CHƯƠNG 21: NHẬT KÝ THẤT BẠI
Vài ngày sau khi tìm thấy cuộn nhật ký lần đầu tiên, Trần Phàm quyết định quay lại đọc kỹ hơn, lần này không phải trong khuôn khổ vội vã của việc kiểm kê nhanh để phân loại, mà với một sự tập trung có chủ đích, tận dụng một buổi chiều khi Thư Bá đã chìm sâu vào giấc ngủ gật quen thuộc, hơi thở đều đặn vang lên từ góc ghế tre, đủ để Trần Phàm chắc chắn rằng mình sẽ không bị làm gián đoạn trong một khoảng thời gian đủ dài.
Hắn lấy cuộn giấy ra khỏi ngăn kệ, ngồi xuống một góc có ánh sáng tốt hơn gần cửa, mở ra cẩn thận, và bắt đầu đọc lại từ đầu, lần này không bỏ qua bất cứ chi tiết nào, không vội vàng tóm lược để ghi vào sổ kiểm kê, mà đọc với tốc độ của một người thực sự muốn hiểu, thực sự muốn nắm bắt từng bước suy nghĩ đã được ghi lại trên những trang giấy đã ngả màu theo thời gian.
Tên tác giả của cuốn nhật ký, được ghi rõ ràng hơn ở những trang sau khi Trần Phàm đọc kỹ hơn so với lần lướt qua đầu tiên, là Hàn Tổ Minh - một trưởng lão của gia tộc Hàn sống vào khoảng tám mươi năm trước, dựa theo những mốc thời gian và sự kiện được nhắc tới rải rác trong các đoạn ghi chép, đối chiếu với một vài thông tin Trần Phàm còn nhớ được từ những lần nghe lỏm các đệ tử chính thức nói về lịch sử gia tộc. Đây là một cái tên hắn chưa từng nghe ai nhắc tới trong suốt bốn năm sống ở trang viên, không có bức tượng nào dựng lên để tưởng nhớ, không có câu chuyện nào được kể lại về những thành tựu của ông, một sự lãng quên hoàn toàn đối với một người đã từng giữ vị trí trưởng lão trong gia tộc.
Nội dung nhật ký cho thấy Hàn Tổ Minh đã dành mười hai năm liên tục, một khoảng thời gian dài đáng kinh ngạc đối với một dự án nghiên cứu cá nhân, để cố gắng cải tiến trận tụ linh cơ bản của gia tộc - loại trận pháp nền tảng được dùng để hỗ trợ các đệ tử có tư chất trung bình hoặc kém trong việc hấp thụ linh khí, tương tự như mục tiêu mà Trần Phàm từng đặt ra cho chính trận đồ của mình sau chuồng gia súc, dù động cơ ban đầu của ông có thể xuất phát từ trách nhiệm của một trưởng lão đối với toàn bộ thế hệ đệ tử dưới quyền mình, khác với động cơ sinh tồn cá nhân thuần túy của Trần Phàm.
Trong suốt mười hai năm đó, Hàn Tổ Minh đã thực hiện tổng cộng bốn mươi bảy lần thử nghiệm khác nhau, mỗi lần được ghi lại với một mức độ chi tiết đáng nể - ngày bắt đầu, các thông số cụ thể được điều chỉnh, dự đoán ban đầu về kết quả, và kết quả thực tế thu được sau khi thử nghiệm. Trong số bốn mươi bảy lần đó, bốn mươi bốn lần được ông tự đánh giá là thất bại, mỗi lần thất bại theo một cách khác nhau - có lần linh khí hấp thụ không đều, dồn quá nhiều vào một bên kinh mạch gây mất cân bằng; có lần hiệu suất tăng lên nhưng kèm theo đó là một dạng tổn hại tích lũy chậm tới cấu trúc kinh mạch mà chỉ phát hiện được sau một thời gian dài sử dụng; có lần trận đồ vận hành tốt trong điều kiện lý tưởng nhưng sụp đổ hoàn toàn khi gặp bất cứ sự can thiệp nhỏ nào từ môi trường xung quanh.
Ba lần cuối cùng, được Hàn Tổ Minh ghi nhận là "thành công," lại là một dạng thành công rất đặc biệt - thành công có giới hạn, nghĩa là các cải tiến đó thực sự hoạt động, thực sự mang lại hiệu suất cao hơn so với trận tụ linh nguyên bản, nhưng độ ổn định của chúng không đủ để gia tộc chấp nhận đưa vào sử dụng chính thức cho toàn bộ đệ tử. Một trận pháp dùng cho hàng trăm người, theo logic mà Hàn Tổ Minh tự ghi lại trong những đoạn suy ngẫm cuối nhật ký, không thể chấp nhận một tỷ lệ rủi ro dù chỉ là nhỏ, bởi hậu quả của một sai sót dù hiếm gặp vẫn có thể gây tổn hại nghiêm trọng tới một đệ tử cụ thể, và trách nhiệm đó là quá lớn để đánh đổi lấy một mức tăng hiệu suất không đủ vượt trội.
Vì lý do đó, toàn bộ công trình mười hai năm của Hàn Tổ Minh, dù đã đạt được những kết quả thực sự có giá trị về mặt lý thuyết và kỹ thuật, cuối cùng vẫn bị xếp lại, không được đưa vào sử dụng, và theo thời gian, cùng với sự ra đi của tác giả, dần chìm vào quên lãng, bị đưa vào kho lưu trữ cùng với vô số những tài liệu khác không còn ai quan tâm tới.
Càng đọc sâu vào những trang cuối của nhật ký, Trần Phàm càng cảm nhận được một sự kết nối kỳ lạ giữa những gì Hàn Tổ Minh đã trải qua tám mươi năm trước và những gì hắn đã tự mình mò mẫm trong bốn năm gần đây. Ở những thực nghiệm cuối cùng, đặc biệt là thực nghiệm thứ bốn mươi lăm và bốn mươi sáu, Hàn Tổ Minh đã bắt đầu khám phá một hướng đi mà Trần Phàm nhận ra ngay lập tức - ông đã nhìn thấy vấn đề cốt lõi của việc tăng hiệu suất hấp thụ linh khí mà không gây mất ổn định, và đã bắt đầu hướng tới một giải pháp có cấu trúc tương tự như cơ chế hai tầng mà Trần Phàm đã phát triển từ mảnh trận bài cháy dở nhặt được trong rác.
Nhưng Hàn Tổ Minh chưa hoàn thành được điều đó. Qua những ghi chép, Trần Phàm hiểu ra hai lý do chính khiến ông không thể đi tới đích: thứ nhất là sự giới hạn về nguyên liệu linh thạch sẵn có trong thời kỳ đó - những đoạn ghi chép cho thấy ông đã thử nghiệm với một số loại linh thạch khác nhau nhưng đều không đạt được độ tinh khiết hay cấu trúc tinh thể cần thiết để duy trì sự can nhiễu giữa hai tầng một cách ổn định, một vấn đề thuộc về điều kiện vật chất khách quan mà ông không thể tự mình giải quyết chỉ bằng tài năng cá nhân. Thứ hai, và có lẽ quan trọng hơn, là vấn đề thời gian - mười hai năm là một khoảng thời gian dài, nhưng đối với một dự án nghiên cứu có độ phức tạp này, dường như vẫn chưa đủ, và những ghi chép cuối cùng cho thấy sức khỏe của Hàn Tổ Minh đã bắt đầu suy giảm trong những năm cuối, tốc độ thử nghiệm cũng chậm lại đáng kể so với những năm đầu.
Dòng ghi chép cuối cùng trong toàn bộ cuốn nhật ký, được viết bằng nét chữ có vẻ run rẩy hơn so với những trang đầu, dừng lại giữa một câu chưa hoàn thành: "Nếu có thể dùng can nhiễu tầng phụ như một cơ chế chủ động thay vì thụ động..."
Câu đó bỏ dở ở đó, không có gì viết tiếp sau nữa. Không có ngày tháng nào được ghi sau đó. Cuốn nhật ký kết thúc đúng tại điểm đó, để lại một khoảng trống mênh mông mà Trần Phàm, sau một lúc đọc lại câu đó nhiều lần, nhận ra mình có thể lấp đầy.
Trần Phàm ngồi yên một lúc lâu sau khi đọc xong câu cuối cùng đó, mắt nhìn vào khoảng giấy trống còn lại trên trang, nơi lẽ ra Hàn Tổ Minh sẽ viết tiếp nếu ông còn cơ hội, còn thời gian, còn nguyên liệu phù hợp. "Can nhiễu tầng phụ như một cơ chế chủ động thay vì thụ động" - đây chính xác là nguyên lý cốt lõi mà cơ chế hai tầng của Trần Phàm đã xây dựng dựa trên, dù cách diễn đạt của hắn trong những năm tự nghiên cứu không hoàn toàn giống với cách Hàn Tổ Minh dùng từ ngữ, nhưng bản chất của vấn đề là một: làm thế nào để biến một hiện tượng can nhiễu vốn xảy ra một cách thụ động, ngẫu nhiên, không kiểm soát được, thành một cơ chế có thể chủ động điều khiển, sử dụng nó như một công cụ thay vì một trở ngại cần tránh.
Một cảm giác kỳ lạ len lỏi trong lòng Trần Phàm, một cảm giác mà hắn chưa từng trải qua trước đây trong suốt quá trình tự học của mình. Hắn nhận ra rằng mình đã hoàn thành điều mà Hàn Tổ Minh không kịp hoàn thành, không phải vì hắn có tài năng vượt trội hơn vị trưởng lão đã khuất kia - Hàn Tổ Minh, qua những gì được ghi lại trong nhật ký, rõ ràng là một người có kiến thức nền tảng sâu rộng hơn Trần Phàm rất nhiều, đã được đào tạo chính thống từ nhỏ, hiểu biết về lý thuyết trận pháp ở một mức độ mà một tạp dịch tự học như hắn không thể nào sánh được - mà vì hắn đứng trên một nền tảng khác, một nền tảng mà chính Hàn Tổ Minh đã vô tình xây dựng nên thông qua bốn mươi bảy lần thử nghiệm của mình, dù ông không bao giờ biết tới sự tồn tại của Trần Phàm, không bao giờ biết rằng những thất bại của mình, được ghi lại tỉ mỉ trong một cuốn nhật ký bị bỏ quên trong kho, sẽ một ngày trở thành chìa khóa giúp một thiếu niên mồ côi hoàn thành điều ông còn dang dở.
Đây không phải là một dạng tự hào thông thường, không phải cảm giác chiến thắng khi vượt qua một người khác. Nó gần với một sự kính trọng lặng lẽ, pha lẫn một chút gì đó khó định nghĩa hơn - cảm giác của việc nhận ra mình là một mắt xích trong một chuỗi dài hơn nhiều so với những gì hắn từng nghĩ tới, một chuỗi mà những người đi trước, dù thất bại, vẫn đóng góp một phần không thể thiếu cho người đến sau, dù họ không bao giờ biết tới sự tồn tại của người đó, dù khoảng cách giữa họ là tám mươi năm và một bức tường vô hình của địa vị xã hội mà nếu còn sống, Hàn Tổ Minh chắc chắn sẽ không bao giờ có cơ hội gặp một tạp dịch mồ côi như Trần Phàm, càng không nói tới việc truyền lại kiến thức một cách trực tiếp.
Suy nghĩ về điều này, Trần Phàm bắt đầu nhìn lại toàn bộ quá trình tự học của mình từ một góc độ khác, một sự so sánh tự nhiên hình thành trong đầu hắn giữa phương pháp của Hàn Tổ Minh và phương pháp của chính mình. Qua cách nhật ký được viết, cách các thực nghiệm được thiết kế dựa trên những giả thuyết lý thuyết đã được xây dựng từ trước, Trần Phàm nhận ra Hàn Tổ Minh đã tiếp cận vấn đề theo một trình tự cổ điển và chính thống: học lý thuyết trước, hiểu các nguyên lý cơ bản về cách linh khí vận hành, cách kinh mạch hấp thụ và chuyển hóa năng lượng, rồi từ nền tảng lý thuyết đó, suy diễn ra những giả thuyết cụ thể, và cuối cùng mới tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng những giả thuyết đó. Đây là cách mà bất cứ đệ tử chính thức nào của gia tộc Hàn cũng được dạy từ nhỏ, một trình tự hợp lý và có hệ thống.
Trần Phàm, ngược lại, đã đi theo một con đường hoàn toàn trái chiều, không phải vì hắn lựa chọn nó một cách có ý thức từ đầu, mà vì hoàn cảnh của hắn không cho phép bất cứ lựa chọn khác. Không có ai dạy hắn lý thuyết, không có sách vở chính thống nào hắn có thể tiếp cận trong những năm đầu, hắn chỉ có những mảnh trận bài vỡ nhặt được từ rác - những mảnh thực tế, cụ thể, nhưng hoàn toàn thiếu vắng lý thuyết đi kèm. Vì vậy hắn buộc phải bắt đầu từ thực tế, từ việc quan sát trực tiếp những gì đang có trước mắt, thử nghiệm, quan sát kết quả, rồi từ đó mới dần dần xây dựng lên những nguyên lý lý thuyết của riêng mình, một quá trình ngược hẳn so với cách mà bất cứ một hệ thống giáo dục chính thống nào trên thế gian vẫn thường áp dụng.
Không ai bảo hắn làm vậy. Đây không phải là một phương pháp được lựa chọn vì sự ưu việt của nó, mà đơn giản là con đường duy nhất khả thi đối với một người không có lý thuyết nào để bắt đầu học từ đầu. Nhưng nhìn lại, qua việc so sánh trực tiếp với cách tiếp cận của Hàn Tổ Minh được thể hiện trong nhật ký, Trần Phàm nhận ra một điều thú vị: chính việc bắt đầu từ thực tế trước, không bị ràng buộc bởi những khung lý thuyết đã được thiết lập sẵn, đã giúp hắn nhìn thấy được những khả năng mà một người được đào tạo lý thuyết từ đầu có thể dễ dàng bỏ qua, bởi lý thuyết, dù mang lại sự hệ thống và an toàn, đôi khi cũng tạo ra những giới hạn vô hình về việc cái gì "nên" hoạt động và cái gì "không nên" hoạt động theo những nguyên lý đã được công nhận.
Hàn Tổ Minh, dù sở hữu nền tảng lý thuyết vững chắc hơn Trần Phàm rất nhiều, vẫn phải mất mười hai năm và bốn mươi sáu lần thất bại trước khi chạm tới ý tưởng về can nhiễu tầng phụ chủ động, có lẽ một phần vì khung lý thuyết ông được đào tạo từ đầu đã định hình cách ông suy nghĩ về vấn đề theo một hướng nhất định, khiến ông phải đi một con đường dài hơn để thoát ra khỏi những giả định ngầm đã ăn sâu vào tư duy. Trong khi đó, Trần Phàm, không có khung lý thuyết nào để bị ràng buộc, đã tiếp cận vấn đề một cách trực tiếp hơn, đôi khi vô tình hơn, nhưng cũng vì thế mà nhanh hơn trong việc tìm ra giải pháp cụ thể đó, dù phải đánh đổi bằng một nền tảng lý thuyết tổng thể yếu hơn nhiều so với một người được đào tạo chính thống.
Đây không phải là một sự so sánh để kết luận phương pháp nào tốt hơn phương pháp nào một cách tuyệt đối - Trần Phàm hiểu rõ rằng hắn vẫn còn thiếu rất nhiều nền tảng lý thuyết cơ bản mà một đệ tử chính thức được học từ nhỏ, và sự thiếu hụt đó có thể khiến hắn gặp khó khăn ở những vấn đề khác trong tương lai mà chỉ có thể giải quyết bằng lý thuyết vững chắc. Nhưng việc nhận ra rằng cách tiếp cận của mình, dù sinh ra từ sự thiếu thốn, vẫn có những giá trị riêng không thể thay thế, mang lại cho hắn một sự tự tin thầm lặng mới, khác hẳn với sự tự tin dựa trên kết quả cụ thể mà hắn đã có từ trước.
Ngoài câu chuyện về cơ chế hai tầng, Trần Phàm còn chú ý tới một vài thực nghiệm khác trong nhật ký mà Hàn Tổ Minh đã bỏ cuộc giữa chừng, không phải vì thất bại hoàn toàn mà vì ông tự đánh giá "kết quả không đủ khả quan" để tiếp tục đầu tư thời gian. Đọc kỹ những đoạn ghi chép này, Trần Phàm nhận thấy có ít nhất hai hoặc ba thực nghiệm mà lý do bỏ cuộc của Hàn Tổ Minh dường như xuất phát từ việc ông đã thử với một bộ biến số cụ thể, không đạt kết quả mong muốn trong khung thời gian và nguồn lực ông có, nhưng không có nghĩa là toàn bộ hướng đi đó là vô vọng - chỉ là bộ biến số đó chưa phải là tổ hợp tối ưu.
Một trong số đó liên quan tới việc điều chỉnh góc đặt của các điểm tụ phụ trong một cấu trúc trận pháp phân nhánh - Hàn Tổ Minh đã thử với ba góc độ khác nhau, đều không đạt được sự ổn định cần thiết, và kết luận rằng phương án phân nhánh này không khả thi với công nghệ và vật liệu hiện có. Nhưng qua kinh nghiệm của riêng mình với Trận Nhãn linh động, Trần Phàm nhận ra Hàn Tổ Minh có thể đã bỏ lỡ một góc độ trung gian giữa hai trong ba góc ông đã thử, một khoảng giá trị mà theo trực giác hình thành từ chính những thử nghiệm của Trần Phàm với cấu trúc tương tự, có khả năng mang lại kết quả khác hẳn.
Hắn không có giấy bút trong tay lúc này để ghi chép lại những suy nghĩ này một cách chi tiết - mang giấy bút riêng vào kho để viết những thứ không liên quan tới công việc kiểm kê chính thức sẽ là một hành động dễ gây chú ý và khó giải thích nếu bị phát hiện. Nhưng Trần Phàm không cần tới giấy bút cho việc này. Nhiều năm luyện tập ghi nhớ trong bóng tối, khi hắn không có ánh sáng đủ để viết lại những gì học được mỗi đêm sau khi tu luyện, đã rèn cho hắn một khả năng ghi nhớ vượt xa mức bình thường đối với những thông tin có cấu trúc logic rõ ràng - hắn chỉ cần đọc kỹ một lần, hiểu rõ logic của vấn đề, và thông tin đó sẽ tự động được lưu lại trong đầu theo một cách mà hắn có thể gọi ra bất cứ lúc nào cần tới, không khác gì cách hắn vẫn nhớ chính xác từng đường Linh Tuyến trên mọi mảnh trận bài đã từng nghiên cứu qua suốt bốn năm.
Hắn dành thêm một khoảng thời gian, đọc lại từng thực nghiệm bị bỏ dở đó một lần nữa, ghi nhớ chính xác các thông số đã được Hàn Tổ Minh thử nghiệm, để có thể đối chiếu và tìm ra những khoảng trống chưa được khám phá khi có thời gian suy nghĩ kỹ hơn vào ban đêm, tại trận đồ sau chuồng gia súc, nơi hắn có thể thử nghiệm trực tiếp những ý tưởng này mà không bị bất cứ ai nhìn thấy hay nghi ngờ.
Khi ánh sáng buổi chiều bắt đầu nhạt dần qua khung cửa, báo hiệu thời gian đã trôi qua lâu hơn dự định, Trần Phàm gấp cuộn nhật ký lại cẩn thận, theo đúng cách nó đã được gấp khi hắn tìm thấy, buộc lại dây gai đã mục một cách nhẹ nhàng nhất có thể, rồi đặt nó trở lại đúng vị trí trên ngăn kệ, giữa những tài liệu khác mà không ai khác trong toàn bộ trang viên còn nhớ tới sự tồn tại.
Trước khi rời tay khỏi cuộn giấy, hắn nhìn lại một lần cuối vào dòng chữ ghi tên tác giả ở góc bìa ngoài - Hàn Tổ Minh - và bên dưới đó, một con số nhỏ được ghi chú bởi chính tay người viết ở những trang cuối: thực nghiệm thứ bốn mươi bảy, chưa hoàn thành.
Trần Phàm không biết Hàn Tổ Minh trông như thế nào, không có bất cứ hình ảnh hay miêu tả nào về ngoại hình của ông trong toàn bộ cuốn nhật ký. Hắn cũng không biết ông đã sống những năm cuối đời như thế nào, đã rời khỏi thế gian này trong hoàn cảnh nào - bình yên hay đau đớn, được vây quanh bởi người thân hay cô độc như chính hắn vẫn thường cảm thấy trong những đêm dài tu luyện sau chuồng gia súc. Hắn cũng không thể biết liệu Hàn Tổ Minh, trong những năm tháng cuối cùng khi sức khỏe suy giảm và thực nghiệm phải dừng lại giữa đường, có từng cảm thấy hối hận về mười hai năm đã dành cho một công trình cuối cùng bị xếp vào kho, không bao giờ được công nhận, không bao giờ được tiếp tục.
Nhưng dù không biết được những điều đó, Trần Phàm hiểu một điều chắc chắn: những ghi chép này, dù đã nằm im trong bóng tối của khu kho cũ suốt tám mươi năm, không hề chết đi cùng với tác giả của chúng. Chúng đang tiếp tục sống, theo một cách mà có lẽ Hàn Tổ Minh chưa từng dám hy vọng tới khi đặt bút viết những dòng cuối cùng dang dở của mình - sống trong trí nhớ của một đứa tạp dịch không ai biết tên, không có địa vị, không có tương lai rõ ràng nào được đảm bảo, nhưng đang âm thầm tiếp nối những gì ông đã bắt đầu, dù khoảng cách giữa hai người là tám mươi năm thời gian và một sự chênh lệch địa vị xã hội mà nếu còn sống, hẳn Hàn Tổ Minh cũng khó có thể tưởng tượng ra.
Trần Phàm đứng dậy, nhìn quanh khu kho một lần nữa trước khi tiếp tục công việc kiểm kê còn lại của buổi chiều hôm đó, mang theo trong đầu không chỉ là những thông tin kỹ thuật cụ thể về can nhiễu tầng phụ và các thực nghiệm bị bỏ dở, mà còn một cảm giác mới, lặng lẽ nhưng kiên định - cảm giác rằng hắn không hoàn toàn cô độc trong con đường mình đang đi, dù không có ai bên cạnh hắn lúc này, vẫn có những người đã đi trước, đã thất bại, đã ghi lại những thất bại đó một cách trung thực, để rồi, theo một cách không ai lường trước được, trở thành ánh sáng dẫn đường cho một người mà họ chưa từng biết tới sự tồn tại.