Nghe Vương gia nói vậy, bốn cha con họ Mạc mới dám lục tục đứng lên. Tuy nhiên, vẻ thảng thốt trên khuôn mặt họ vẫn chưa tan hết.
Bởi ngoài Mạc Dao năm xưa từng làm quan trong triều, được diện kiến các vị công hầu khanh tướng, thì Mạc Địch, Mạc Thuý, Mạc Viễn cả đời chưa từng gặp một nhân vật hoàng gia nào.
Mạc Địch cả đời nghiên cứu kinh sử, mở trường dạy học, giao du với các bậc nho sĩ trong vùng. Mạc Thuý quản lý hàng ngàn mẫu ruộng đất, điều hành hàng trăm tá điền và gia nhân. Mạc Viễn trông coi ba lò gốm, năm lò gạch cùng mấy phường dệt, quanh năm chỉ tiếp xúc với thương nhân và dân thường. Đối với họ, được gặp mặt một vị tri huyện đã là chuyện vẻ vang hiếm có. Còn hôm nay, đứng trước mặt họ lại là em ruột của Hoàng đế Đại Việt, một vị thân vương quyền thế hiển hách của triều đình, thử hỏi sao không kinh hãi cho được?
May thay, Mạc Dao vốn là người từng trải. Sau phút thất thần ban đầu, ông lão nhanh chóng lấy lại bình tĩnh. Ông lão chỉnh lại y phục, cung kính đưa tay mời:
- Xin điện hạ cùng Hoàng đại nhân vào trong dùng trà. Mọi việc khác, chúng ta sẽ bàn sau.
Trần Nguyên Hy gật đầu mỉm cười.
Đêm hôm ấy, Mạc phủ mở đại yến khoản đãi. Trong ngoài đèn nến sáng trưng, tiếng nhạc tơ trúc vang lên không dứt. Các món sơn hào hải vị được dâng lên liên tiếp, lễ tiết chu toàn, cung kính hết mực.
Tiệc rượu kéo dài đến tận nửa đêm mới tan.
Chuyện yến tiệc hôm ấy xa hoa và trọng thể ra sao, tạm thời không nhắc tới nữa.
Sáng hôm sau, vào khoảng giữa giờ Thìn, mặt trời đã lên cao quá ngọn tre. Trong hoa viên Mạc phủ, gió xuân hiu hiu thổi, hương hoa mộc và hoa lan thoang thoảng trong không khí. Trần Nguyên Hy đang cùng Mạc Dao và ba anh em Mạc Địch, Mạc Thuý, Mạc Viễn ngồi quanh chiếc bàn đá dưới gốc hải đường cổ thụ, vừa thưởng trà vừa đàm đạo chuyện thế sự.
Mạc Dao vốn từng trải quan trường, kiến thức uyên bác, lời nói thâm trầm mà lý luận lại sắc bén, khiến cho Trần Nguyên Hy càng nghe càng thêm kính phục. Đang lúc câu chuyện đến chỗ tâm đắc, bỗng thấy một người gia nhân vội vã chạy từ ngoài vào, còn chưa tới nơi đã vội quỳ xuống thưa:
- Bẩm cụ! Bẩm các vị đại nhân! Ngoài cổng có rất nhiều người tới, dẫn đầu là một vị quan lớn, muốn cầu kiến Vương gia!
Mạc Dao nghe vậy, liền đặt chén trà xuống, quay sang Trần Nguyên Hy, cung kính nói:
- Chắc là các quan địa phương nghe tin điện hạ giá lâm nên đến thỉnh an. Xin cho thần ra ngoài nghênh tiếp.
Trần Nguyên Hy mỉm cười, khoát tay:
- Lão tiên sinh tuổi cao đức trọng, đâu dám để ngài vất vả. Ta tự ra gặp họ là được.
Nói đoạn, chàng đứng dậy, chỉnh lại trang phục rồi thong thả bước ra phía trước. Hoàng An cùng cha con Mạc Dao thấy vậy cũng vội vàng đi theo.
Vừa đến tiền viện, quả nhiên thấy ngoài sân đã đứng kín người.
Mấy chục viên quan lớn nhỏ của lộ Lạng Giang đều mặc triều phục chỉnh tề, chia thành hai hàng nghiêm trang. Phía sau họ, hơn ba trăm thiết kỵ của tiểu đoàn Truy Vân đứng thành đội ngũ thẳng tắp như kẻ chỉ, giáp trụ sáng loáng dưới ánh nắng ban mai.
Đi đầu hàng võ tướng là Lê Chí Thành và Cao Dĩnh, cả hai đều mặc giáp phục, tay vịn chuôi kiếm, thần thái uy nghiêm.
Còn đứng đầu đám văn quan là một người khoảng ngoài năm mươi tuổi, mặt vuông tai lớn, râu dài ba chòm, khí độ trầm ổn. Ông ta mặc triều phục màu tím thêu kỳ lân, đai ngọc thắt ngang lưng, vừa thấy Trần Nguyên Hy xuất hiện liền lập tức quỳ xuống, cất giọng sang sảng:
- Thần là An phủ sứ lộ Lạng Giang, Phạm A Song, khấu kiến Chương Tĩnh Vương điện hạ!
Mấy chục quan viên cùng hàng trăm quân sĩ phía sau cũng đồng loạt quỳ xuống, hô vang:
- Khấu kiến Chương Tĩnh Vương điện hạ!
Tiếng hô vang dội cả một góc trời.
Phạm A Song vốn là một nhân vật kiệt xuất của triều Đại Việt đương thời. Từ năm Đại Trị thứ tư (1361, thời vua Dụ Tông), khi mới hai mươi lăm tuổi, ông ta đã được bổ làm Tri phủ phủ Lâm Bình. Năm Đại Trị thứ chín (1366), quân Chiêm Thành xâm phạm biên giới, Phạm A Song đích thân chỉ huy quân dân chống giặc, lập được đại công, được triều đình thăng làm Đại Tri phủ kiêm Hành quân thủ ngự sứ. Năm Thiệu Khánh thứ 3 (1372) khi Thái Thượng hoàng đang làm vua đã ban cho ông ta tước Minh tự. Sau khi tiên đế Trần Duệ Tông đăng cơ, xét thấy ông văn võ kiêm toàn, liền bổ nhiệm làm An phủ sứ lộ Lạng Giang, cai quản cả một vùng rộng lớn.
Lần này, khi Chương Tĩnh Vương bí mật vi hành đến Lạng Giang, Phạm A Song đã nhận được mật chỉ từ kinh thành, ngày đêm cho người theo dõi và bảo vệ ngầm. Chỉ tiếc nha môn của ông cách Long Động khá xa, nên đến lúc này mới kịp đích thân tới bái kiến.
Trần Nguyên Hy bước nhanh tới, tự tay đỡ Phạm A Song đứng dậy, ôn tồn nói:
- An phủ sứ đại nhân không cần đa lễ.
Phạm A Song cúi đầu cảm tạ rồi đứng lên.
Nhưng điều khiến mọi người ngạc nhiên là ông không lập tức quay sang các quan viên khác, mà lại chỉnh lại y phục, tiến tới trước mặt Mạc Dao, cung kính vái dài một vái:
- Hậu bối Phạm A Song, xin ra mắt tiên sinh!
Mạc Dao thấy vậy vội nghiêng người tránh lễ, mỉm cười đáp:
- Lão hủ nay chỉ là một kẻ thảo dân nơi thôn dã, đâu dám nhận đại lễ của An phủ sứ.
Phạm A Song vội vàng đáp:
- Tiên sinh chớ nói vậy! Thuở Song còn là đứa học trò khăn gói lên kinh ứng thí, tiên sinh đã là trọng thần trong triều, danh vọng vang khắp thiên hạ. Nay tuy tiên sinh đã trí sĩ về quê, nhưng thanh danh và đức hạnh vẫn là tấm gương sáng cho những kẻ hậu học chúng tôi noi theo. A Song chỉ tiếc công vụ bận rộn, không thể thường xuyên đến thỉnh giáo, trong lòng vẫn luôn hổ thẹn.
Mạc Dao nghe vậy, vuốt râu cười lớn:
- Quan lớn quá lời rồi! Lão hủ già cả, chỉ mong thiên hạ thái bình, dân chúng an cư lạc nghiệp mà thôi.
Hai người lại khách sáo thêm mấy câu, khiến những người đứng bên cạnh đều thầm cảm phục phong độ của bậc lão thành danh sĩ và vị đại thần đương triều. Sau đó, Mạc Dao mới đưa tay mời:
- Xin mời điện hạ, An phủ sứ đại nhân cùng chư vị quan gia vào trong dùng trà.
Mọi người theo thứ tự tiến vào đại sảnh. Riêng tiểu đoàn Truy Vân vẫn đứng nghiêm chỉnh trước cổng Mạc phủ, hàng ngũ thẳng tắp, đao kiếm sáng ngời, khiến dân chúng trong vùng kéo đến xem đông nghịt nhưng không ai dám đến gần.
Trong đại sảnh, sau vài tuần trà và một hồi hàn huyên, Phạm A Song mới đứng dậy, cung kính chắp tay thưa:
- Điện hạ vi hành đã lâu, nay mọi việc nơi đây đều đã xử trí thỏa đáng. Thần phụng mật chỉ của Quan gia, xin được hộ tống điện hạ hồi kinh.
Trần Nguyên Hy khẽ gật đầu:
- Vậy làm phiền An phủ sứ đại nhân.
Nói rồi, chàng đứng dậy, quay sang Mạc Dao và ba anh em Mạc Địch, Mạc Thuý, Mạc Viễn, chắp tay từ biệt:
- Chuyến này nhờ được chư vị tiên sinh hết lòng giúp đỡ, ta vô cùng cảm kích. Ngày sau nếu có dịp, nhất định sẽ lại đến Long Động cùng các vị đàm đạo.
Cha con Mạc Dao nghe vậy, vội vàng quỳ xuống tiễn biệt.
Mạc Dao xúc động nói:
- Được điện hạ giá lâm tệ xá, thật là vinh hạnh lớn nhất trong đời của cha con thần. Chỉ mong điện hạ bảo trọng ngọc thể.
Trần Nguyên Hy đỡ Mạc Dao dậy, rồi mới quay người bước ra ngoài. Chẳng bao lâu sau, tiếng tù và vang lên. Hơn ba trăm thiết kỵ Truy Vân đồng loạt lên ngựa. Cờ hiệu "Thị Vệ" và "Truy Vân" tung bay phần phật trong gió sớm.
Dưới sự hộ tống của An phủ sứ Phạm A Song, các quan viên lộ Lạng Giang cùng tiểu đoàn Truy Vân tinh nhuệ, Chương Tĩnh Vương Trần Nguyên Hy rời khỏi làng Long Động, theo quan đạo lớn thẳng hướng kinh thành Thăng Long mà đi.
Mà cuộc vi hành lần này của Chương Tĩnh Vương, tuy chỉ kéo dài chưa đầy mười ngày, nhưng những người từng chứng kiến, từ cha con họ Mạc cho đến dân chúng hai làng Long Động, An Viễn, về sau mỗi khi nhắc lại vẫn không khỏi cảm thán rằng: đó quả là một giai thoại hiếm có trong thời thái bình của triều Đại Việt.
Cung Quan Triều.
Lúc ấy đã sang cuối giờ Mùi. Ánh nắng chiều xuyên qua những ô cửa chạm trổ hình mây cuốn, rọi xuống nền gạch Bát Tràng bóng như gương trong thư phòng của Giản Hoàng. Ngoài sân, gió đầu xuân thổi nhè nhẹ làm rung động những cành ngọc lan đang trổ hoa trắng muốt. Trong điện chỉ có ba người: Giản Hoàng ngồi sau án thư, bên trái là Nguyễn Phi Khanh, bên phải là Lê Hiến Giản.
Nguyễn Phi Khanh vừa từ Hành khiển ty trở về, trên tay còn cầm một tập hồ sơ dày, bèn chắp tay hành lễ rồi từ tốn tâu lại toàn bộ những việc xảy ra trong chuyến vi hành của Chương Tĩnh Vương Trần Nguyên Hy ở lộ Lạng Giang.
Từ lúc đăng cơ và nhất là khi thành lập Hành khiển ty, Giản Hoàng đã từng bước xây dựng cho mình một mạng lưới tai mắt rộng khắp thiên hạ.
Trong đó, quan trọng nhất là hệ thống mật thám do Nguyễn Thái Thanh bí mật tổ chức. Những người này hoặc cải trang thành thương nhân, hoặc giả làm gia nhân, thầy đồ, thư lại, thậm chí trà phu, tiểu nhị, âm thầm cài vào tư dinh của các quyền thần, các nha môn trọng yếu và những địa phương quan trọng nhất trong cả nước. Mọi tin tức, dù lớn hay nhỏ, đều được bí mật chuyển về kinh thành, tập trung tại một cơ sở đặc biệt, rồi qua tay Vũ Nhật Quang báo cáo trực tiếp lên Giản Hoàng.
Bên cạnh đó, còn có một hệ thống thu thập tin tức công khai do Nguyễn Phi Khanh phụ trách. Những tin tức này thường xuất hiện đầu tiên ở phủ Tư đồ, không phải cơ mật, đều là những việc trước sau gì cũng sẽ được các nha môn địa phương hoặc triều đình công bố. Chỉ là, Giản Hoàng cần biết sớm hơn người khác để kịp thời có đối sách mà thôi. Sở dĩ công việc này được giao cho Nguyễn Phi Khanh cũng bởi chàng là con rể của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, người đang nắm giữ Đình Úy tự. Thông qua hệ thống hồ sơ, công văn và án thư của cơ quan này, Nguyễn Phi Khanh gần như có thể tiếp cận được phần lớn những biến động quan trọng trong triều ngoài nội trước rất nhiều người.