🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.20: Mảnh nhớ không khớp

~13 phút đọc · 2446 từ · · ⚠️ Báo cáo

Sáng hôm sau, Thanh đặt ba chiếc chiếu ở ba gian nhà khác nhau.
Bà Rạ đan phên ngồi ở gian phía đông. Ông Lẫm chèo bè được mời sang kho cũ. Người đào giếng tên Độ ở lại dưới mái bếp. Không ai nhìn thấy phiến đá. Không ai nghe lời người còn lại.
Tánh ngồi ngoài sân, ôm đầu gối nhìn Thanh đi qua đi lại.
“Hỏi chung nhanh hơn.”
“Nhanh hơn để ba người sửa ký ức theo nhau.”
“Họ có nói dối đâu.”
“Không cần nói dối. Chỉ cần nghe một câu đủ nhiều lần, đến lúc nhớ lại, người ta có thể tưởng câu ấy vốn nằm trong đầu mình.”
Tánh ngẫm nghĩ rồi chỉ vào gian phía đông. “Bà Rạ nói trước, vậy lời bà ấy thật nhất à?”
“Không. Chỉ là lời được nói trước.”
Hùng đứng bên phiến đá, dùng vải thấm từng giọt nước còn đọng trong nét khắc. Chàng không tham gia hỏi. Thanh đã yêu cầu như vậy sau cuộc tranh luận lúc trời vừa sáng.
“Công Tự muốn nghe cùng lúc,” nàng nói. “Nhưng lúc ấy người có tiếng mạnh nhất sẽ kéo ký ức của hai người kia đi theo.”
“Nếu họ nhớ cùng một nơi thì sao?”
“Ta sẽ biết sau khi nghe riêng.”
Hùng không thích phải chờ. Nhưng chàng đồng ý.
Người đầu tiên bước ra là bà Rạ. Bà kể hai vòng tròn trên đá giống hai bến nước của một làng từng nằm thấp hơn khu chợ. Khi bà còn là Ấu, Cơ thường dẫn xuống nhặt củi ở đó. Một trận lũ đã vùi cả hai bến.
Thanh hỏi: “Bà từng thấy bến hay nghe Cơ kể?”
Bà Rạ đáp ngay: “Tận mắt thấy.”
“Bến ở hướng nào?”
Bà chỉ về phía thượng nguồn.
“Có bao nhiêu bậc xuống nước?”
“Bảy.”
“Bậc làm bằng gì?”
“Đá xanh.”
Thanh hỏi lại từ đầu theo thứ tự khác. Lần thứ hai, bà nói bến ở hạ nguồn, có chín bậc gỗ. Đến khi nhận ra lời mình đổi, bà nổi giận.
“Ta già chứ không mù! Ta đã xuống đó.”
“Tôi tin bà nhớ một nơi,” Thanh nói. “Tôi chỉ chưa biết nơi ấy có phải nơi trên phiến đá không.”
Ông Lẫm kể hai vòng tròn là hai kho lương. Quân ông từng chở gạo tới một kho mùa nước nổi. Những đường nối trên đá là lối kéo bè bằng dây.
“Ông đã vào kho?”
“Chưa. Ta đứng ngoài thuyền.”
“Ông nhìn thấy hai kho?”
“Chỉ một. Quân bảo còn kho kia sau doi đất.”
“Quân ông nhìn thấy cả hai?”
Ông Lẫm im lặng hồi lâu. “Có thể Quân cũng nghe người khác kể.”
Người cuối cùng là Độ. Ông không nhớ bến hay kho. Ông nhớ khi đào giếng phía bắc chợ từng gặp hai ống gỗ mục nằm song song dưới đất. Nước từ ống nhỏ thấm sang một hố tròn lót sỏi.
“Ông nghĩ hai vòng là giếng?” Hùng hỏi.
Thanh nhìn chàng. Hùng biết mình vừa đặt sẵn câu trả lời, liền sửa:
“Ông gọi thứ mình thấy là gì?”
“Hố lắng. Nước qua sỏi mới trong.”
“Hai hố?”
“Ta chỉ đào gặp một.”
“Vì sao hôm qua ông nói có hai?”
Độ gãi đầu. “Vì trên đá có hai vòng.”
Ba lời kể không khớp. Nhưng mỗi lời đều có một phần không thể gạt bỏ: một bến đã mất, một chuyến gạo mùa lũ, một đường ống gỗ dưới đất. Chúng có thể cùng thuộc một công trình. Cũng có thể thuộc ba nơi khác nhau, bị hình khắc kéo lại gần nhau chỉ sau một đêm.
Một người đàn ông xưng Đức Gãy đã chờ ở gian nhà cuối dãy từ sáng. Ông không dự buổi hỏi ba người, cũng chưa nghe ai bàn hai vòng tròn là bến, kho hay giếng. Đến khi mọi người đã kể xong, ông mới xin được nhìn phiến đá.
Thanh đưa ông tới trước mặt khắc, chỉ mở lớp vải bọc mà không giải thích các hình. Đức Gãy nhìn một đoạn đường gãy, bàn tay đang đặt bên mép vải bỗng run lên.
“Một lối gỗ ướt,” ông nói rất khẽ. “Có người mang thứ gì đó đi qua. Nước dưới chân họ bỗng đổi chiều.”
Hùng bước lại gần. “Lối ấy ở đâu?”
Đức Gãy nhắm mắt. Hồi lâu, ông lắc đầu. “Ta không thấy rõ mặt họ. Cũng không biết cảnh ấy là chuyện ta từng thấy hay một giấc mơ.”
Hùng nhìn đường khắc gãy trên đá. Nó có thể là lối ông vừa kể, cũng có thể chỉ khiến ông tưởng mình nhớ ra một lối. Chàng muốn hỏi thêm, nhưng Thanh đã đặt một thẻ tre riêng trước mặt Đức Gãy.
“Ta sẽ ghi đúng những gì ông nhớ, cả điều ông không chắc,” nàng nói. “Chúng ta chưa gọi đó là lời giải của phiến đá.”
Đức Gãy ra hiên, đứng dưới mái nhìn nước chảy mà không tìm thêm được hình ảnh nào.
Tánh chống cằm.
“Hỏi xong lại biết ít hơn.”
“Không,” Thanh đáp. “Ta biết chỗ nào chưa được phép nối.”
Hùng trải bản chép sau lưng trống cạnh bản chép phiến đá.
Dấu nhọn trên trống từng quay về đông nam. Dấu gần giống nó trên cột chợ lại quay ngược. Trên phiến đá mới cứu, một nét gãy cũng có đầu nhọn, nhưng bị mất gần nửa.
“Ba dấu cùng một gốc,” Hùng nói. “Nếu dấu là hướng, chúng có thể chỉ ba nhánh đường từ một trung tâm.”
Thanh đặt hai bản chép xoay ngược nhau. Khi đổi chiều, ba dấu trông gần như trùng khít.
“Hoặc người khắc đứng ở ba phía khác nhau.”
“Dấu trên trống nằm trong chuỗi Người – Luật – Nhớ.”
“Có thể.”
“Dấu ngoài chợ đứng trên cột chỉ lối.”
“Cũng có thể chỉ lối đi trong phiên, không chỉ một vùng đất.”
Hùng nén một hơi. “Nếu cả ba dấu và cảnh Đức Gãy nhớ đều bị đặt vào chỗ chưa biết, chúng ta sẽ không bao giờ có đường.”
“Nếu chọn nghĩa thuận nhất với điều mình mong, chúng ta có thể có một con đường rất đẹp và hoàn toàn sai.”
“Ta không muốn một con đường đẹp.”
“Công Tự muốn chuyến đi này có kết quả.”
Câu ấy khiến Hùng im bặt.
Chiếc bè hàng đã mất. Hựu còn nằm với chân nẹp. Đoàn thiếu gạo, thuốc và dụng cụ. Nếu phiến đá chỉ cho một nơi rõ ràng, mọi cái giá dường như còn có thể cân được. Nếu nó chỉ thêm câu hỏi, chàng phải thừa nhận mình đã đưa người vào hang để cứu một vật chưa biết nói gì.
Thanh ngồi xuống đối diện.
“Qua cũng muốn tin,” nàng nói nhỏ. “Vì vậy qua mới không dám tin nhanh.”
Hùng nhìn đôi tay nàng. Những vết xước từ cửa hang vẫn đỏ quanh đốt ngón.
“Bậu cho rằng nên ghi thế nào?”
Thanh lấy ba bó thẻ.
“Bó dây đen: điều tận mắt thấy. Cơ cấu gỗ và đồng phát ba tiếng khi nước dâng. Phiến đá có đường uốn, hai vòng tròn và bảy dấu Khoa Đẩu rời.”
Nàng đặt bó thứ hai xuống.
“Bó dây vàng: lời người khác kể, ghi riêng từng nguồn, chỗ lời thay đổi và cảnh Đức Gãy không chắc mình từng thấy hay nằm mơ.”
Bó cuối không buộc dây.
“Câu hỏi và giả thuyết. Có thể đây là bản ghi một hệ thống bến, kho hoặc dẫn nước. Có thể các dấu nhọn là hướng, cũng có thể không. Cảnh Đức Gãy kể có thể liên quan phiến đá, cũng có thể chỉ do hình khắc gợi ra.”
Hùng cầm một sợi dây, tự buộc bó cuối lại bằng nút lỏng.
“Buộc thế này. Đủ để không rơi, nhưng tháo được khi có chứng mới.”
Thanh nhìn nút dây rồi mỉm cười. “Được.”
Buổi trưa, nước rút khỏi chân chợ để lộ một đoạn bờ bị khoét sâu.
Dân chợ chặt những cành thân mềm, cắm xiên thành hai hàng rồi đan cỏ vào giữa. Tánh nhảy xuống phụ. Nó đóng cây đầu tiên thẳng đứng và nện sâu đến mức bùn bắn lên mặt bà Rạ.
Bà quệt bùn, quát:
“Mày định giữ bờ hay dựng cột tế trời?”
Tánh khựng lại.
“Cắm thẳng mới chắc.”
“Nước thúc ngang, cọc thẳng bật cả gốc. Đặt nghiêng theo dòng.”
Bà kéo cây thứ hai cúi xuống, đan nó với cây đầu. Một người không thể bẻ cành, nhưng cành vẫn chịu uốn theo tay.
“Nó mềm quá,” Tánh nói.
“Mềm mới sống. Cắm xuống bùn, nó ra rễ. Rễ ôm đất, mùa sau bờ tự chắc.”
Tánh làm lại. Lần này nó không dồn hết sức. Nó giữ cành theo góc bà chỉ, nện từng nhát vừa đủ. Cây lún xuống mà vỏ không dập.
Vịnh gọi Hùng và Thanh tới một hố nước cạnh đó. Dưới lớp đất lở có hàng cọc cũ đã hóa đen, cũng đan xiên như hàng cọc mới. Rễ chết ôm quanh đất thành một tấm lưới. Một đầu cọc còn vòng đồng xanh giống vòng trên cơ cấu trong hang.
Hùng cúi sát.
“Cùng người làm?”
“Chưa chắc,” Vịnh đáp. “Vòng đồng giống nhau, cách buộc cũng gần. Nhưng một vật có thể được người đời sau bắt chước.”
Thanh ghi riêng vị trí, độ sâu và cách đan. Nàng không đặt hàng cọc vào câu chuyện bến, kho hay giếng.
Tánh nhìn những rễ đen.
“Người làm bờ này mất rồi mà bờ vẫn còn.”
“Không còn nguyên,” Vịnh nói. “Nhưng phần rễ đã giữ đủ đất để người sau cắm hàng mới.”
Hùng nhìn những cành non cúi theo dòng nước, rễ chúng vướng vào hàng cọc cũ. Chàng không nói thêm về ba lời kể. Thanh cũng không ghép chúng lại.
Chàng nhìn Thanh.
“Ghi hàng cọc vào bó điều đã thấy. Mối liên hệ với hang để ở bó giả thuyết.”
“Ta đang làm vậy.”
“Còn dấu chỉ Đan Châu?”
“Chưa gọi nó là dấu chỉ nữa. Chỉ ghi hai hình tương tự quay khác hướng.”
Hùng gật đầu. “Vậy chúng ta sang Đan Châu vì lộ trình đã định, không phải vì một mũi nhọn chưa hiểu.”
Họ ở lại thêm hai ngày.
Không có lời giải nào xuất hiện.
Cửa hang bị vùi dưới sườn đất mới. Phiến đá rời được bọc vải và đặt trong hòm gỗ do dân chợ đóng. Thanh sao lại các nét khắc thành ba bộ: một bộ đoàn mang theo, một bộ để giao Hựu giữ tại châu này, bộ cuối cất ở kho cao phòng khi một nơi gặp nạn.
Quan Thức đọc bản ghi rất lâu.
“Công Thị không chọn lời nào đúng.”
“Vì chưa có lời nào đứng được một mình.”
“Vậy bản khắc có ích gì?”
“Nó cho biết phải tìm gì để kiểm chứng: dấu dẫn nước, nơi tụ người, cách báo lũ và những dấu chữ cùng kiểu.”
Hùng nói thêm:
“Nó cũng dạy chúng tôi không được dùng manh mối của châu này để ép châu sau xác nhận.”
Quan Thức đóng ấn đất nung vào cuối bản.
“Ta làm chứng cho vật được tìm thấy ở đây. Không làm chứng cho điều chưa ai biết.”
Sáng hôm sau, đoàn chuẩn bị lên đường.
Hựu phải ở lại. Khi nghe Bách nói cần ít nhất một tháng, người lính giận đến mức đòi tự bước qua sân. Bách ấn một ngón tay đúng chỗ xương đang liền. Hựu tái mặt, nằm im.
“Đi được thì đừng rên,” Bách nói.
“Ông chơi ác.”
“Ta chữa người cứng đầu bằng cách nhanh nhất.”
Hùng giao Hựu giữ bộ bản chép ở châu này.
Hựu nhìn ba bó thẻ, mặt sa sầm. “Công Tự tưởng đưa việc cho là tôi quên mọi người bỏ tôi lại à?”
“Không.”
“Vậy còn đưa?”
“Vì ta cần người đủ cứng đầu để không cho ai sửa chúng.”
Hựu định gắt, nhưng câu chửi mắc lại ở cổ. Hắn vuốt mép bó thẻ, nói nhỏ hơn: “Nếu các người về muộn, tôi mang thẻ đi tìm.”
Bách đang buộc nẹp mới cho hắn, siết mạnh nút dây.
“Ngươi bước nổi ra khỏi sân trước đã.”
Hựu đau đến méo mặt. “Ông không thể nhẹ tay một lần sao?”
“Có. Với người biết nằm yên.”
Công việc ấy không làm Hựu vui hẳn, nhưng đủ để hắn thôi coi mình là kẻ bị bỏ lại.
Dân chợ góp từng thứ nhỏ: gạo rang, dây, hai tấm áo dầu đã vá, một nồi đất và ít thuốc lá. Bà Rạ đưa Tánh bó cành non đã róc lá.
“Mang làm gì?” nó hỏi.
“Đan giỏ, làm nẹp, buộc mái. Tới nơi đất lở thì cắm xuống. Sống được, nó giữ đất cho người sau.”
Sậy chạy tới sau cùng, đưa Tánh một túi hạt giống đã hong khô.
“Không phải để ăn,” nó nói. “Để gieo. Can đi nhiều nơi thì thử xem nó mọc ở đâu.”
Tánh nhận túi hạt rồi tháo đoạn dây nhỏ ở cổ tay đưa lại. Đó là một mẩu cắt từ sợi dây đã kéo họ ra khỏi hang.
“Dây này từng kéo người khỏi nước.”
Sậy nhìn đoạn dây ngắn. “Kéo được ai?”
“Buộc thêm dây khác.”
Hai đứa huých vai nhau thay lời từ biệt.
Đoàn rời Cương Châu khi nắng chiếu xuống con đường còn sũng nước.
Hùng đi đầu cùng Nham. Vịnh dắt ngựa chở phiến đá. Bách mang số thuốc ít ỏi. Thanh đi sau, ba bó thẻ đặt trong túi kín. Tánh khoác bó cành mềm ngang lưng, túi hạt của Sậy buộc trước ngực.
Đến ngã rẽ, Hùng ngoái lại. Hai hàng cành mới đang cúi theo dòng nước dưới chân chợ. Chúng chưa đủ rễ để giữ cả bờ, nhưng đã giữ được những nắm đất đầu tiên.
Trong hành trang của đoàn cũng không có lời giải.
Chỉ có một phiến đá rời, ba lời kể, một mảnh nhớ chưa rõ thật giả và những câu hỏi được buộc bằng nút dây còn có thể tháo ra.
Ba ngày sau, mùi khét theo gió tìm đến họ trước cả cột mốc của Đan Châu.
Qua một dải đồi thấp, cánh đồng hiện ra, đen từ bờ này sang bờ kia. Tro lúa bay lên dưới chân ngựa. Giữa ruộng cháy, dân làng đang bình thản vãi hạt xuống lớp đất còn ấm, trong khi một toán lính ở đầu bờ đã rút giáo chặn đường.

💬 Bình luận (0)