Mấy cuốn sách nằm chèo queo trên kệ, bìa đã bị phủ lên một lớp bụi mờ. Ánh hoàng hôn chạng vạng biến tôi thành những vệt đen kéo dài in trên tường.
Đã từ lâu rồi, điện thoại của tôi không còn dùng cho chức năng nghe gọi thông thường nữa. Làn sóng xanh lại rung nhẹ: “Anh vừa kể chuyện mình sắp lên chức. Chuyện sau đó thế nào?”
Câu hỏi của Lumia như làn khói mỏng tang biến mất vào không khí khi tôi đã mang xong đôi giày thể thao và chuyển đồng hồ sang chế độ tập luyện toàn thân. Từ tháng này, tôi đã bỏ bớt mấy chi phí không cần thiết như phòng gym, thuê bao truyền hình, mấy ly café ngồi quán cho đỡ buồn. Không có tạ nên tôi đành xoay sở bằng những bài sử dụng chính trọng lượng cơ thể như hít đất, gập bụng, bật nhảy cùng các tư thế vươn duỗi toàn thân để giữ phom. Tôi tập trung vào từng bài, mỗi bài hai mươi cái. Tập quay vòng mấy đợt cho đến khi toàn thân ướt đẫm mồ hôi.
Cảm thấy mệt, tôi bước ra ngoài ban công nhìn xuống đường. Phía dưới người ta vẫn đi lại như nước chảy. Có người đi cả gia đình, có người đi thành từng cặp, có những cô gái ăn vận rất thời trang và mấy anh shipper đang đứng ở một tiệm gà rán chờ lấy đơn. Dưới mái hiên một tiệm điện thoại di động đã đóng cửa, hai em bé bán vé số đen đủi đang ngồi nghịch mấy lon bia rỗng. Bé gái lớn chừng mười một, mười hai tuổi, còn bé trai chắc chỉ vừa vào lớp một. Bốn cô vũ công uốn éo hết cỡ trên mấy thùng phuy xếp thành hàng trước một beer club ở góc đường trong tiếng nhạc sàn chát chúa. Bên cạnh đó là một cửa hàng bán đồ phong thủy của đôi vợ chồng trung niên. Người vợ luôn mặc đồ như ni cô. Tôi không tưởng tượng nổi tại sao họ lại có thể sống tự tại kế bên một nơi quậy hết cỡ như thế. Tôi lại thấy hai đứa bé bán vé số, tụi nó đã bỏ lại mấy vỏ lon rồi tản ra, đi từng bàn trong beer club mời khách.
Càng quan sát, tôi càng thấy hoang mang, chợt nhớ tới những người từng làm việc với tôi ở Emerald Plaza và mấy người cùng xóm trọ trong Chợ Lớn. Những gì tôi đã làm, cho tới lúc này, có thay đổi được điều gì chưa?
Trời đã tối hẳn. Ngọn đèn đơn rủ xuống từ trần nhà ngay giữa bàn ăn, buông lơi một thứ ánh vàng mệt mỏi. Sắc vàng cổ lổ ấy chẳng thể làm căn bếp lạnh ngắt ấm lên thêm một chút nào. Trong lúc cái bụng réo ầm ĩ, tôi vét sạch những tờ tiền mệnh giá nhỏ còn sót lại bỏ vào bóp. Vuốt thẳng nếp vài tờ mười ngàn, hai mươi ngàn, gom lại cũng được trăm hai. Tôi xỏ đôi dép đi xuống cửa hàng tiện lợi nằm ngay dưới chân chung cư.
Mười lăm phút sau, tôi xách về một bịch nilon với mấy gói mì, vỉ trứng gà sáu quả, hai trái cà chua và ba lon bia. Căn bếp bỗng có chút sinh khí khi tiếng mỡ xèo xèo vang lên. Một bữa ăn với trứng chiên, kèm theo dĩa mì xào cà chua nghi ngút khói, nghĩ cho cùng cũng không đến nỗi tệ. Tôi dùng nĩa xoắn mì cho vào miệng. Cứ vài ba nĩa mì tôi lại cắt một góc trứng ăn kèm, chiêu bằng một ngụm La – de con cọp. Loại bia mà Bố già rất thích. Lớp bọt trắng xóa lan dần rồi biến mất trong tiếng nước đá chạm vào ly lanh canh.
Dọn dẹp chén dĩa xong, tôi đi tắm. Quay trở ra, tôi ngồi lại trước màn hình điện thoại. Làn sóng xanh nhẹ nhàng uốn lượn trong bóng tối kiên nhẫn đợi chờ. Tôi không chắc mình kể cho một ứng dụng điện tử nghe hay linh hồn của mình đã từ từ bị số hóa.
Tôi kể tiếp câu chuyện đời mình cho Lumia nghe, vào một buổi trưa tháng Chín cách đây hai năm. Tôi chuyển máy tính sang chế độ “lock”, tắt màn hình rồi đi ra sảnh trước của Emerald Plaza. Mấy ngày nay tôi gần như không còn nghĩ đến buổi tối dưới chân cầu Ba Son nữa. Công việc ngốn sạch thời gian và đầu óc của tôi. Chỉ có đôi lúc, giữa lúc ngồi nhìn màn hình, nụ cười của Lyra lại bất chợt hiện lên, rồi nhanh chóng nhường chỗ cho những bản báo cáo.
Một người đàn ông trung niên, dáng săn chắc bước tới vỗ mạnh vào vai tôi: “Chưa thấy người đàn ông nào sắp được thăng chức lại đứng chết trân dưới nắng như anh Minh.”
Hai chữ “thăng chức” vang lên như tiếng muỗng đập vô thành nồi, tạo nên một thứ âm thanh chói tai ngân dài trong không khí. Tôi hỏi: “Câu chuyện anh Nam kể hay đó, mà sự thật thì được mấy phần trăm đây?”
“Chuyện em được đề bạt Phó Giám đốc ai cũng biết rồi, tụi nhân viên đang bàn tán xôn xao kìa.”
Ai đó đã cố gắng hết sức để việc tôi thăng tiến được công khai. Dù mục đích thật sự của họ là gì thì tôi chưa rõ. Nụ cười nửa miệng trở lại trên môi, tôi nghe giọng mình vang lên thật nhạt nhẽo: “Còn nghe được gì nữa không?”
Người trưởng bộ phận an ninh bước tới đứng đối diện tôi, trầm giọng: “Đủ nhiều để biết. Nhưng anh không tin mày là hạng người đó.”
Câu hỏi tiếp theo của tôi nghe giống như một lời tự sự: “Anh làm việc ở đây từ hồi mới ra lính, phải không?”
“Mày nhớ chính xác đó.” Ông Nam không do dự. “Mày là thằng quản lý vận hành sâu sát anh em nhất, nên nắm phòng này cũng lâu nhất rồi.”
Tiếng “ờ” cất lên hờ hững trong khi ánh mắt tôi nhìn sâu vào bên trong sảnh, nơi cô lao công vừa xách xô nước đi ra từ khu vệ sinh: “Không biết tới lúc đó, ai chà mấy cái bồn cầu này!”
Mấy tia nắng trưa đáp xuống gương mặt âu sầu của anh Nam với vẻ thờ ơ vô cảm. Thế rồi cái vẻ vô tâm đó mờ đi, từng tia nắng rời bỏ anh, như cái cách cậu học trò chẳng còn tha thiết mấy cuốn sách giáo khoa khi đã vào hè.
Trở vô phòng tôi nghe Long thao thao: “Việc bây giờ chạy không hết, ai cũng làm bằng sức của hai người. Bây giờ cắt giảm nhân sự thì trung tâm đứng hình luôn chứ hoạt động gì nổi. Mà có chuyện gì, thì cuối cùng cái phòng vận hành này cũng là cái bao cho người ta đập.”
Câu nói của nó được Lan đồng tình bằng cái gật đầu dứt khoát. Tụi nó bắt trớn cho chị Hạnh cố tình nói lớn: “Chị lao công trực phòng hành chính – nhân sự nghe tin sắp tinh gọn bộ máy. Mỗi phòng đều giảm hai, ba biên chế. Chưa hết, phó giám đốc sẽ thương lượng với mấy công ty liên kết để thanh lý hết lao công, bảo vệ, kỹ thuật. Chưa hết năm mà chơi sau lưng kiểu này quá nặng.”
Mọi người nhìn tôi bằng ánh mắt khác. Tôi nhìn vào mắt từng người, ngồi xuống ghế, nói đúng một câu: “Mọi người cứ làm tốt việc của mình đi, đừng nghĩ nhiều.”
Cả tuần sau đó, câu chuyện thăng chức cùng đợt cắt giảm nhân sự vẫn âm ỉ luồn lách chảy khắp mọi ngóc ngách của Emerald Plaza. Tôi vẫn đi làm như chưa có gì xảy ra, tuần tự giải quyết công việc rồi dắt xe ra về.
Chiều thứ Bảy tôi qua phụ giữ xe cho tiệm mì nhà Quang mập. Tiệm này mở từ thời ông cố của Quang. Vài giai đoạn tiệm phải đóng cửa vì thời cuộc nhưng tính tới nay chắc cũng gần cả thế kỷ hơn. Hồi mới lên đây sống, nghe nó nói bán mì là nghề gia truyền tôi đâu có tin. Mãi tới lúc học xong lớp mười hai, tôi cắm đầu ôn thi đại học còn nó thì buông luôn chuyện học hành dần dần thay bác trai lo chuyện quán xá, tôi mới hiểu nó nói thật.
Ngày nào cũng vậy bốn giờ sáng là Quang lục đục thức dậy. Trong khi tôi còn đang ngủ, nó đã nhận thịt, xương, rau củ, mì tươi từ mấy mối quen rồi bắt đầu “nổi lửa”. Ngoại trừ mấy ngày Tết, quanh năm suốt tháng nó chỉ quẩn quanh cái tiệm này. Lần đi xa nhất của nó có lẽ là chuyến tôi chở nó phượt Vũng Tàu qua ngả Cần Giờ trên chiếc mô tô của mình.
Giờ này chợ vải đã đóng cửa nên xe cộ qua lại cũng thưa thớt. Mấy cơn mưa rào ngắn ngủi buổi trưa đã dứt từ lâu, gió thổi làm tan hết những đám mây mù, để lại bầu trời sập tối cùng vài ngôi sao lẻ loi.
Một cô gái mặc đầm trắng dài tay, chạy chiếc SH chở theo mẹ đến ăn mì. Tôi đứng lên, bước tới đỡ bà lão xuống. Mấy chiếc xe kiểu này vừa nặng vừa cao, người già leo lên bước xuống mà không cẩn thận thì té ngã như chơi. Cô gái thuộc nhóm xinh xắn, kiểu con gái mà đàn ông vừa nhìn thấy là phải để ý liền.
Thấy hai mẹ con bước vào thằng Quang mừng ra mặt. Họ ngồi đối diện nhau ở cái bàn ngay cạnh cửa sổ.
Quang mập làm liền hai ly trà đem tới, đặt xuống bàn rồi hỏi: “Lệ Nghi ăn mì vịt tiềm như mọi lần đúng không? Tiệm con còn mì hoành thánh, mì xá xíu nữa. Mấy món này hợp với bác gái, thịt mềm, dễ ăn dễ tiêu.”
Mấy chuyện bưng trà, hỏi món vốn là phần việc của bé Hí mà thằng Quang giành làm luôn. Con bé đứng bên cạnh, cái mâm còn cầm trên tay, nhìn chị Thanh tủm tỉm cười.
Mẹ Lệ Nghi uống một ngụm trà, nhìn Quang: “Cậu chủ còn trẻ quá. Cho bác tô mì xá xíu đi, còn Lệ Nghi thì mì vịt tiềm. Con lấy ít mì thôi nghen. Con gái bác ăn ở đây mấy lần, lần nào về cũng khen ngon. Bữa nay nhất quyết chở bác tới đây.”
“Mẹ đòi theo chứ con có kêu đâu.” Lệ Nghi chen vào, giọng có vẻ mắc cỡ. Thằng Quang chỉ biết cười hề hề, dạ dạ thưa thưa rồi quay về xe mì.
Cái tài nấu ăn của Quang mập, ai cũng thừa nhận. Có vài lần đi công tác xa, tôi thử ăn ở mấy nhà hàng lớn, dù người ta nấu bài bản, trình bày đẹp mắt, nhưng tôi không sao tìm được cái vị đậm đà như ở đây. Ba Quang từng kể hồi nhỏ Lyra có lúc chẳng chịu ăn gì, chỉ ăn cơm chan nước mì. Nghĩ lại, chắc cũng vì cái vị mằn mặn, thanh thanh của nồi nước lèo gia truyền ở tiệm Phúc Ký này.
Quang đứng bên nồi nước lèo khói thoăn thoắt làm hai tô. Xong xuôi, nó tự tay bưng mì ra tận bàn, còn kèm thêm một dĩa hoành thánh chiên: “Lần đầu bác ghé tiệm, con mời bác dùng thêm cái này cho vui miệng.”
Mẹ Lệ Nghi cười: “Buôn bán kiểu này chắc bác phải ghé hoài quá.”
Thằng Quang lại cười. Nó quay về đứng bên xe mì nhưng mắt cứ liếc sang bàn hai mẹ con. Lệ Nghi cúi xuống ăn, được vài đũa lại ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt anh chủ vẫn còn nhìn.
Bé Hí khều ông anh: “Anh để chỉ ăn đi. Anh nhìn riết chỉ bỏ mứa luôn đó.”
Quang mập quê độ, quay sang lườm con bé. Bé Hí càng khoái chí, cầm cái mâm chạy ra chỗ tôi, khoe: “Chị đó nhà bên Quận 6, làm ở bưu điện quận 5 đó anh. Chỉ ghé đây ăn mấy lần, không hiểu sao ông Quang làm quen được. Coi bộ ổng thoát ế trước anh đó.”
Tôi nhìn thằng Quang đang tất bật bên xe mì, khẽ nói: “Mừng cho nó.”
“Chừng nào anh bỏ cái mặt lạnh lùng này thì báo em ăn mừng nhen!” Hí nói nựng, ụp cả hai bàn tay lên mặt tôi.
“Em đừng có chọc anh nữa. Anh cũng như mọi người thôi mà.”
Đúng lúc đó, điện thoại trong túi quần tôi khẽ rung lên. Màn hình hiển thị tin nhắn từ Lyra: “Năm giờ rưỡi chiều mai, em chạy bộ. Anh có chạy cùng thì đợi em ở chân cầu Khánh Hội nha.”
Tôi không biết vì sao Lyra lại nhắn cho mình sau từng ấy ngày im lặng. Nhưng giữa mớ bầy hầy thăng chức, sa thải và những ánh mắt nghi ngại ở Emerald Plaza, điều duy nhất tôi ao ước lúc này lại đơn giản đến lạ kỳ: ngày mai trời đừng mưa.
Quả thực trời không mưa. Sài Gòn đãi tôi bằng một ngày Chủ nhật nắng vàng ươm.
Tôi chạy mô tô đến gửi gần khách sạn Bông Mai và đi bộ tới điểm hẹn ở đầu cầu Khánh Hội phía Quận 1, lúc năm giờ mười lăm. Gió sông thổi lên từng cơn nhưng vẫn không làm dịu đi hơi nóng hầm hập phả ra từ mặt đường nhựa. Tôi chọn một chỗ có tầm nhìn tốt trên làn đường dành riêng cho người đi bộ, đứng xoa cổ tay, cổ chân. Tiếng giày chạm xuống mặt đường lẫn với nhịp thở khe khẽ quanh tôi. Một đoàn năm sáu người cả nam lẫn nữ, mặc đồ thể thao đồng bộ, trông như dân chạy chuyên nghiệp cũng đang khởi động ở nơi đây. Màn khởi động của nhóm này nhanh chóng trở thành sàn diễn. Một anh nỗ lực thổi phồng thành tích với người già, một chị làm mặt ngầu với người trẻ, một cậu ra vẻ phấn khích với cô nàng ảnh thích. Một luồng xe chạy qua với tốc độ cao làm tôi cảm nhận cả thân mình bị kéo hẳn ra phía ngoài. Dù biết có rào chắn bảo vệ kiên cố, nhưng khoảng cách quá gần với dòng xe cơ giới vẫn khiến tôi lùi lại nửa bước.
Tôi nhìn đồng hồ. Còn năm phút nữa là tới năm giờ rưỡi. Trên cầu là tiếng gầm rú của động cơ đối lập hoàn toàn với tiếng sóng vỗ rì rào dưới lòng sông. Những bánh xe vô danh vẫn lăn trên từng mét đường thành phố. Thấp thoáng một bóng áo trắng chạy lên cầu. Cái bóng hiện ra là một cô gái. Nhưng khi nhìn kỹ khuôn mặt, tôi thất vọng nhận ra đó không phải là Lyra.
Có khi nào mình chọn sai địa điểm không? Lyra ở khách sạn trên đường Đồng Khởi, theo lý thì nàng ấy phải chạy xuống Tôn Đức Thắng trước khi đến đây.
Nhóm người ban nãy đã khởi động xong, chạy đi từ mấy phút trước mà vẫn chưa thấy Lyra đâu.
Trong lúc tôi đang căng mắt nhìn về phía bên kia đường thì một tiếng “Hù!” vang lên ngay sát bên tai. Tôi giật mình quay lại, chỉ kịp thấy Lyra nhẹ nhàng lướt qua.
Nàng vẫn giữ nguyên “outfit” như lần trước, chỉ khác cái kẹp tóc rộng bản màu hổ phách đã được thay bằng chiếc dây cột tóc. Chú gấu bông lấp ló trên mái tóc nàng, khẽ đong đưa theo từng nhịp chạy. Có vẻ như việc làm tôi giật mình là một trò tiêu khiển rất đỗi thú vị với nàng.
Tôi cất bước chạy theo, duy trì khoảng cách như nàng từng dặn.
Ánh hoàng hôn đỏ rực như mật chín nhuộm thắm bầu trời Sài Gòn. Cứ mỗi sải chân dài lên dốc cầu, góc nhìn lại mở rộng thêm một chút. Bến Nhà Rồng cổ kính đứng trầm mặc dưới bóng chiều tà, nơi những ánh đèn đầu tiên được thắp lên, ấm áp và hoài niệm.
Lyra chạy chậm lại, đợi tôi đến gần hơn rồi nói: “Anh vẫn còn giữ khoảng cách mười mét hả?” Nhịp thở nàng vẫn đều đặn khi nói chuyện.
“Em dặn mà”.
Khi lên đến đỉnh cầu, thời gian như lắng đọng. Lyra chạy xuyên qua vầng mặt trời đỏ rực rồi chìm dần vào dải mây tím phía chân trời. Ánh sáng cuối ngày in bóng nàng thành một vệt dài cô độc nhưng đầy kiêu hãnh trên mặt đường. Vẫn giống như lần trước, thỉnh thoảng Lyra lại quay đầu nhìn tôi. Chỉ khác một điều, lần này, ánh mắt và nụ cười của nàng dừng lại lâu hơn. Lâu đến mức tôi kịp mỉm cười đáp lại.
Hai đứa chạy dọc theo công viên bờ sông nối thẳng với vỉa hè Bến Vân Đồn. Hai cảnh sát giao thông đứng trực ở chốt, bên cạnh chiếc mô tô trắng mới cáu cạnh. Hàng cây xanh reo vui cổ vũ cho chúng tôi tăng tốc, leo lên Cầu Mống cổ xưa.
Khác với cái vẻ hiện đại, gấp gáp của cầu Khánh Hội, cây cầu thép vồng, màu xanh mộc mạc này lặng lẽ hơn hẳn. Mặc cho hai bên thi nhau mọc lên những tòa nhà cao tầng, mấy dầm thép đính đinh ốc của nó vẫn đứng trần mình nơi đó, kiên nhẫn ôm lấy hai bờ.
Tiếng chân hai đứa đều bước lên mặt cầu, vang nhẹ trong khoảng không gian lộng gió. Chẳng biết từ lúc nào, nhịp chân tôi và Lyra đã đều nhau, chẳng ai nhanh hơn và cũng chẳng ai chậm lại. Trên cầu thưa người. Không còn tiếng còi xe gầm rú áp sát bên hông, chỉ còn vị mặn nồng của hơi nước sông Sài Gòn bốc lên.
Lyra dừng lại, lấy điện thoại ra chụp một tấm ảnh toàn thành phố. Nàng quay lại nói: “Anh thích cảnh ở đây không?” Vài giọt mồ hôi xuất hiện trên gò má nàng.
Tôi khẽ gật đầu, cảm nhận hơi thở của mình đã nặng nề hơn.
“Cây cầu này có nguồn gốc khá thú vị. Nó được thiết kế và thi công bởi công ty của ông Gustave Eiffel, cha đẻ cái tháp nổi tiếng bên Paris. Em thích chỗ này”. Nói xong, nàng cất điện thoại, tiếp tục hành trình.
Sau khi qua khỏi Cầu Mống, Lyra hạ nhịp chuyển sang đi bộ, vòng vèo qua mấy góc Chợ Cũ cổ xưa và chật hẹp còn sót lại giữa lòng Quận Nhứt. Dọc theo hàng cột đá của một tòa nhà lớn, nhiều cô gái trong những bộ trang phục hút mắt đang cố làm dáng trước ống kính. Bộ đồ thể thao đơn giản giúp Lyra dễ dàng hòa vào dòng người lúc chiều tối. Nàng bước qua những sạp cá thịt sặc mùi đời, né những chiếc xe máy dựng lộn xộn trước một tiệm bánh mì, trông chẳng khác gì cô vợ đảm đang đang đi chợ muộn.
Ra khỏi những con đường nhỏ, dòng người trên phố đi bộ Nguyễn Huệ đông dần. Tiếng nhạc đì đùng vang lên từ một sân khấu ngoài trời. Một nhóm đông đảo thanh thiếu niên hô vang không ngớt tên thần tượng của họ. Lyra không hề ngoái nhìn, rảo bước về phía khách sạn Bông Mai.
Khi đã gần đến nơi, nàng xoay người lại giơ cao tay qua đầu như một lời chào. Qua lớp tường kính, tôi thấy Hà Mi vẫn đang đứng trực. Lyra ghé lại quầy lễ tân, trao đổi vài câu rồi mất hút sau cánh cửa thang máy.
Tôi lấy xe ở bãi gửi gần đó, chạy một mạch về Chợ Lớn. Chờ đón tôi lúc này không còn là căn phòng trống lạnh ngắt như mọi bận, mà là một thông báo vừa lóe sáng trên màn hình điện thoại. Tin nhắn của Lyra: “Chạy theo em hoài, có mệt lắm không anh?”
Chú gấu nhỏ đung đưa trên mái tóc nàng theo tôi vào tận giấc ngủ.