Những tháng sau khi Diệu bỏ đi là những tháng tôi nhìn tòa lâu đài của mình sụp xuống, viên gạch này kéo theo viên gạch khác, và điều lạ lùng là tôi vừa chống đỡ tuyệt vọng, vừa, ở một tầng sâu kín mà tôi không dám thừa nhận, thấy nhẹ nhõm.
Đầu tiên là những cuộc gọi. Rồi những người lạ tới hỏi han quanh chân đồi. Rồi một tờ báo đăng bài đầu tiên, thận trọng, dùng chữ "nghi vấn", nhưng tôi đọc nó và biết rằng cái đê đã vỡ. Diệu không im lặng. Cô đã làm cái điều mà không nạn nhân nào của tôi từng làm trọn vẹn: cô nói. Và cô không nói một mình. Bên cạnh cô là Vy, là quyển sổ của Loan, là hai người phụ nữ khác mà tôi tưởng đã tan vào im lặng vĩnh viễn nhưng hóa ra chỉ đang chờ một người đi trước để dám bước theo.
Đó là điều tôi đã tính sai suốt cả sự nghiệp. Tôi kiểm soát nạn nhân bằng cô lập, bằng cách làm mỗi người tin rằng chỉ mình họ trải qua điều đó, chỉ mình họ yếu đuối, chỉ mình họ có lỗi. Sức mạnh của tôi nằm ở sự chia rẽ. Nhưng khi một người đứng lên và nói ra, cô ấy phá vỡ chính cái cô lập ấy. Người thứ hai nghe thấy và nhận ra: à, không phải chỉ mình tôi, không phải lỗi của tôi, có cả một khuôn mẫu. Rồi người thứ ba. Cái mà tôi mất công chia rẽ suốt mấy chục năm, họ hàn gắn lại chỉ trong vài tháng, bằng cách đơn giản nhất: kể sự thật cho nhau nghe. Tôi đã xây đế chế của mình trên sự im lặng của nạn nhân, và tôi quên mất rằng im lặng là thứ dễ vỡ nhất trên đời, chỉ cần một người dám lên tiếng.
Đạo tràng bắt đầu tan. Không phải ngay. Những đệ tử trung thành nhất, những người như Hạnh, bám lấy tôi, bảo vệ tôi, vì thừa nhận tôi là kẻ lừa đảo nghĩa là thừa nhận cả đời họ ở đây là vô nghĩa, là những gì họ đã chịu đựng và đã làm cho người khác chịu đựng đều vô nghĩa và tồi tệ. Không ai chịu nổi ý nghĩ ấy. Nên họ chiến đấu để giữ lấy lời nói dối, dữ dội hơn cả tôi, vì với họ nó là chiếc phao cuối cùng. Tôi nhìn Hạnh gào lên bảo vệ tôi trước những người tới chất vấn, và trong một khoảnh khắc rõ ràng đến tàn nhẫn, tôi thấy tôi đã làm gì với chị. Tôi đã lấy một người phụ nữ tan vỡ, biến chị thành nạn nhân, rồi biến nạn nhân thành kẻ giữ ngục, rồi bây giờ biến kẻ giữ ngục thành lá chắn sống cho tôi. Ba tầng hủy hoại, trên cùng một con người. Và chị vẫn tưởng chị đang được cứu.
Tôi có thể trốn. Tôi có tiền giấu ở nhiều nơi, có những giấy tờ, có những mối quan hệ. Nhiều kẻ như tôi đã trốn thoát theo cách ấy, dựng lại đế chế ở một tỉnh khác, một cái tên khác. Cỗ máy trong tôi thúc giục tôi làm thế. Chạy đi. Dựng lại. Mày vẫn còn tài, vẫn còn cái lưỡi, thế gian vẫn đầy những kẻ đói khát chờ mày. Tiếng nói ấy rất mạnh. Nó là tiếng của Huyền Chân, của cái phần đã ngự trị trong tôi gần bốn mươi năm.
Nhưng có một tiếng khác, tôi tưởng đã chết từ lâu, bắt đầu cất lên. Tiếng của thằng Tường mười chín tuổi. Tiếng của Đạo Minh nắm vai tôi năm xưa. Tiếng của Loan mà tôi đã bịt bằng một bài thuyết pháp. Và, kỳ lạ nhất, tiếng của Diệu, câu hỏi của cô: "Bao giờ thì hết hả Thầy?" Câu hỏi ấy, cô hỏi về mẹ cô, nhưng bây giờ nó vang trong tôi như hỏi về chính đời tôi. Bao giờ thì hết? Bao giờ thì mày ngừng ăn người rồi gọi đó là cứu người? Bao giờ thì đủ?
Có một đêm, đêm mà tôi nghĩ là đêm quan trọng nhất đời mình, quan trọng hơn cả cái đêm trên bậc thềm chùa năm mười chín tuổi, tôi ngồi một mình trong chánh điện trống. Đạo tràng đã vãn gần hết. Ánh nến giống hệt cái đêm tôi giữ Diệu lại. Và tôi nhìn lên bức tượng Phật mà tôi đã đặt ở đó, đã lạy trước mặt nó hàng vạn lần, đã dùng nó làm phông nền cho mọi lời dối trá của mình.
Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn bức tượng ấy mà không diễn. Không có ai xem. Không có đệ tử nào để gây ấn tượng. Chỉ có tôi, một ông già, và một khối gỗ tạc hình một người đã dạy về từ bi và tỉnh thức, hai thứ mà tôi đã bán rẻ và mạo danh suốt cả đời.
Và tôi khóc. Không phải cái khóc diễn. Không phải cả cái khóc kinh hoàng như đêm Loan chết. Một cái khóc khác, cái khóc của một người cuối cùng cũng thôi chạy trốn khỏi chính mình. Tôi khóc cho những người phụ nữ tôi đã hủy hoại. Tôi khóc cho Loan mà tôi đã giết. Tôi khóc cho Hạnh mà tôi biến thành công cụ. Tôi khóc cho cả thằng Tường mười chín tuổi, đứa trẻ đói khát mà lẽ ra đã có thể lớn lên thành một Đạo Minh, nhưng đã rẽ nhầm và không bao giờ tìm được đường về. Và tôi khóc, một cách xấu hổ và muộn màng, cho chính cái con người mà tôi đáng lẽ đã có thể trở thành, con người ấy đã chết từ lâu, chết dưới tay tôi, cũng như bao người khác.
Sáng hôm sau, tôi không chạy trốn. Tôi làm một điều mà cả cỗ máy trong tôi gào lên phản đối. Tôi ngồi xuống, và tôi bắt đầu viết. Không phải một bài thuyết pháp. Không phải một lời biện hộ. Tôi viết ra sự thật. Tên những người. Những gì tôi đã làm. Cách cỗ máy vận hành, từng bước một, để nếu có ai đọc, họ sẽ nhận ra nó, đề phòng nó, ở tôi và ở những kẻ khác giống tôi. Tôi viết cả về Huyền Chân, về Loan, về tất cả.
Tôi viết nó, và tôi gửi nó cho những người đang điều tra. Kèm chữ ký thật. Nguyễn Văn Tường.
Tôi không làm điều đó để được tha thứ. Tôi đã hiểu, cuối cùng, rằng có những điều không thể được tha thứ, và đòi được tha thứ cho chúng chỉ là một hành vi ích kỷ cuối cùng, một cách bắt nạn nhân phải gánh thêm cả trách nhiệm gột rửa lương tâm cho kẻ đã hại họ. Tôi không có quyền xin Diệu tha thứ. Tôi không có quyền xin bất cứ ai trong số họ điều gì. Sự tha thứ, nếu có, là món quà họ có thể chọn cho hoặc không cho, vì sự bình an của chính họ, không phải của tôi. Nó không bao giờ là thứ tôi được đòi.
Tôi viết ra sự thật chỉ vì một lý do: vì đó là điều đúng đắn duy nhất còn lại mà tôi có thể làm. Sau gần bốn mươi năm làm điều sai và gọi nó là điều đúng, tôi muốn, dù chỉ một lần trước khi chết, làm một điều đúng và gọi đúng tên nó là điều đúng. Không phải để được gì. Chỉ vì nó đúng.
Đó, tôi nghĩ, là bước đầu tiên và cũng gần như là bước cuối cùng của một hành trình mà tôi bắt đầu quá muộn để đi tới đâu. Nhưng dù muộn, dù vô ích cho tất cả những người tôi đã làm tổn thương, tôi vẫn phải bước nó. Vì một con người, ngay cả một con người như tôi, vẫn còn giữ được cái quyền cuối cùng này: quyền thôi nói dối.