Tôi nhớ Diệu ngay từ cái nhìn đầu tiên, và bây giờ tôi hiểu vì sao. Tôi nhớ cô vì cô là hình ảnh hoàn hảo của con mồi, và một thợ săn lâu năm thì nhận ra con mồi hoàn hảo bằng một thứ gần như bản năng.
Hôm ấy tôi đi một vòng qua nhà ăn, làm cái động tác quen thuộc: đặt tay lên vai vài người, nói vài câu để duy trì cái hào quang. Và tôi thấy cô, ngồi lọt thỏm bên chị Hạnh, cả người toát ra nỗi mất mát. Có những người mang nỗi buồn kín đáo, phải tìm mới thấy. Diệu thì nỗi đau như phủ lên cô một lớp sương nhìn thấy được. Cô vừa mất một người rất gần. Cô cô độc. Cô đang tìm một chỗ để đặt niềm tin đã không còn chỗ bấu víu. Cô, nói bằng cái từ điển ghê tởm trong đầu tôi lúc ấy, là "chín".
Tôi bước tới. Tôi nói câu mà Huyền Chân đã nói với tôi, biến tấu đi: "Con vừa mất một người thân." Không hỏi. Nói. Và tôi nhìn thấy cô sững lại, đôi mắt mở lớn, cái vẻ kinh ngạc của một người tưởng mình vô hình bỗng được nhìn thấy. Tôi biết cái vẻ ấy. Tôi đã có nó, năm mười chín tuổi, trên bậc thềm chùa. Và trong khoảnh khắc tôi nhìn thấy nó trên mặt Diệu, lẽ ra, lẽ ra nó phải làm tôi dừng lại. Vì tôi đang nhìn thấy chính tôi. Đứa trẻ đói khát được chú ý, sắp bị một kẻ săn mồi cắn câu, y như tôi đã bị.
Nhưng tôi không dừng. Tôi đã luyện tập việc không dừng suốt gần bốn mươi năm. Cái phản xạ nhận ra mình trong nạn nhân, đáng lẽ là cửa ngõ của lòng trắc ẩn, ở tôi đã bị đảo ngược thành công cụ của sự săn đuổi. Tôi không thương cô vì cô giống tôi. Tôi săn cô hiệu quả hơn vì cô giống tôi. Đó là điều mà một hệ thống bị bóp méo làm với một con người: nó lấy chính cái đáng lẽ cứu ta, và biến thành vũ khí để ta hại người khác.
Tôi nói với cô về sợi dây chưa cắt, về mẹ cô còn vương vấn vì cô còn đau. Tôi nhìn nước mắt cô ứa ra và tôi biết mình đã cắm được cái móc. Câu ấy, "con càng đau người ấy càng khó siêu thoát", là một trong những câu tàn nhẫn nhất trong kho vũ khí của tôi, vì nó lấy tình thương thiêng liêng nhất của một đứa con và bẻ nó thành gông cùm. Tôi đã dùng nó nhiều lần. Nhưng với Diệu, vì cô thương mẹ sâu đến thế, nó ăn sâu hơn bao giờ hết.
Bạn đọc Quyển 1 rồi thì đã biết những gì xảy ra sau đó với Diệu, qua mắt cô. Tôi sẽ không kể lại từ phía tôi để tranh phần kể của cô. Câu chuyện ấy thuộc về cô, không thuộc về tôi. Kẻ gây ra vết thương không có quyền kể lại vết thương ấy như thể nó là của mình. Tôi chỉ nói điều mà chỉ tôi biết: những khoảnh khắc mà tòa lâu đài trong tôi nứt ra, khi tôi làm những điều đó với cô.
Bởi vì có những khoảnh khắc như thế, và tôi phải trung thực về chúng, dù trung thực ở đây chẳng cứu vãn được gì.
Có một đêm, sau khi tôi giữ cô lại chánh điện, cô hỏi tôi một câu. "Nếu con làm hết những điều này, thì mẹ con siêu thoát chưa?" Và khi tôi trả lời "sắp rồi, con còn một chút nghiệp cuối", cô nhìn tôi và nói: "Thầy nói câu đó ba tháng trước rồi." Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy một điều làm ruột gan tôi lạnh đi. Tôi thấy trí thông minh của cô. Cái đầu tỉnh táo của cô, cái mà tôi đã dày công làm cho mụ đi bằng đói, bằng mất ngủ, bằng chén trà, cái đầu ấy vẫn còn sống, và nó vừa bắt được tôi trong lời nói dối. Cô đã đếm. Cô nhớ. Cô đối chiếu. Cô đang tư duy như một con người tự do, ngay giữa lòng nhà tù tôi dựng cho cô.
Và bạn biết phản ứng đầu tiên của tôi là gì không? Không phải hoảng sợ bị lộ. Mà là một cảm giác khó chịu, gần như tức giận, cái cảm giác của một kẻ thấy công cụ của mình cãi lại. Trong một tích tắc, cái mặt nạ từ ái của tôi tuột xuống, và tôi biết cô đã nhìn thấy khuôn mặt thật bên dưới. Tôi thấy cô thấy. Và tôi lập tức kéo mặt nạ lên, tung ra đòn quen thuộc: "Con đang khởi tâm nghi ngờ ta. Ma nghiệp đang mượn miệng con." Cái câu thần chú đã bịt miệng biết bao người, trong đó có chính tôi năm xưa.
Nhưng lần này, tôi cảm nhận được, dù không muốn thừa nhận, rằng câu thần chú đã mất thiêng. Cô cúi đầu xin lỗi, đóng vai ngoan ngoãn, nhưng cái gì đó trong không khí đã đổi. Con mồi đã bắt đầu tỉnh. Và một thợ săn lâu năm thì ngửi được điều đó.
Lẽ ra, một kẻ khôn ngoan lạnh lùng sẽ buông Diệu ra, đẩy cô đi trước khi cô thành mối nguy, như tôi đã làm với vài người "khó bảo" trước đây. Nhưng tôi đã không buông. Và đây là chi tiết mà tôi ngẫm mãi, vì nó hé lộ một điều về tôi mà tôi không thích nhìn. Tôi không buông Diệu, một phần, vì lòng kiêu ngạo. Tôi không chịu được ý nghĩ rằng có một con mồi vuột khỏi tay tôi bằng chính trí tuệ của nó. Tôi muốn chứng minh tôi vẫn kiểm soát được. Cái tôi của tôi, cái tôi khổng lồ đã được nuôi bằng mấy chục năm sùng bái, không cho phép tôi thua một đứa con gái hai mươi ba tuổi.
Chính lòng kiêu ngạo ấy giết tôi. Kẻ ác không bị hạ bởi vì nó ác. Nó bị hạ bởi vì, đến một lúc, nó tin rằng nó bất khả chiến bại. Tôi đã tin thế. Ba mươi năm không ai lật đổ được tôi. Những nạn nhân đều tan vỡ theo đúng thiết kế, hoặc chết trong im lặng như Loan, hoặc ra đi mà vẫn tin tôi là thánh. Cái xác của họ, cái im lặng của họ, đã xây cho tôi một niềm tin rằng tôi nằm ngoài luật nhân quả mà tôi rao giảng.
Tôi đã không tính đến hai điều.
Điều thứ nhất: rằng một trong những con mồi của tôi, chị Loan, đã để lại một quyển sổ. Rằng cái chết mà tôi biến thành bài giảng đã gieo một hạt mầm ở đâu đó ngoài kia, trong lòng một người em gái tên Vy.
Điều thứ hai, lớn hơn: rằng con người, kể cả con người tan nát nhất, mang trong mình một thứ mà không cỗ máy nào của tôi diệt nổi hoàn toàn. Tôi đã gọi nó là "ma nghiệp", là "cái tôi phàm phu", là "vọng tưởng". Tôi đã dạy nạn nhân căm ghét nó, sợ nó, giết nó. Nhưng tôi đã sai về bản chất của nó, sai suốt cả đời.
Cái tiếng nói nhỏ trong lòng người mà tôi bảo họ phải bóp chết ấy, không phải ma nghiệp. Nó là phần người nhất trong họ. Nó là lương tri. Nó là cái la bàn mà tạo hóa đặt sẵn trong mỗi con người, cái kim luôn run rẩy chỉ về phía sự thật, dù bị bẻ cong bao nhiêu lần. Tôi đã dành cả sự nghiệp để bẻ cong những cái kim ấy. Nhưng ở Diệu, cái kim bật lại. Nó luôn có thể bật lại. Đó là điều mà những kẻ như tôi không bao giờ chịu tin, cho tới khi nó xảy ra với chính chúng tôi.
Và khi Diệu đi, khi cô cùng Vy bước lên chiếc xe rời khỏi cổng Tịnh Vân Đường vào một buổi chiều tôi vắng mặt, tôi đã không biết ngay. Tôi chỉ biết khi trở về và thấy phòng cô trống. Chị Hạnh run rẩy báo tin. Và tôi đứng đó, giữa cái đạo tràng của mình, giữa hào quang mấy chục năm, và lần đầu tiên tôi cảm thấy một thứ mà tôi đã gieo vào bao nhiêu người khác nhưng chưa từng nếm: nỗi sợ của kẻ biết nền móng dưới chân mình đã bắt đầu nứt.
Sương mà tôi đã dâng lên trong đời bao nhiêu người, bây giờ bắt đầu dâng lên quanh chính tôi. Nhưng sương của tôi không phải sương êm ái ru người ta ngủ. Sương của tôi là sương lạnh của sự thật đang tới gần, và tôi biết, dù chưa dám nói ra, rằng lần này sẽ không có câu thần chú nào xua nó đi được.