Ở kinh thành Thăng Long, phủ đệ này không thể coi là lớn, nhưng diện tích cũng lên tới hai mươi mẫu, tương đương hơn bảy vạn mét vuông ở đời sau. Bên trong bố trí đầy đủ tiền viện, hậu trạch, hoa viên, hồ nước, sân luyện võ, trường bắn cung cùng nhiều công trình phụ trợ khác.
Tướng quân Trần Khắc Chấn thuở sinh thời vốn là người văn võ song toàn, không chỉ nổi danh trên chiến trường mà còn được giới văn sĩ tôn là danh gia hội họa. Bởi vậy, phủ đệ của ông không hề phô trương xa hoa mà mang vẻ đẹp trang nhã, hàm súc. Từ ngoài nhìn vào, trước hết là cổng lớn xây trên nền cao mười tám bậc đá xanh, hai bên đặt đôi nghê đá uy nghiêm như đang canh giữ. Trên cổng treo tấm hoành phi sơn son thếp vàng, trước đây đề ba chữ "Trần Tướng phủ", nay đã được thay bằng hai chữ "Dương phủ" viết theo lối chân thư mạnh mẽ.
Qua khỏi cổng lớn là bức bình phong cao hơn một trượng, đắp nổi hình mãnh hổ xuống núi, khí thế bừng bừng. Phía sau bình phong là khoảng sân rộng lát đá xanh, hai bên trồng tùng, bách, mai, lan, bốn mùa xanh tốt. Cuối sân là tòa tiền viện hai tầng đồ sộ. Tầng dưới dùng làm nơi tiếp khách và nghị sự; tầng trên là thư phòng, nơi gia chủ đọc sách, xử lý công vụ. Sau tiền viện là hậu trạch gồm nhiều dãy nhà nối liền nhau dành cho gia quyến sinh hoạt, nghỉ ngơi; xa hơn nữa mới đến khu nhà của gia nhân, nô bộc. Bên trái phủ là hoa viên u tĩnh, bên phải là hồ nước rộng, giữa hồ dựng một thủy đình tám mái, nối với bờ bằng chiếc cầu gỗ cong cong như vầng trăng khuyết.
Sáng hôm ấy, Dương Trân được nghỉ phép một ngày hiếm hoi. Ông mặc thường phục màu xanh sẫm, tay cầm bản vẽ bố trí, đi khắp nơi trong phủ kiểm tra việc sửa sang.
- Chỗ lan can này phải thay bằng gỗ lim! - ông chỉ tay bảo viên quản gia. - Còn thư phòng tầng hai, nhớ cho người kê thêm giá sách. Tiểu công tử sau này lớn lên, ta muốn nó được đọc sách trong một nơi xứng đáng.
Viên quản gia vội cúi đầu:
- Vâng, tiểu nhân lập tức cho người thực hiện.
Đúng lúc ấy, một gia đinh từ ngoài cổng chạy hớt hải vào, chưa kịp thở đã quỳ xuống bẩm:
- Bẩm tướng quân! Xương Đức Vương gia giá lâm!
Dương Trân và viên quản gia đồng thời giật mình. Dương Trân lập tức ném bản vẽ cho thuộc hạ, quát lớn:
- Mau! Tất cả dừng việc! Gia nhân, thị nữ, thợ thuyền lập tức chỉnh đốn y phục, xếp hàng nghênh tiếp Vương gia!
Chỉ trong chốc lát, cả tòa phủ đang ồn ào bỗng trở nên trang nghiêm khác thường.
Ngoài cổng lớn, tiếng vó ngựa và tiếng bánh xe nghiến trên mặt đường đá vang lên đều đặn. Một đoàn xa giá hơn hai mươi cỗ đã dừng lại trước phủ. Rèm xe vừa vén lên, một thanh niên khoảng gần hai mươi tuổi bước xuống. Người ấy đầu đội tử kim quan, thân mặc trường bào lụa trắng thêu kỳ lân vàng, eo đeo ngọc bội, dáng đi ung dung nhưng uy nghi tự nhiên khiến người khác không dám nhìn thẳng. Chính là Xương Đức Vương Trần Nguyên Diệu.
Phía sau Vương gia là mấy chục tùy tùng và hộ vệ mặc giáp phục chỉnh tề.
Dương Trân bước nhanh ra tận bậc thềm, quỳ xuống một gối, chắp tay hô lớn:
- Thần Dương Trân, khấu kiến Xương Đức Vương!
Ngay lập tức, toàn bộ gia nhân, thị nữ và thợ thuyền trong phủ đồng loạt quỳ rạp:
- Khấu kiến Vương gia!
Trần Nguyên Diệu bật cười sảng khoái, đích thân bước tới đỡ Dương Trân đứng dậy:
- Dương tướng quân không cần đa lễ!
Dương Trân vẫn cung kính đáp:
- Vương gia giá lâm, khiến tệ phủ bừng sáng. Xin mời Vương gia vào trong nghỉ chân.
Trần Nguyên Diệu đưa mắt nhìn quanh tòa phủ vừa được sửa sang, khẽ gật đầu:
- Quả nhiên là một tòa phủ đệ đẹp, sang trọng mà cũng tao nhã. Ta đã nghe nói rất nhiều lần, hôm nay mới có dịp tận mắt chứng kiến.
Nói đoạn, hai người sóng vai bước vào khách sảnh. Gia nhân lập tức dâng trà thơm, trải đệm, bày đủ nghi trượng. Chủ khách phân ngôi an tọa, nhưng nhìn ánh mắt ngoài vẻ hứng thú còn có chút thâm trầm của Xương Đức Vương, Dương Trân biết rằng chuyến viếng thăm hôm nay tuyệt đối không chỉ đơn giản là để chúc mừng tân phủ.
Xương Đức Vương nhấp một ngụm trà, nhìn Dương Trân hồi lâu rồi mỉm cười hỏi:
- Hai ngày nữa Dương tướng quân lên đường đến Đại đoàn Hoàng Sư nhậm chức. Đây là lần đầu tiên một người ngoài hệ thống cũ được giao nắm giữ đại quân trấn thủ biên thùy. Trong lòng tướng quân có điều gì lo lắng chăng?
Dương Trân lập tức đứng dậy, chắp tay đáp:
- Bẩm Vương gia, thần xuất thân hèn mọn, vốn chỉ là một kẻ lục lâm nơi sơn dã. Nay được Quan gia, Thái Thượng hoàng cùng các Vương gia tin dùng, ban cho chức vị trọng yếu, thần cảm kích còn không hết. Dù phía trước là núi đao biển lửa, thần cũng quyết dốc hết sức mình, tuyệt không dám nói hai chữ "lo lắng".
Xương Đức Vương gật đầu, ánh mắt lộ vẻ tán thưởng:
- Tốt! Ta rất tán thưởng tấm lòng trung nghĩa của tướng quân! Nhưng Quan gia nói: Đại đoàn Hoàng Sư là nơi phức tạp, tướng quân mới đến, nếu bên cạnh không có người tâm phúc phụ tá thì khó lòng thi triển chí lớn. Bởi vậy, Quan gia giao cho ta lo liệu việc này. Ta đã tìm được cho tướng quân hai vị tuấn kiệt, hôm nay đặc biệt dẫn tới để ra mắt.
Nói xong, chàng đưa tay vỗ nhẹ hai tiếng.
Lập tức, từ ngoài cửa khách sảnh, hai thanh niên sóng vai bước vào. Cả hai cùng chắp tay, đồng thanh cất tiếng:
- Học trò Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, xin bái kiến Dương tướng quân!
Dương Trân đưa mắt nhìn hai người, trong lòng bất giác rung động.
Người đứng bên trái tuổi chừng hơn hai mươi, thân hình cao gầy, nước da ngăm đen vì nắng gió. Tuy nhiên gương mặt lại vô cùng tuấn tú, ngũ quan cân đối, đôi mắt sáng và sâu. Nhìn ánh mắt ấy cũng đủ biết đây là người có chí lớn và tâm cơ sâu sắc.
Người đứng bên phải lớn hơn vài tuổi, thân cao gần chín thước, vai rộng ngực nở, thân hình vạm vỡ như một con gấu đen. Mặt vuông, tai lớn, hai gò má đầy đặn, tuy mặc trường sam nhưng khí chất lại giống một vị mãnh tướng hơn là thư sinh. Chỉ cần chàng ta đứng yên một bên cũng toát ra uy thế khiến người khác phải chú ý.
Xương Đức Vương cười nói:
- Đây là Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Hai người này vừa hoàn thành việc học ở Quốc tử giám, văn thao võ lược đều có chỗ hơn người. Quan gia đã hạ chỉ cho Binh bộ phong cho họ chức Tham quân, điều về Đại đoàn Hoàng Sư để phụ tá tướng quân.
Ông dừng lại một lát rồi nói tiếp:
- Ngoài ra, Quan gia cùng các Vương gia cũng cho phép tướng quân tùy ý lựa chọn nhân thủ ở Lữ đoàn Thiết Bưu, Lữ đoàn Tả Ban, Lữ đoàn Hữu Ban của Quan gia, Lữ đoàn Thiên Đinh của Trang Định Vương và Lữ đoàn Long Tiệp của bản vương. Người nào tướng quân thấy thích hợp, cứ việc mang đi.
Dương Trân nghe vậy, trong lòng vô cùng cảm kích. Ông lập tức đứng dậy, quỳ một gối xuống:
- Thần xin khấu tạ thánh ân của Quan gia và sự hậu ái của các Vương gia! Thần xin thề, dù phải phơi thây nơi biên tái cũng quyết không phụ sự tín nhiệm này!
Xương Đức Vương vội đỡ ông dậy, cười lớn:
- Được rồi! Đại trượng phu không nên cứ nói mấy câu khách sáo ấy mãi. Vậy tướng quân định chọn bao nhiêu người?
Dương Trân suy nghĩ một lát rồi đáp:
- Thần chỉ xin mang theo khoảng hai mươi huynh đệ cũ của Lữ đoàn Thiết Bưu. Người quý ở tinh, không quý ở nhiều.
Xương Đức Vương nghe xong càng thêm hài lòng:
- Quả nhiên là phong cách của bậc trí dũng song toàn!
Vậy là hai ngày sau, Dương Trân chính thức lên đường tới Đại đoàn Hoàng Sư nhậm chức.
Đi theo ông ngoài Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân còn có Nguyễn Tuấn Chương cùng hai mươi tinh nhuệ của Lữ đoàn Thiết Bưu.
Nguyễn Tuấn Chương vốn là con trai của võ sư Nguyễn Tuấn Thần - một trong mười hai vị trưởng lão của phái Đông Phong. Trước kia chàng theo Lê Chí Thành gia nhập Lữ đoàn Thiết Bưu, nhờ võ nghệ cao cường, tính tình cẩn trọng, xử sự công bằng mà rất được các huynh đệ kính phục. Trong thời gian qua, Nguyễn Tuấn Chương nhiều lần lập công lớn, đầu năm nay đã được phong làm Tiểu đoàn trưởng, trở thành cánh tay phải đắc lực nhất của Dương Trân.
Còn về Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân, Dương Trân tuy chưa từng gặp mặt nhưng đã nghe danh từ lâu. Cả hai đều xuất thân thế gia vọng tộc, học rộng biết nhiều, lại được đào tạo nhiều năm tại Quốc tử giám. Chỉ sau một đêm đàm đạo về binh pháp, chính sự và tình hình biên trấn, ba người đã cảm thấy vô cùng tâm đầu ý hợp, dường như quen biết từ trước.
Đoàn người hơn hai mươi kỵ sĩ lặng lẽ rời khỏi Thăng Long, phi ngựa về hướng bắc. Móng ngựa dẫm lên mặt đường quan đạo, cuốn theo từng đám bụi vàng mờ mịt.
Dương Trân cưỡi ngựa đi đầu, lòng ngổn ngang trăm mối.
Ông lo lắng, bởi nơi mình sắp đến là một chiến trường chính trị còn nguy hiểm hơn cả chiến trường thật sự. Đại đoàn Hoàng Sư quy tụ nhiều tướng lĩnh kỳ cựu, phần lớn đều không phải người của ông. Việc phải đối mặt với những ánh mắt nghi ngờ, những sự chống đối ngấm ngầm là điều có thể đoán trước.
Nhưng trong lòng ông cũng dâng lên niềm tự hào khó tả.
Chỉ mới ba năm trước, ông vẫn còn là một thủ lĩnh thảo khấu nơi Sơn Nam. Vậy mà hôm nay, ông đã trở thành Tả tướng quân của triều đình Đại Việt, thống lĩnh hơn một vạn quân sĩ, đứng trong hàng ngũ võ quan cao cấp nhất của quốc gia.
Không chỉ bản thân ông, cả gia tộc và huynh đệ cũng được hưởng vinh quang ấy.
Trưởng tử Dương Siêu hiện là chỉ huy Phi Ưng binh - đội quân tinh nhuệ chuyên bảo vệ Quan gia, được nhà vua vô cùng tín nhiệm. Thứ tử Dương Soái cũng đã được đặc cách vào học tại Quốc tử giám, mở ra con đường công danh rộng lớn. Dương phu nhân cùng tiểu nữ mới sinh thì ở lại Thăng Long, sống trong phủ đệ khang trang, có người hầu kẻ hạ chăm sóc.
Nghĩ đến đây, Dương Trân bất giác ngẩng đầu nhìn lên bầu trời xanh thẳm.
Ông hiểu rằng, không chỉ riêng mình mà tất cả những người xuất thân từ Sơn Nam tam trại trong ba năm qua đều được Quan gia trọng dụng.
Vũ Nhật Quang hiện giữ chức Tả ty Lang trung Hành khiển ty; Phạm Kỳ là Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Thị Vệ; Phùng Khắc Linh giữ Lữ đoàn Tả Ban; Hoàng Phụng Thế nắm Lữ đoàn Hữu Ban; Đỗ Thế Lâm thống lĩnh Lữ đoàn Long Tiệp. Ngay cả Từ Vân Hiệp, người từng là phó tướng dưới quyền ông ở Lữ đoàn Thiết Bưu, nay cũng được thăng lên làm Lữ đoàn trưởng.
Chỉ có Lý Phi Long đã hy sinh nơi sa trường, còn Nguyễn Thái Thanh đang thi hành một nhiệm vụ cơ mật nên tạm thời chưa nhận chức vụ mới.
Dương Trân siết chặt dây cương.
Ông chợt hiểu rằng, Quan gia không chỉ ban cho họ chức tước và vinh hoa, mà còn ban cho họ một con đường mới - con đường để những kẻ từng sống ngoài vòng pháp luật có thể trở thành trụ cột của quốc gia.
Đó là ân tình mà cả đời này, ông và các huynh đệ Sơn Nam tam trại cũng không thể nào quên được.