất phủ một lớp sương trắng mỏng. Con bé bị lột sạch xiêm áo, trói úp lên ghế gỗ.
Tiếng gậy đầu tiên giáng xuống.
"Bốp!"
Con bé hét lên một tiếng xé lòng.
Đến gậy thứ năm, tiếng kêu đã khàn đặc.
Đến gậy thứ mười, lưng và mông nó đều rách toạc, máu tươi nhuộm đỏ mặt ghế. Mấy tên lính vốn cũng động lòng thương, cố ý nương tay đôi chút. Nhưng từng cây gậy gỗ lim nặng trịch không ngừng giáng xuống, thân thể một đứa trẻ mười bốn tuổi mảnh mai làm sao chịu nổi.
Đến hơn hai mươi gậy, Bạch Liên chỉ còn thoi thóp, tiếng khóc nhỏ dần rồi tắt hẳn. Ba mươi gậy vừa dứt, đầu con bé đã gục xuống một bên, thân mình bất động như khúc gỗ.
Tên đội trưởng run run đưa tay lên mũi thử hơi thở, sắc mặt lập tức tái mét.
Nó đã chết.
Tin báo đưa vào điện, Trần Húc chỉ khẽ nhíu mày, trầm mặc giây lát rồi lạnh nhạt phẩy tay:
- Chết thì thôi. Sai người khâm liệm tử tế, đưa xác về quê. Ban cho cha mẹ nó một trăm lượng bạc, coi như đền mạng.
Nói xong, hắn lại quay mặt nhìn ra ngoài cửa sổ, dường như cái chết của một đứa bé gái chỉ là chuyện nhỏ chẳng đáng để bận lòng.
Đối với Trần Húc, một đứa nô tỳ chẳng qua cũng chỉ là đồ vật trong phủ. Đồ vật hỏng thì bỏ đi, bồi thường ít tiền là xong. Điều khiến hắn phiền não lúc này hoàn toàn không phải mạng sống của Bạch Liên, mà là một chuyện khác mà theo hắn, quan trọng hơn gấp bội.
Từ hôm qua đến nay, hắn đã nhiều lần sai người sang phủ Lê Quý Ly xin yết kiến, nhưng lần nào cũng chỉ nhận được lời nhắn rằng Hầu gia đang bận quốc sự. Lê Quý Ly càng chậm gặp, lòng Trần Húc càng nóng như lửa đốt.
Hắn hiểu rất rõ, việc mình bị triệu hồi từ Thuận Hóa về kinh tuyệt đối không đơn giản chỉ là một lần thay đổi nơi ở. Phía sau đó nhất định còn có một dụng ý nào khác nữa của Lê Quý Ly. Mà không gặp được vị quyền thần ấy, Trần Húc cũng không biết vận mệnh của mình rồi sẽ trôi về đâu.
Từ hồi cuối tháng chín, khi Ngự Câu Vương còn yên ổn hưởng cuộc sống vương giả ở đất Thuận Hóa, cách xa triều đình hàng nghìn dặm, bỗng có một vị khách bí mật từ Thăng Long tìm đến.
Người ấy chính là Trần Mộng Dữ.
Đêm hôm đó, hai người đóng kín cửa thư phòng, bọn thị vệ đều bị đuổi ra ngoài, ngay cả những kẻ thân cận nhất cũng không được bén mảng tới gần. Không ai biết trong căn phòng ấy họ đã nói những gì, chỉ biết hơn một canh giờ sau, Trần Mộng Dữ mới ung dung bước ra, còn Ngự Câu Vương thì thần sắc rạng rỡ khác hẳn lúc đầu.
Theo lời Trần Mộng Dữ, Lê Quý Ly từ lâu đã không còn vừa lòng với vị Quan gia trẻ tuổi hiện nay. Chỉ vì thời cơ chưa đến nên lão vẫn tạm thời nhẫn nhịn mà thôi.
Nếu Trần Húc chịu chủ động dâng biểu xin từ bỏ chức Thuận An Đại vương, hồi kinh phụng dưỡng Thái Thượng hoàng, thường xuyên ra vào nội đình, lấy hiếu đạo làm đầu, lại khéo léo kết giao với các vương hầu và đại thần trong triều, thì chỉ cần Quan gia sơ suất một việc nhỏ, Lê Quý Ly tất sẽ nhân cơ hội ấy dâng lời can gián, xin Thái Thượng hoàng đổi ngôi thiên tử.