Lê Hiến Giản nghe vậy, vuốt râu gật đầu:
- Muôn tâu Quan gia, thần cũng nghĩ như vậy.
Ông tỏ ra ngập ngừng một chút rồi nói tiếp:
- Chỉ có điều, những người như Mạc Thuý và Mạc Viễn đều mang cái ngạo của bậc sĩ phu chân chính. Muốn mời họ ra giúp nước, chỉ có thể dùng thành tâm và lễ nghĩa, tuyệt đối không thể dùng quyền thế ép buộc.
Nguyễn Phi Khanh cũng lên tiếng:
- Hơn nữa, hiện nay Thái Thượng hoàng và Lê thượng hầu đều đang để mắt đến Hành khiển ty. Nếu Quan gia công khai triệu kiến nhà họ Mạc, e rằng sẽ khiến người khác nghi ngờ.
Lê Hiến Giản chắp tay nói tiếp:
- Theo ý thần, xin cho thần đích thân về Nam Sách một chuyến. Thần vốn có tình đồng môn với Mạc Thuý và Mạc Viễn, lại hiểu rõ tính cách của họ. Nếu còn có ai có thể thuyết phục được hai người ấy, thì người đó chỉ có thể là thần.
Giản Hoàng nhìn người cận thần trước mặt hồi lâu, rồi chậm rãi gật đầu:
- Được. Chuyến này phải làm phiền tiên sinh rồi.
Lê Hiến Giản lập tức quỳ xuống:
- Thần nguyện đem hết sức mình để báo đáp thánh ân.
Giản Hoàng bước tới, tự tay đỡ ông dậy:
- Trẫm không cần tiên sinh đem hết sức. Trẫm chỉ cần tiên sinh bình an trở về, và mang theo những người mà trẫm đang mong đợi.
Lê Hiến Giản nghe vậy, trong lòng không khỏi xúc động, vội cúi đầu lĩnh mệnh.
Thế là sáng sớm ngày hôm sau, Lê Hiến Giản dẫn theo vài tâm phúc thân tín, rời khỏi kinh thành Thăng Long, cưỡi ngựa thẳng hướng huyện Bình Hà. Chuyến đi này, mặc dù là ông tự nguyện, nhưng dọc đường đi cũng nặng trĩu ưu tư.
Sau khi Chương Tĩnh Vương hồi giá về kinh, làng Long Động lại trở về với dáng vẻ thanh bình vốn có. Mà cái thanh bình ấy dường như còn sâu lắng hơn trước, bởi từ nay không còn cảnh dân hai làng Long Động và An Viễn cầm cào, vác thuổng tranh nhau từng thửa ruộng ngoài bãi sông Lăng nữa. Hơn hai trăm mẫu ruộng của họ Mạc trải dài ven sông ngày ngày chỉ còn vang tiếng trâu cày, tiếng người gọi nhau cấy hái. Đám tá điền vốn từng nơm nớp lo sợ bị người ta cướp mất kế sinh nhai, nay ai nấy đều yên tâm làm lụng, gặp nhau lại bảo: “Phúc lớn của Mạc gia, cũng là phúc lớn của dân Long Động ta vậy.”
Sáng hôm ấy, mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng tre đầu làng, sương mỏng còn lãng đãng trên mặt sông Lăng, thì trước cổng trạch viện họ Mạc xuất hiện một người khách lạ. Người ấy tuổi ngoài ba mươi, thân hình cao gầy, vận trường sam màu lam nhạt đã bạc màu bụi đường, thoạt nhìn chẳng khác một nho sinh du phương. Thế nhưng, vầng trán cao rộng, đôi mắt sáng như điện và dáng đi khoan thai, ung dung lại toát ra một khí chất khiến người ta không dám xem thường. Phía sau ông là năm người tùy tùng, trong đó ba người gánh theo những gánh lễ vật nặng trĩu, bước đi tuy mệt nhọc nhưng không dám hé nửa lời than vãn.
Người khách đứng trước cổng hồi lâu, ngẩng đầu nhìn tấm biển “Mạc trạch” treo trên cao, khẽ mỉm cười. Đúng lúc ấy, cánh cổng gỗ khép hờ kêu lên một tiếng “kẹt”, một gia đinh bước ra, chắp tay thi lễ:
- Thưa, ông hỏi ai?
Người khách đáp lễ, giọng nói ôn hòa nhã nhặn:
- Phiền cậu vào bẩm với Bá Uyên tiên sinh rằng, có cố nhân tên Hiến Giản từ kinh thành đến cầu kiến.
Tên gia đinh nghe hai chữ “Bá Uyên” thì hơi giật mình. Bởi Bá Uyên chính là tên tự của Mạc Thuý. Theo lệ của các bậc sĩ phu đương thời, ngoài tên huý do cha mẹ đặt, thường còn có tên tự để bằng hữu và người ngoài dùng khi xưng hô, vừa tỏ ý tôn trọng, vừa tránh phạm huý. Chữ “Thuý” trong tên Mạc Thuý mang nghĩa thâm sâu, uyên áo, bởi vậy mới lấy tên tự là Bá Uyên, ngụ ý học vấn uyên bác, hiểu biết rộng sâu.
Tên gia đinh không dám chậm trễ, vội vàng chạy vào trong. Chẳng bao lâu sau, từ trong sân vọng ra tiếng cười sang sảng, Mạc Thuý và em trai là Mạc Viễn cùng bước ra tận cổng. Vừa nhìn thấy người khách, hai anh em đều sững lại giây lát, rồi Mạc Thuý cười lớn, bước nhanh tới:
- Ồ! Quả nhiên là Lê huynh! Hơn mười năm xa cách, phong thái vẫn chẳng khác ngày nào!
Mạc Viễn cũng vái dài, nói:
- Lê đại nhân giá lâm hàn xá, thật khiến cho cả họ Mạc chúng tôi vẻ vang muôn phần!
Người khách ấy chính là Lê Hiến Giản. Ông vội đáp lễ, cười mà rằng:
- Hai vị huynh trưởng chớ trêu đùa tôi nữa. Bạn học cũ gặp nhau, sao lại cứ phải “đại nhân” với tiểu nhân? Nếu cứ khách sáo như thế, e rằng lần sau Hiến Giản này chẳng còn dám bước chân đến Long Động nữa.
Mạc Thuý vuốt râu, cười ha hả:
- Quan bác nay là trọng thần trong triều, ngày ngày kề cận bậc Cửu ngũ chí tôn. Còn chúng tôi chỉ là kẻ áo vải nơi thôn dã, nay được quan bác tới chơi, chả vẻ vang là gì!
Nói rồi đích thân đưa tay mời Lê Hiến Giản vào trong. Ba người vừa đi vừa hỏi han chuyện cũ. Gia nhân trong phủ thấy chủ nhân đích thân ra tận cổng nghênh đón thì đều biết vị khách này tất chẳng phải người thường, ai nấy đều tất bật chuẩn bị yến tiệc.
Nguyên Lê Hiến Giản thuở thiếu thời từng cùng anh em Mạc Thuý, Mạc Viễn theo học ở Quốc Tử Giám, khi ấy thân phụ của Mạc Thuý là ông Mạc Dao vẫn còn làm quan tại kinh. Ba người cùng đọc sách, cùng luận kinh sử, từng nhiều đêm đốt đèn đàm đạo đến canh ba. Sau này kẻ làm quan, người về quê, mỗi người một ngả, thoắt đã hơn mười năm chưa từng gặp lại.
Hôm ấy, họ Mạc mở tiệc khoản đãi rất trọng hậu. Từ giữa trưa cho đến tận lúc trăng lên đầu ngọn trúc, ba người vẫn chưa nói hết chuyện xưa. Sau bữa tiệc, Mạc Thuý sai gia nhân dọn một bàn trà dưới giàn thiên lý trong vườn sau. Trăng mùa thu sáng vằng vặc, gió sông Lăng thổi nhè nhẹ, hương hoa thoảng đưa khiến lòng người khoan khoái.
Lê Hiến Giản nâng chén trà, ngắm vầng trăng sáng hồi lâu rồi mới chậm rãi nói:
- Vài ngày trước, tôi nghe Chương Tĩnh Vương kể lại chuyện quý phủ bị người ta vu oan, chèn ép. May nhờ trời cao có mắt, cuối cùng cũng rửa sạch được nỗi ủy khuất. Chỉ là... sau biến cố ấy, hai huynh có từng nghĩ đến chuyện khác chăng?
Mạc Thuý nhấp một ngụm trà, mỉm cười đáp:
- Chúng tôi tài hèn sức mọn, chỉ biết cày ruộng, đọc sách, nuôi dạy con cháu. Ngoài việc an phận làm dân, nào dám có ý nghĩ gì khác?
Lê Hiến Giản khẽ thở dài, đặt chén trà xuống bàn đá:
- Bá Uyên huynh, Bá Trường huynh! Người ngoài không biết thì thôi, lẽ nào tôi lại không biết? Năm xưa ở Quốc Tử Giám, luận kinh sử thì hai vị đứng đầu, bàn thế sự thì thầy học cũng phải gật đầu tán thưởng. Nay thiên hạ tuy yên mà lòng người chưa yên, triều đình tuy mạnh mà gốc rễ chưa hẳn đã vững. Hai vị mang tài của Ngoạ Long, Phụng Sồ(1) thuở trước, cớ sao lại cam lòng vùi mình nơi đồng ruộng, để chí lớn tiêu mòn cùng khói bếp thôn quê?
1 . Ngoạ Long là danh hiệu của Gia Cát Lượng, Phụng Sồ là danh hiệu của Bàng Thống, hai nhân vật được xem là kỳ tài thời Tam Quốc. Tuy nhiên Bàng Thống dẫn quân đi đánh trận, bị mai phục chết sớm; Khổng Minh hết lòng phò tá nhà Thục, kiệt lực mà mất nhưng kết quả cũng không được như ý nguyện của mình.
Nghe đến đây, Mạc Viễn khẽ biến sắc, còn Mạc Thuý thì chỉ ngẩng đầu nhìn vầng minh nguyệt giữa trời. Một cơn gió đêm thổi qua làm lá trúc xào xạc. Hồi lâu, ông ta mới khẽ cười, nhưng cũng không trả lời ngay. Ông nâng chén trà lên, khẽ thổi làn khói mỏng đang bốc nghi ngút, ánh mắt dõi về phía vầng minh nguyệt treo lơ lửng giữa trời đêm.
Một lúc lâu sau, ông mới mỉm cười mà hỏi:
- Quan bác ví huynh đệ chúng tôi với Ngoạ Long, Phụng Sồ. Vậy tiểu đệ mạo muội xin hỏi, kết cục của Ngoạ Long, Phụng Sồ ra sao?
Lê Hiến Giản hơi giật mình, rồi khẽ lắc đầu, thở dài đáp:
- Gia Cát Khổng Minh, Bàng Sĩ Nguyên đều là bậc kỳ tài của thiên hạ. Chỉ tiếc rằng họ sinh vào buổi loạn thế, anh hùng hào kiệt bốn phương tranh bá, sức người dẫu lớn đến đâu cũng khó xoay chuyển được vận trời. Cho nên mới có chuyện Lục xuất Kỳ Sơn mà chưa thành đại nghiệp, Phụng Sồ chưa kịp thi thố hết tài năng đã bỏ mình nơi gò Lạc Phượng. Nhưng nay Đại Việt ta khác hẳn. Trong nước đang lúc thái bình, triều cương vững chắc; trên có minh quân, dưới có hiền thần, quốc gia đang lúc cần người tài phò tá. Hai bác nếu đem sở học của mình ra giúp nước, tất có thể lưu danh sử sách, trên không thẹn với tổ tông, dưới làm rạng rỡ gia môn. Chẳng phải đó là con đường tốt đẹp nhất hay sao?
Nghe vậy, Mạc Thuý khẽ cười, nhưng nụ cười ấy phảng phất vẻ châm biếm. Ông đặt chén trà xuống bàn đá, ngẩng đầu nhìn thẳng vào Lê Hiến Giản mà nói:
- Quan bác hiện là trọng thần trong triều, lại ngày ngày hầu cận thiên tử. Những việc trong ngoài triều đình, hẳn phải hiểu rõ hơn kẻ áo vải chúng tôi gấp trăm lần. Cớ sao hôm nay lại nói ra những lời sáo ngữ mà ngay cả đứa trẻ lên mười cũng thuộc lòng?
Lê Hiến Giản thoáng đỏ mặt, chưa kịp đáp thì Mạc Thuý đã tiếp lời:
- Quan bác nói thiên hạ thái bình ư? Phía Bắc, Đại Minh quốc lực cường thịnh, luôn dòm ngó nước ta như hổ đói rình mồi. Phía Nam, Chiêm Thành vẫn thường đem quân quấy nhiễu biên cương, chưa lúc nào chịu yên. Trong triều, Thái Thượng hoàng tuy là bậc thánh nhân đức độ, nhưng quá tin dùng ngoại thích, để cho quyền thế nghiêng ngả triều cương. Còn Quan gia tuy có chí lớn, song tuổi trẻ thế cô, muốn tranh phong với quyền thần Lê Quý Ly, e rằng lực bất tòng tâm. Tình thế như vậy, quan bác lại bảo là “vua hiền tôi sáng, triều cương vững chắc”, chẳng phải là tự dối mình dối người đó sao?
Lời ấy vừa dứt, gió đêm chợt thổi mạnh qua rặng trúc, lá trúc va vào nhau xào xạc như tiếng người thở dài. Mạc Viễn ngồi bên cạnh từ đầu đến cuối vẫn im lặng, lúc này mới khẽ đưa mắt nhìn anh trai, rồi lại nhìn sang Lê Hiến Giản.