CHƯƠNG 110: TỰ ĐỘNG HÓA GIAI ĐOẠN TỤ ĐAN
Trần Phàm không vội chuyển sang lần thử tiếp theo ngay sau khi phân tích xong viên phế phẩm thứ hai. Hắn dành thêm hai ngày nữa để suy nghĩ thấu đáo về bài toán mới vừa hiện ra: làm sao để giai đoạn tụ đan cuối cùng có thể tự vận hành mà không cần Nhãn Giới giám sát liên tục suốt cả quá trình.
Nhìn từ góc độ trận pháp, bản chất của bài toán này không khác gì việc thiết kế một "điểm tụ có điều kiện" - một cấu trúc chỉ tự kích hoạt khi môi trường xung quanh nó đạt tới một trạng thái cụ thể nào đó, thay vì phải chờ một tác nhân bên ngoài can thiệp trực tiếp mỗi lần cần vận hành.
Ý tưởng đó, khi ngồi lật lại trong đầu, không hoàn toàn xa lạ với Trần Phàm. Hắn đã từng làm điều tương tự, dù ở một quy mô nhỏ hơn nhiều và trong một bối cảnh hoàn toàn khác, ngay từ những ngày đầu tự học tại Hàn Thị Trang, khi mày mò thiết kế một điểm tụ linh khí đơn giản trong chính kinh mạch của mình - một cấu trúc chỉ hấp thụ linh khí khi đường dẫn xung quanh đã đủ ổn định, tránh việc hấp thụ hỗn loạn gây rối loạn dòng chảy chung. Khi đó, hắn chỉ nghĩ đơn giản đó là một cách tự bảo vệ bản thân khỏi những sai sót của chính mình trong lúc còn vụng về. Giờ đây, nhìn lại, đó chính là cùng một nguyên lý cốt lõi - chỉ khác là lần này, thay vì áp dụng vào bên trong cơ thể, hắn cần áp dụng nó vào một không gian vật lý bên ngoài, bên trong lòng một chiếc lò luyện đan bằng đá và đất sét.
Ngày tiếp theo, Trần Phàm bắt tay vào khắc thêm một lớp Linh Tuyến mới vào trung tâm lò luyện đan, mất gần trọn một ngày để hoàn thành.
Không phải thay thế mạng lưới phân vùng nhiệt độ đã dựng lên từ lần thử thứ hai, mà bổ sung thêm lên trên đó, tạo thành một hệ thống hai tầng đúng nghĩa, chồng lớp lên nhau. Tầng dưới, giữ nguyên như cũ, là mạng lưới phân vùng kiểm soát nhiệt độ, vẫn cần Nhãn Giới điều khiển trực tiếp từ bên ngoài theo từng vùng nhỏ. Tầng trên, hoàn toàn mới, là điểm tụ có điều kiện - một cấu trúc tự động theo dõi trạng thái tổng thể của dược tính bên trong lò, và chỉ tự kích hoạt giai đoạn tụ đan khi trạng thái đó đạt tới một ngưỡng nhất định đã được xác định từ trước.
Việc xác định ngưỡng kích hoạt đó đòi hỏi Trần Phàm phải nhớ lại thật chính xác những gì Nhãn Giới từng cho hắn thấy ở hai lần thử trước - đặc biệt là ở lần thử thứ hai, khi quá trình hòa quyện dược tính đã diễn ra tương đối trơn tru trước khi cơn đau sau mắt khiến hắn mất kiểm soát đúng vào giai đoạn cuối. Trạng thái dược tính ngay trước thời điểm đó, hắn tin, chính là điểm lý tưởng để bắt đầu quá trình tụ đan.
Đây là lần đầu tiên trong suốt quá trình luyện đan này, kiến thức lý thuyết từ Trận Đạo Sơ Giải và kinh nghiệm quan sát thực tế qua Nhãn Giới được kết hợp chặt chẽ với nhau tới mức không thể tách rời - thiếu một trong hai, cấu trúc mới này sẽ không thể tồn tại theo đúng hình dạng cần thiết.
Lần thử thứ ba bắt đầu vào một buổi sáng trời trong, gió nhẹ thổi qua thung lũng mang theo hơi lạnh còn sót lại từ đêm trước.
Ngay từ đầu, Trần Phàm đã cảm nhận rõ sự khác biệt so với hai lần thử trước. Với hệ thống hai tầng mới, gánh nặng lên Nhãn Giới của hắn giảm đi đáng kể - thay vì phải cố gắng theo dõi toàn bộ quá trình một cách liên tục không ngừng nghỉ, giờ đây hắn chỉ cần tập trung vào tầng dưới, mạng lưới phân vùng nhiệt độ, trong khi tầng trên sẽ tự động xử lý việc nhận biết và kích hoạt giai đoạn tụ đan khi thời điểm đến.
Điều đó cho phép hắn luân phiên sự tập trung, dồn Nhãn Giới vào từng phần của mạng lưới trong những khoảng thời gian ngắn hơn, xen kẽ những quãng nghỉ rất ngắn để giảm bớt áp lực dồn lên đôi mắt, tránh cơn đau tích tụ quá sớm như đã xảy ra ở lần thử thứ hai.
Tiến trình luyện đan diễn ra ổn định hơn hẳn hai lần trước đó cộng lại. Dược tính của các thành phần hòa quyện đều đặn, không hề xuất hiện điểm quá nhiệt cục bộ mất kiểm soát như thảm họa của lần đầu tiên. Và quan trọng nhất, khi tiến gần tới giai đoạn cuối cùng - giai đoạn từng khiến hắn thất bại ở lần thử trước vì cơn đau sau mắt - Trần Phàm vẫn duy trì được sự tỉnh táo và độ chính xác cần thiết, không có dấu hiệu suy giảm đáng lo ngại nào.
Nhưng khi dược tính đạt tới ngưỡng mà Trần Phàm đã xác định trước, và điểm tụ có điều kiện ở tầng trên bắt đầu tự động kích hoạt, một điều mà hắn hoàn toàn không lường trước được từ lý thuyết bất chợt xảy ra.
Ngưỡng kích hoạt hắn đã tính toán dựa trên quan sát từ hai lần thử trước, hóa ra, không hoàn toàn chính xác như hắn tưởng. Mỗi mẻ nguyên liệu, dù được sơ chế theo đúng cùng một quy trình tỉ mỉ, vẫn tồn tại những khác biệt rất nhỏ trong trạng thái dược tính ban đầu, tùy thuộc vào điều kiện bảo quản, độ tươi của từng cành linh thảo cụ thể, hay thậm chí cả độ ẩm không khí trong ngày hôm đó. Điều này có nghĩa là ngưỡng kích hoạt tối ưu, trên thực tế, sẽ dao động nhẹ từ mẻ này sang mẻ khác, không thể cố định vĩnh viễn một lần cho tất cả các lần luyện chế sau này như hắn đã ngây thơ giả định.
Điểm tụ có điều kiện, dựa theo ngưỡng cố định đã được khắc sẵn, kích hoạt sớm hơn thời điểm lý tưởng thực tế khoảng mười lăm nhịp thở - một sai lệch nhỏ, nhưng đủ để tạo ra hậu quả rõ rệt. Viên đan hình thành sau đó có hình dạng gần như hoàn chỉnh, tròn trịa hơn hẳn hai lần thử trước, nhưng khi Trần Phàm dùng Nhãn Giới kiểm tra kỹ mật độ dược tính bên trong, hắn phát hiện nó không đồng đều - có những vùng đậm đặc, có những vùng loãng hơn hẳn, một cấu trúc không ổn định dù nhìn bề ngoài đã tiến bộ rất nhiều so với hai lần thất bại trước.
Vẫn là một phế phẩm. Nhưng là một phế phẩm tiến bộ rõ rệt.
Trần Phàm cầm viên phế phẩm thứ ba lên, xoay dưới ánh nắng chiều, kích hoạt Nhãn Giới quan sát kỹ hơn bất cứ lần nào trước đó.
Lần này, hắn nhìn thấy một điều mà hai lần thất bại trước, vì kết thúc quá sớm hoặc quá đột ngột, chưa từng cho phép hắn quan sát rõ ràng: bên trong viên phế phẩm, có những vùng nhỏ, rải rác, nơi dược tính đã thực sự tụ lại đúng cách, hình thành nên một cấu trúc đan hoàn chỉnh ở mức độ vi mô, dù chưa lan tỏa đều khắp toàn bộ viên đan.
Điều đó cho hắn thấy rõ ràng một sự thật quan trọng: thứ còn thiếu không phải là kỹ thuật bố trận, cũng không phải là khả năng điều khiển nhiệt độ - cả hai điều đó, qua ba lần thử liên tiếp, đã được chứng minh là khả thi và ngày càng hoàn thiện hơn. Thứ còn thiếu là một cơ chế "hiệu chỉnh thời gian thực" cho chính ngưỡng kích hoạt của điểm tụ - một khả năng tự điều chỉnh linh hoạt dựa trên trạng thái thực tế của từng mẻ nguyên liệu cụ thể, thay vì bám cứng vào một giá trị cố định đã được khắc sẵn từ trước, bất kể mẻ nguyên liệu đó có gì khác biệt so với những gì hắn đã quan sát trước đây.
Nói cách khác, Trần Phàm cần kết hợp cả hai kỹ thuật lại với nhau một cách chặt chẽ hơn nữa: Nhãn Giới tiếp tục theo dõi trạng thái dược tính thực tế đang diễn ra, nhưng thay vì chỉ dùng để trực tiếp điều chỉnh nhiệt độ như tầng dưới vẫn đang làm, nó còn cần được dùng để tinh chỉnh chính ngưỡng kích hoạt của điểm tụ ở tầng trên, theo thời gian thực, ngay trong lúc quá trình đang diễn ra - trong khi bản thân điểm tụ đó vẫn tự động xử lý toàn bộ giai đoạn tụ đan phức tạp khi nhận được đúng tín hiệu đã được hiệu chỉnh.
Trần Phàm đặt viên phế phẩm thứ ba xuống bên cạnh hai viên phế phẩm trước đó - một khối đen vô dụng, một hình dạng méo mó, và giờ là một hình dạng gần hoàn chỉnh nhưng mật độ không đều - nhìn vào chiếc lò luyện đan đang dần nguội đi trong ánh chiều tà nhuộm vàng cả thung lũng.
Ba lần thử, ba bài học hoàn toàn khác nhau, nối tiếp nhau theo một trình tự logic rõ ràng mà giờ đây, nhìn lại, hắn có thể thấy được toàn bộ đường đi của mình một cách mạch lạc. Và lần này, bài học quan trọng nhất mà hắn rút ra không còn nằm ở một chi tiết kỹ thuật cụ thể nào nữa, mà là một nhận thức bao quát hơn về bản chất thực sự của cả quá trình đang theo đuổi: đây không phải một bài toán trận pháp đơn thuần, cũng không phải một bài toán dược lý đơn thuần, mà là bài toán của việc kết hợp cả hai lại với nhau theo một cách không thể tách rời - trận pháp cung cấp cấu trúc và cơ chế vận hành tự động, còn Nhãn Giới cung cấp thông tin thời gian thực cùng khả năng điều chỉnh linh hoạt cần thiết. Thiếu đi một trong hai yếu tố đó, toàn bộ quá trình sẽ không bao giờ có thể hoàn chỉnh.
Trần Phàm chợt nhớ tới một câu trong Trận Đạo Sơ Giải, nằm ở một đoạn hắn từng đọc lướt qua nhiều năm trước mà không thực sự thấm hết ý nghĩa: người học trận pháp mà không hiểu kinh mạch của chính mình thì giống như người vẽ bản đồ cho cả thiên hạ mà chưa từng một lần bước ra khỏi cánh cửa nhà mình. Khi đó, câu nói ấy chỉ mang một ý nghĩa hẹp, nói về mối liên hệ giữa trận pháp và cơ thể người tu luyện. Giờ đây, ngồi giữa một thung lũng hoang vắng với ba viên phế phẩm bày trước mặt, hắn nhận ra ý nghĩa của câu nói đó có thể mở rộng ra theo một cách sâu sắc hơn nhiều: hiểu trận pháp mà không hiểu dược tính, sẽ thất bại. Hiểu dược tính mà không có trận pháp hỗ trợ, cũng sẽ thất bại không kém. Chỉ khi cả hai được thấu hiểu và kết hợp đúng cách, cái đích cuối cùng mới có thể chạm tới.
Hắn kiểm lại số cành Tĩnh Diện Hoa còn sót lại trong hộp gỗ nhỏ. Chỉ còn đúng một lần thử nữa.
Lần này, hắn cần làm đúng.