🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.21: Ruộng cháy sau mùa gieo

~27 phút đọc · 5272 từ · · ⚠️ Báo cáo

Mũi giáo chặn ngang lối, sáng lạnh trên nền tro đen.
Người lính đứng đầu toán quân còn trẻ, nhưng vết sẹo chạy từ thái dương xuống tận quai hàm khiến gương mặt anh ta lúc nào cũng như đang nghiến răng. Bàn tay giữ giáo của anh ta đã ướt mồ hôi, vậy mà các ngón vẫn siết trắng bệch. Anh ta nhìn thẻ công vụ bên hông Hùng, lại nhìn chiếc hòm gỗ bọc kín treo dưới cây đòn giữa Du và Khuyết; ánh mắt dừng ở đó lâu hơn một nhịp, như vừa mong người mới tới có thể gỡ rối, vừa sợ họ sẽ làm mọi việc rối thêm.
“Người của Kinh?”
“Khảo Tri Sứ Hùng.” Hùng không chạm tay vào thẻ. “Đây là Điển Tri Sứ Thanh. Đoàn có lệnh đi qua các Châu để dò dấu cũ và cách giữ cái biết.”
Người lính không hạ giáo.
“Lệnh của trạm không cho Khảo Tri Sứ bước qua nơi đang xét việc.”
Phía sau anh ta, tám người lính đã tản thành hình cánh cung. Họ không chĩa mũi giáo vào đoàn, nhưng cũng không chừa một khoảng nào đủ cho cây đòn khiêng đi lọt. Bên kia bờ đất, dân làng vẫn vãi hạt. Những nắm giống tung lên, rơi lộp độp xuống lớp tro còn âm ấm. Có người vãi quá mạnh, hạt bật khỏi mặt tro rồi lăn tới sát hàng giáo; một người đàn bà nhìn theo, môi mím chặt nhưng không dám bước tới nhặt. Trên ba doi đất cao, rơm ẩm cháy thành ba cột khói đen, đứng xa cũng nhìn thấy. Không ai chạy. Không ai quỳ. Sự bình thản ấy không phải không biết sợ; nó giống vẻ im lặng của những người đã sợ quá lâu, đến lúc chẳng còn gì để lùi. Chính sự im lặng ấy làm hàng giáo càng thêm căng.
Tánh ghé sát Thanh.
“Họ gieo thật đấy.”
“Kỷ thấy.”
“Tro nóng thế kia, hạt chết hết.”
Một bà già giữa ruộng nghe được, ngẩng lên nói vọng:
“Chết hay sống phải hỏi đất, đừng hỏi mắt.”
Tánh định đáp, Vịnh đã đặt bàn tay lên vai nó. Nó ngậm miệng, nhưng vẫn nhìn bà già không chớp. Câu nói của bà khiến nó khó chịu, có lẽ vì nghe giống một lời coi thường, cũng có lẽ vì trong đôi mắt già nua kia không có chút sợ hãi nào dành cho nó.
Hùng hỏi người lính:
“Đang xét việc gì?”
“Phá ruộng của Châu. Đốt mạ sau mùa gieo. Làm mất phần lương phải nộp cho ba trạm biên.”
“Ruộng này đã có mạ?”
“Có người nhìn thấy.”
Từ dưới ruộng, bà già bật cười khô khốc.
“Người của trạm nhìn thấy cả cá bơi trên núi, miễn là có kẻ chép cho họ.”
Người lính quát:
“Già Thị Vối, còn nói nữa là trói!”
“Trói thì trói. Tay ta vãi hết nắm này đã.”
Bà mở bàn tay. Hạt giống rơi xuống tro như một đám mưa nhỏ.
Thanh nhìn ruộng. Những đường cháy không đều. Có chỗ lửa ăn sạch tới lớp đất nứt trắng, có chỗ chỉ liếm qua gốc rạ rồi tắt. Ba dải cháy chạy chếch lên những doi đất cao, đầu mỗi dải còn một ụ rơm âm ỉ. Khói từ đó dựng thành ba cột rõ ràng, không giống một đám cháy lan vô ý. Giữa các dải đen, một vệt cỏ xanh vẫn ngoằn ngoèo từ chân đồi xuống ruộng; lá cỏ ướt, áp sát mặt đất.
“Lửa mới tắt khi nào?” nàng hỏi.
Người lính đáp: “Đêm qua.”
Bà Vối nói cùng lúc: “Ba ngày trước.”
Hai câu trả lời va vào nhau. Những người lính phía sau đổi chân. Dân dưới ruộng ngừng vãi hạt. Tiếng hạt rơi vừa dứt, cánh đồng bỗng im tới mức nghe được một thân rơm nổ lách tách trên doi cao. Người lính trẻ khẽ nuốt khan. Bà Vối cúi xuống nắm chặt miệng giỏ, như chỉ cần buông tay thì cả phần giống còn lại của làng cũng sẽ bị người khác mang đi.
Hùng nhìn người lính trẻ.
“Người giữ lối này tên gì?”
“Dực, cai đội trạm Bãi Han.”
“Cai đội Dực, đoàn không tới để cản việc của trạm. Nhưng đường qua Châu nằm giữa cánh đồng này. Cai đội cho đoàn đứng ngoài ranh, nghe hai phía nói trước khi chọn lối vòng.”
Dực nhìn trời. Ba cột khói vượt lên khỏi sống đồi, còn khói từ những gốc rạ cháy dở bò thấp, làm mặt trời chỉ còn là một quầng đỏ nhạt. Ở những lối mòn phía xa đã thấp thoáng bóng người đang đi về phía cánh đồng.
“Nghe tới khi nắng đứng. Sau đó đoàn đi đường chân đồi. Không ai được bước xuống ruộng.”
“Được.”
Tánh lập tức hỏi:
“Nếu ruộng tự bước lên thì sao?”
Vịnh siết vai nó mạnh hơn.
“Mày muốn xuống ruộng bằng đầu à?”
Tánh nhăn mặt. Dực nhìn nó từ đầu đến chân, dừng lâu ở đôi bàn tay lớn khác thường.
“Ấu Tự này là ai?”
Tánh bật thẳng người. “Tôi là Công Tự.”
Dực nhướng mày. Hùng giữ vẻ nghiêm, dù khóe miệng suýt động. “Đây là Công Tự Tánh, người của đoàn.” Tánh liếc Dực. Trước hàng giáo, nó vẫn bặm môi vì bị gọi nhầm là Ấu Tự, nhưng không cãi thêm.
Đoàn hạ gánh ngoài ranh. Du và Khuyết đặt hòm đá xuống vạt cỏ chưa cháy; người coi lương cùng hai người gánh ngồi xuống cạnh gùi gạo, mắt không rời hàng giáo.
• • •
Bà Vối bước lên bờ với hai bàn chân phủ tro tới mắt cá. Đi cùng bà là một người đàn ông tên Lẫy, vai rộng nhưng lưng đã còng vì nhiều năm gánh nước. Ông mang theo chiếc cuốc lưỡi đá mẻ quá nửa. Sau họ, sáu người dân vẫn đứng giữa ruộng, mỗi người ôm một giỏ hạt.
Dực đặt một thẻ gỗ cháy sém lên tảng đá ven đường.
“Đây là dấu ruộng đã ghi vào thẻ trạm. Hai mươi bảy khoảnh. Sau lễ xuống hạt mười ngày, người làng đốt sạch. Họ nói đốt để dưỡng đất. Theo trạm, họ phá phần lương đã được đánh dấu.”
Bà Vối nhổ một cọng rơm cháy khỏi tóc.
“Không có lễ xuống hạt nào cả. Họ bắt làng gieo sớm để kịp ghi vào thẻ. Đất chưa uống nước, hạt nằm đó cũng chỉ nuôi chim.”
“Già Thị đã nhận giống từ kho trạm.”
“Nhận một giỏ, ghi thành ba. Hạt lép nhiều hơn hạt chắc.”
Dực đập cán giáo xuống đất.
“Có thẻ giao nhận.”
“Có hai thẻ.” Lẫy lên tiếng. “Một thẻ đọc trước mặt làng. Một thẻ mang về trạm.”
Thanh ngẩng lên.
“Hai thẻ cùng ghi một lần giao giống?”
Dực quay sang nàng.
“Điển Tri Sứ đừng nghe lời người đang bị xét mà tưởng đó là bằng cớ.”
“Ta chỉ hỏi có hay không.”
“Bề tôi không giữ thẻ.”
“Ai giữ?”
Dực im một nhịp.
“Người chép ở Bãi Han.”
Hùng thấy Thanh khép ngón tay quanh ống thẻ. Động tác rất nhẹ, nhưng chàng nhận ra ngay: nàng đã giữ câu ấy lại cho sau. Thanh không nhìn chàng; nàng chỉ hơi nghiêng đầu, như nhắc chàng đừng để sự nóng ruột làm lộ điều họ vừa nghe được. Hùng nuốt câu hỏi đang chực bật ra. Giữa những ánh mắt chờ mình đứng về một phía, sự bình tĩnh của nàng khiến chàng vững lại.
Bách quỳ xuống bên mép ruộng. Ông không bước qua ranh mà chỉ dùng một que dài khều lớp tro. Dưới tro là những hạt đã nứt vỏ. Một vài hạt có rễ trắng bằng sợi tóc, đầu rễ quăn lại vì nóng.
“Có hạt đã nảy,” ông nói.
Dực lập tức quay sang Hùng.
“Khảo Tri Sứ thấy chưa?”
Bà Vối không nao núng.
“Thấy. Hạt chết vì đất khô. Làng đốt rạ, mở mạch nước rồi gieo lại.”
“Mạch nước nào?”
Bà chỉ dải cỏ xanh ngoằn ngoèo giữa ruộng.
“Nó ở dưới đó.”
Tánh cúi nhìn. “Dưới cỏ?”
“Dưới đất.”
Nó cười như vừa bắt được điều vô lý.
“Nước dưới đất thì lấy gì chảy?”
Bà Vối chống cuốc, nhìn thẳng nó.
“Máu ở trong người mày lấy gì chảy?”
Nụ cười trên mặt Tánh tắt. Nó nhìn xuống hai bàn tay mình, rồi nhìn dải cỏ lần nữa.
Lẫy giải thích rằng dưới chân đồi có một mạch nước nhỏ. Mùa mưa, nước tự trồi lên ở ba hốc đá. Mùa khô, rễ cỏ dài giữ được hơi ẩm. Người làng đốt rạ thành từng dải, chờ đất nguội rồi đào theo nơi cỏ còn xanh. Tro giữ mặt đất khỏi đóng váng; hạt gieo sau đó mới sống. Ba ụ lửa trên chỗ cao còn có một việc khác: một cột báo đất khô, hai cột gọi người làng, ba cột mời các xóm quanh tới làm chứng. Lệ ấy có từ sau mùa lửa mà không ai còn nhớ rõ.
Dực cười nhạt.
“Nếu chỉ để dưỡng đất và tìm nước, vì sao phải dựng ba cột khói gọi người từ các xóm khác tới?”
“Vì lính trạm đứng ở đầu bờ không cho làng đào. Không có người ngoài nhìn, ngày mai việc gì cũng có thể được chép thành chuyện khác.”
“Các người cầm cuốc kéo tới sau nửa đêm, rồi đốt lửa gọi đông người. Trạm phải coi đó là hiệu tụ chúng.”
“Ban ngày các người giữ cổng nước. Ban đêm làng không gọi người thì ai biết ruộng chết vì đâu?”
Giọng hai người dần cao. Bà Vối nói bằng nỗi tức giận của người nhìn hạt giống chết trước mắt; Dực đáp bằng sự cứng rắn của kẻ biết chỉ cần để đám đông vượt qua hàng giáo, lỗi đầu tiên sẽ mang tên mình. Hùng không chen vào. Chàng nghe mỗi câu đều có phần đáng tin, mà phần đáng tin ấy lại cứa vào nhau. Tuổi còn trẻ, tấm thẻ công vụ bên hông chàng đôi lúc vẫn nặng như vật mượn của người khác; vậy mà quanh chàng, cả lính lẫn dân đều đang chờ một lời có thể làm ai đó mất ruộng hoặc bị trị tội. Chàng nhìn cánh đồng, cố tách điều đã thấy khỏi điều mỗi bên muốn chàng tin.
Gió đổi hướng. Tro cuộn thành một màn xám, quất vào hàng người. Khuyết ghì chặt lớp vải bọc trên hòm đá, Thanh che ống thẻ dưới áo. Trên doi đất gần nhất, một ụ rơm bỗng bùng lên. Ngọn lửa cúi rạp theo gió rồi lao thành một vệt mảnh dọc bờ ruộng.
Dân làng đồng loạt kêu. Dực quát người dập lửa. Hùng cũng lao tới, nhưng vừa tới mép ruộng, chàng chợt thấy ngọn lửa không tỏa tràn sang hai bên. Nó bò theo một vệt hẹp dưới lớp rơm vụn, sáng lên từng đoạn như có ai châm những mắt lửa nối nhau.
Đường ấy thẳng quá để là rãnh nước, cũng quá đều để chỉ là gốc rạ vô tình bắt lửa. Một người dân cầm cành lá định giẫm thẳng xuống vệt cháy. Hùng vội nắm vai kéo ông lại.
“Dập hai đầu trước!” chàng gọi lớn, giọng gấp đến khàn đi. “Đừng để lửa bén sang ruộng bên!”
Người kia quay phắt lại.
“Không dập giữa, cả ruộng thành tro thì sao?”
Hùng nhìn ngọn lửa đang cúi rạp theo gió. Hơi nóng táp vào mặt, kéo theo mùi rơm cháy và mùi hạt giống khét khiến bụng chàng thắt lại. Nếu đoán sai, chính tay chàng sẽ giữ lửa lại giữa ruộng của những người đang thiếu ăn. Nhưng nếu dập sạch ngay, dấu vết vừa hiện ra có thể mất lần nữa. Ánh mắt chàng vẫn bám lấy đường cháy khác thường, còn hai bàn tay đã rịn mồ hôi.
“Vẫn dập. Chỉ giữ cho ta một sải ở giữa. Nếu lửa vượt khỏi vệt ấy, phủ đất xuống ngay!”
Nói xong, chàng giật lấy chiếc cuốc gần đó, cùng dân làng xắn đất chặn một đầu lửa. Dực sững lại một nhịp rồi quát lính giữ đầu còn lại. Chỉ một đoạn ngắn ở giữa được để nguyên, đủ cho mọi người nhìn thấy lửa đang chạy theo thứ gì dưới lớp rơm khô.
Khi hai đầu lửa bị phủ đất, đoạn cháy còn lại nhanh chóng yếu đi. Lớp rơm vụn và rễ khô phía trên co quắp thành tro; phần đất xốp bên dưới sụt xuống, để lộ một vệt lõm rộng bằng bàn chân ngựa chạy chếch qua những hàng gốc rạ. Giữa vệt lõm có một vật nhỏ màu xanh xám vừa được sức nóng hong lộ.
Hùng dùng que gạt lớp tro đang đỏ quanh vật ấy.
Một mũi tên đồng lộ ra, đầu nhọn đã quặp sang một bên.
Không ai nói trong vài nhịp thở. Bà Vối đưa tay lên che miệng. Lẫy lùi một bước, gót chân vấp vào bờ đất nhưng không hề hay biết. Ngay cả Dực cũng quên quát; mũi giáo trong tay anh ta hạ xuống một khoảng rất nhỏ.
Dực là người động trước. Anh ta lấy mũi giáo khều mũi tên ra khỏi tro, giẫm đất phủ lên cho nguội rồi nhặt lấy.
“Vật cũ. Ruộng nào chẳng đào được.”
Lẫy nhìn nó, mặt biến sắc.
“Không phải của làng.”
“Thiết nhận ra?” Thanh hỏi.
“Phần chuôi đồng có ba khấc. Người làng chỉ khắc hai.”
Dực nắm mũi tên chặt hơn. Cạnh đồng quặp cứa vào lòng bàn tay, nhưng anh ta không buông. Vật nhỏ còn âm ấm ấy khiến điều Dực vẫn gọi là lời chống lệnh bỗng có thêm một quá khứ mà anh ta chưa biết phải đặt vào đâu.
“Một mảnh đồng không đổi được việc đốt ruộng.”
Hùng đứng lên.
“Không. Nhưng nó cho thấy nơi này từng có việc khác ngoài gieo gặt.”
“Khảo Tri Sứ định lấy chuyện người chết để bênh người sống?”
“Ta chưa bênh ai.” Hùng phủi tro khỏi đầu gối. “Ta chỉ không muốn một dấu bị vùi lần nữa vì mọi người đang vội gọi tên nó.”
• • •
Nắng lên cao nhưng không xuyên nổi lớp khói. Từ ba lối mòn, người của những xóm quanh lần lượt tới, có người mang cuốc, có người mang gùi, cũng có người chỉ đứng khoanh tay nhìn. Ba cột khói đã làm đúng việc của chúng: đưa một chuyện vốn bị giữ giữa trạm và làng ra trước nhiều đôi mắt.
Dực không cho đoàn xuống ruộng. Bà Vối không chịu rời đồng. Hai phía đứng cách nhau một bờ đất thấp, giữa họ là những hạt vừa gieo đang chìm dần vào tro. Những người mới tới đứng thành một vòng rộng. Không ai nhận mình là người phân xử, nhưng từ lúc ấy, không bên nào còn có thể kể câu chuyện chỉ cho riêng mình nghe.
Tánh ngồi xổm ở ranh, lấy một cành mềm bà Cói cho từ bó sau lưng. Nó cắm đầu cành xuống chỗ đất lõm, rút lên, ngửi rồi đưa cho Bách.
“Ướt.”
Bách bẻ phần vỏ gần gốc. Thớ gỗ sẫm nước.
“Chỗ này có hơi ẩm.”
Dực nói: “Cả ruộng vừa bị dập lửa, ẩm là thường.”
Tánh cắm cành ở một chỗ khác. Đất khô làm đầu cành dính bụi trắng. Nó thử thêm ba nơi, mỗi lần lại nhìn về dải cỏ xanh. Vệt ẩm uốn theo cỏ, nhưng khi tới một hàng dấu chân ngựa in ngang ruộng thì bị cắt ngang.
“Có người lấp nó,” Tánh nói.
Bà Vối bước tới, quên cả hàng giáo.
“Chỗ nào?”
Dực giơ tay. Hai lính lập tức hạ mũi giáo. Tánh lùi nửa bước, hai vai gồng lên. Hùng không gọi. Chàng chỉ đứng ngang với nó, đủ gần để Tánh nhìn thấy.
Tánh thở mạnh qua mũi. Rồi nó tự lùi thêm một bước về phía bờ.
“Ngay dưới vết ngựa,” nó nói. “Nếu đào từ đây, đất mềm hơn.”
Dực nhìn nó, có lẽ chờ một trò phô sức. Nhưng Tánh không lao xuống. Nó quay sang Hùng.
“Can, cho Địa mượn cây gậy dài.”
Hùng đưa gậy nhưng không bước qua ranh.
Tánh nằm sấp trên bờ, vươn người chọc gậy xuống khoảng đất nó vừa chỉ. Đầu gậy lún sâu gần nửa thân rồi mắc vào vật cứng. Nó xoay nhẹ. Một tiếng ọc nhỏ vang lên dưới đất.
Mặt bùn phồng lên.
Nước đục trào qua lỗ gậy, ban đầu chỉ bằng sợi dây, sau lớn dần bằng ngón tay. Nó chảy xuống vệt lõm, gặp tro thì biến thành một dòng đen đặc.
Dân làng bật tiếng reo. Bà Vối lao tới, nhưng lại dừng trước mũi giáo.
Dực nhìn dòng nước, quai hàm co giật.
“Một lỗ nước không nói được rằng cả ruộng phải cháy.”
“Không,” Thanh nói. “Nó chỉ cho thấy lời về mạch nước có phần đúng.”
Tánh chống tay ngồi dậy. Tro bám đầy ngực áo, chui cả vào tóc và khóe miệng, nhưng mắt nó sáng rực. Nó quay nhìn Hùng trước, rồi mới nhìn đám đông, như niềm vui tìm thấy mạch nước sẽ chưa thật sự trọn vẹn nếu chàng chưa thấy.
“Địa tìm được.”
Vịnh phủi một vệt đen trên trán nó.
“Mày tìm được chỗ người khác đã biết.”
“Nhưng họ không chọc được từ trên bờ.”
“Ừ. Lần này mày biết đứng đúng chỗ rồi mới dùng sức.”
Tánh định cười lớn, song chỉ cắn môi. Nó liếc Hùng, chờ. Hùng không nói gì, chỉ gật một cái. Cái gật rất nhỏ, nhưng vai Tánh lập tức hạ xuống; vẻ căng cứng trên mặt nó tan đi, để lộ niềm vui non nớt mà nó cố giấu.
Công Tự vừa lớn tiếng sửa người khác gọi mình là Ấu Tự giờ lại quay mặt đi như một đứa trẻ bị bắt gặp đang chờ khen. Hai tai nó đỏ bừng dưới lớp tro.
Dòng nước tiếp tục chảy. Khi lớp tro loãng ra, những vật nằm trong rãnh dần hiện lên: ba mảnh xương động vật cháy sẫm, một vòng đồng vỡ và thêm hai mũi tên. Xa hơn một đoạn là hàng lỗ cọc chạy chéo qua ruộng, gần như trùng với đường lửa vừa bùng sáng.
Du nheo mắt ước hướng.
“Không phải bờ cũ. Hàng cọc quay mặt về chân đồi.”
“Rào giữ thú?” Dực hỏi.
“Rào giữ thú không cần đầu cọc cháy ở phía ngoài.”
Du chỉ từng lỗ. Trong hai lỗ còn than đen ép sát một bên, như cọc đã bị lửa táp từ hướng đối diện. Đường cháy ban nãy không phải do lớp than cổ tự bùng lên. Hàng cọc mục đã làm mặt đất sụt thành một rãnh cạn; rơm vụn, rễ khô và lá chết dồn vào đó qua nhiều mùa, khiến lửa men theo một đường gần như thẳng. Sát mép bờ, dưới một gốc rạ, Du lấy que khều được mảnh đá mài có rãnh buộc dây.
Bà Vối ngồi xuống rất chậm.
“Quân ta từng kể nơi này có một làng cũ.”
“Già Thị vừa nói ruộng này do làng khai từ lâu,” Dực nói.
“Lâu không có nghĩa từ khi đất sinh ra.”
Lẫy tiếp lời: “Người trước bỏ đi sau một mùa lửa. Người sau tới, thấy nước còn chảy thì dựng làng. Chúng tôi chỉ biết vậy.”
Thanh hỏi:
“Mùa lửa là cháy đồng hay đánh nhau?”
Bà Vối nhìn những mũi tên dưới bùn.
“Từ khi ta còn là Ấu, ta đã nghe hai cách. Người trạm gọi là loạn. Người làng gọi là trời đốt. Ai nói khác thì bị bảo nhớ sai.”
Bên hòm đá, Khuyết ngẩng lên khi nghe câu ấy. Ông nhìn bà già một lúc, môi mấp máy như định nói, rồi lại cúi xuống đôi tay mình.
Dực quay phắt sang bà.
“Việc cũ không liên quan tới lệnh gieo năm nay.”
“Có thể có.” Hùng chỉ từ ba ụ khói xuống hàng cọc rồi tới dòng nước. “Lửa năm nay dùng để dưỡng đất, gọi người và buộc việc xảy ra trước mắt phải có người làm chứng. Nhưng đường lửa lại chạy theo dấu cọc của một trận cháy cũ. Nếu cọc cháy và đất lấp từng đổi dòng nước, lệ đốt rồi tìm mạch có thể đã sinh ra từ việc cũ ấy. Cũng có thể dân làng đang mượn chuyện cũ để che việc đốt mạ. Chúng ta chưa biết.”
Dực cau mày. “Vậy Khảo Tri Sứ nói dài để làm gì?”
“Để không ai lấy một nửa sự thật làm cả câu.”
• • •
Đến giữa trưa, đất quanh lỗ nước sụt xuống.
Không ai kịp cãi thêm câu nào.
Một mảng bờ rộng bằng chiếc chiếu bỗng nứt, kéo theo Tánh trượt về phía ruộng. Nó chụp được cán gậy nhưng bùn dưới ngực tiếp tục lún. Hùng nắm cổ tay nó. Vịnh quấn dây quanh eo Hùng, Du ghì đầu dây còn lại. Thanh đã chạy tới sát mép đất nứt; Bách giang tay chặn nàng lại.
“Đừng giật!” Bách quát. “Đất rỗng bên dưới!”
Tánh ngừng vùng. Bùn đã nuốt tới hông. Sức lực vẫn còn, nhưng lần đầu tiên trong mắt nó hiện ra một thoáng hoảng sợ rất trẻ con. Nó nhìn Hùng, hơi thở gấp. Hùng cũng sợ; cổ tay chàng đau buốt, bùn kéo cả hai trượt từng chút một. Chàng không dám để Tánh nhìn thấy điều ấy.
“Can buông đi. Địa tự lên được.”
“Mày mà tự lên được thì đã không nằm đó.”
“Tay Can trượt.”
“Thì mày nắm lại.”
Tánh siết bàn tay quanh cổ tay Hùng. Bàn tay lớn đến mức gần ôm trọn cổ tay chàng, nhưng lúc này lại run. Du và Vịnh kéo dây từng đoạn ngắn. Khi cả hai lăn được lên bờ, Tánh vẫn giữ tay Hùng thêm một nhịp, như cần chắc rằng chàng thật sự ở đó, rồi mới vội buông ra trước khi có ai nhận thấy.
Nó ngồi thở, mặt lấm đến chỉ còn thấy lòng trắng mắt.
Thanh quỳ xuống trước mặt nó nhanh đến mức đầu gối va vào sỏi. Cái gối đau nhói lên, nàng không để ý, cũng không để ý vạt áo đã lấm bùn; một tay giữ vai Tánh, tay kia lần dọc cánh tay nó, vừa soát vừa cố giấu những ngón tay đang run.
“Đau ở đâu?”
“Địa không đau.”
“Kỷ không hỏi mày có chịu được không.”
Tánh sờ hông, rồi cổ chân.
“Cổ chân Địa hơi rát.”
Bách kéo nó nằm ra xem. Lần này nó không cãi.
Khoảng đất sụt để lộ một hốc đá xây bằng những phiến mỏng. Nước đang dâng trong hốc, trong veo hơn dòng chảy phía ngoài. Ở thành hốc có ba lớp dấu: lớp dưới cùng là những vết khía đã mòn; lớp giữa là muội lửa; lớp trên là đất nện lẫn rơm.
Thanh không bước xuống. Nàng ngồi ngoài ranh, vạch lại từng lớp lên thẻ theo lời Vịnh và Du. Không có dấu nhọn nào như trên phiến đá của Cương. Không có hình nào giống hai vòng tròn không trọn. Chỉ có những nét xiên lặp lại quanh miệng hốc, như cách người ta đếm ngày hoặc đếm lượt nước.
Hùng thấy ngờ ngợ. Ở Phong Thành chàng từng gặp một hàng nét xiên, nhưng xiên về bên nào, mấy nét một cụm thì chàng không còn nhớ chắc. Muốn biết phải mở lại bản dập Phong Thành; chàng chưa dám tin trí nhớ mình.
Hùng nhìn lâu, rồi bảo Thanh:
“Ghi riêng. Không đặt cạnh bản khắc cũ.”
“Qua cũng định vậy.”
Dực nghe thấy, nét mặt bớt gay gắt đôi chút.
“Khảo Tri Sứ không cho rằng đây là dấu đoàn đang tìm sao?”
“Ta cho rằng đây là thứ cần được hiểu theo chính nơi này.”
Nước trong hốc dâng tới miệng rồi tràn ra. Dòng nhỏ tách làm hai: một nhánh men theo rãnh cỏ về phía ruộng cháy, một nhánh chảy ngược tới bờ đất có hàng cọc cũ. Bà Vối dùng cuốc khơi nhánh thứ nhất. Dực ra hiệu cho hai lính dỡ đất ở nhánh thứ hai để nước không khoét sập đường. Trên doi cao, ba ụ lửa đã được vun nhỏ lại; khói không còn đen đặc nhưng vẫn đủ để người ở xa biết rằng việc dưới ruộng chưa kết thúc.
Không ai tuyên bố mình đã đổi phía. Dực vẫn tránh nhìn bà Vối; bà cũng không cảm ơn anh ta. Nhưng khi một mảng đất bên bờ sắp trôi, Dực chống cán giáo giữ lại, còn bà Vối lặng lẽ chèn thêm một hòn đá dưới chân anh ta.
Họ chỉ cùng cúi xuống trước dòng nước, dưới những cột khói đã gọi tất cả tới đây. Nước chảy qua những ngón tay chai sần của dân làng, vòng quanh những bàn chân bết tro của lính trạm, không hỏi người nào đã đứng ở phía nào.
Tro đen loãng dần. Những hạt mới gieo lộ ra, bám vào bùn ướt thay vì nằm trên mặt đất. Bà Vối nhặt một hạt, bóp thử rồi đặt lại.
“Hạt này sống được.”
Dực hỏi: “Bao nhiêu hạt sống?”
“Muốn biết thì chờ mọc.”
“Trạm không thể chờ bằng lời.”
Thanh nói: “Vậy đếm khoảnh, đánh dấu phần đã cháy, phần còn mạ và phần vừa gieo lại. Khi hạt mọc, hai phía cùng đếm.”
Dực nhìn nàng. “Điển Tri Sứ đang phân xử?”
“Không. Ta chỉ bày một cách để việc chưa rõ không bị ghi thành đã rõ.”
Bà Vối chống cuốc. “Làng nhận, nếu người đếm không chỉ từ trạm.”
Dực hỏi những lính phía sau. Một người lớn tuổi nói nhỏ với anh ta. Cuối cùng, anh ta cắm cán giáo xuống bờ.
“Trạm nhận. Ba người: một của trạm, một của làng, một người không thuộc hai phía.”
Ánh mắt mọi người cùng chuyển sang đoàn.
Hùng lắc đầu.
“Đoàn phải đi tiếp.”
“Không cần Khảo Tri Sứ ở lại,” Dực nói. “Trạm Bãi Han có người chép. Người ấy không có ruộng ở làng này.”
Bà Vối bật cười lần nữa, nhưng lần này tiếng cười không vui.
“Người chép ấy không có ruộng, nhưng có hai bàn tay. Một tay chép cho trạm, một tay chép cho kẻ khác.”
Dực quay sang bà. “Già Thị có bằng cớ?”
“Ta có tai.”
“Tai không đóng được dấu.”
“Dấu cũng không làm lời sai thành đúng.”
Thanh nhìn Hùng. Chàng biết họ vừa chạm vào cánh cửa của việc kế tiếp.
“Trạm Bãi Han cách đây bao xa?” chàng hỏi Dực.
“Sau hai gò đất. Đi đường chân đồi, trước tối thì tới.”
“Đêm nay đoàn nghỉ ở trạm. Ta muốn gặp người chép ấy trước khi ba người xuống đếm.”
Dực nhìn chàng một nhịp, rồi gật. “Bề tôi dẫn đường.”
• • •
Cuối ngày, toán lính dẫn đoàn theo đường chân đồi về Bãi Han.
Trước khi đi, Thanh tách những điều đã thấy thành ba bó thẻ. Bó thứ nhất ghi việc hiện tại: ruộng đã có hạt nảy, dân đốt, trạm ngăn đào nước và ba cột khói gọi người tới làm chứng. Bó thứ hai ghi lệ làng: đốt rạ thành dải, tìm cỏ ẩm, mở mạch rồi gieo lại; lửa trên chỗ cao vừa báo việc vừa quy tụ các xóm. Bó cuối cùng ghi dấu cũ: mũi tên ba khấc, hàng cọc cháy, đường lửa trùng rãnh cạn tích rơm rễ phía trên hàng cọc và hốc nước có nhiều lớp sửa. Trong mỗi bó, thẻ ghi điều tận mắt thấy vẫn buộc dây đen, thẻ ghi lời kể vẫn buộc dây vàng. Riêng câu hỏi lửa tắt đêm qua hay ba ngày trước, nàng ghi vào một thẻ không buộc dây.
Tánh nhìn ba bó, hỏi:
“Sao không buộc chung? Đều ở một ruộng.”
“Vì ở cùng một nơi không có nghĩa là cùng một việc.”
“Nhưng nếu chúng liên quan?”
“Khi đủ bằng cớ, Kỷ sẽ nối.”
Nó suy nghĩ, rồi lấy túi hạt Sậy cho ra. Một ít tro đã lọt vào miệng túi. Tánh định phủi đi, nhưng nhìn những hạt trong ruộng đang nằm yên dưới bùn, nó lại thôi. Nó ngẩng lên hỏi Thanh:
“Địa gieo thử một hạt được không?”
Bà Vối chìa tay. Tánh đặt vào lòng bà ba hạt, không phải một.
“Một hạt để xem đất,” nó nói. “Hai hạt còn lại để xem Già Thị có nói thật không.”
Bà Vối cười. Lần đầu tiên từ khi đoàn tới, tiếng cười của bà không còn khô khốc. Những nếp nhăn quanh mắt dính đầy tro chụm lại, khiến gương mặt già nua vừa mệt mỏi vừa ấm lên.
“Mày biết nghi rồi đấy.”
“Kỷ dạy.”
Thanh đang buộc thẻ, nghe thấy nhưng không ngẩng lên. Khóe môi nàng khẽ động. Sau khoảnh khắc nhìn Tánh chìm trong bùn, nụ cười ấy đến muộn và còn vương chút run rẩy, nhưng ít nhất nàng đã có thể thở đều trở lại.
Hùng đi ngang qua Tánh, ném cho nó đoạn dây vừa dùng kéo người.
“Giữ lấy.”
Tánh bắt được.
“Để lần sau kéo Can à?”
“Để lần sau mày nhớ buộc dây trước khi chọc vào đất lạ.”
Tánh cười, quấn đoạn dây một vòng quanh cổ tay không đeo thẻ rồi kéo thử cho chặt. Nó không khoe đã tìm ra mạch nước nữa. Bàn tay vừa run trong bùn giờ vẫn còn vết hằn đỏ, nhưng nó giấu vào sau lưng, bước gần Hùng hơn trước mà không nói gì.
Phía sau đoàn, ba ụ lửa trên doi đất chỉ còn cháy bằng những đốm đỏ kín trong rơm ẩm. Khói của chúng mảnh dần nhưng vẫn đứng cao trên cánh đồng, đủ báo cho người đến muộn rằng ở đây từng có một việc cần được nhìn thấy. Dưới thấp, dòng nước mới mở bò qua tro, không đủ rửa sạch ruộng trong một ngày, chỉ đủ làm lớp đất đen mềm ra quanh từng hạt giống. Lửa đã gọi người tới và phơi dấu cũ khỏi lớp tro; nước đến sau, giữ lại thứ họ vừa gieo.
Trạm Bãi Han nằm sau hai gò đất thấp. Khi đoàn tới nơi, trời đã sẫm. Trong gian chép cạnh kho, một người đàn ông gầy đang ngồi trước hai ngọn đèn.
Trên chiếc chiếu bên trái ông là một bó thẻ đóng dấu trạm.
Trên chiếc chiếu bên phải là một bó thẻ khác, buộc bằng sợi dây sẫm màu. Vài thẻ trên cùng bị đặt lệch, để lộ những nét ghi còn mới.
Nghe tiếng chân ngoài cửa, ông vội úp cả hai bó xuống.
Thanh đã nhìn thấy động tác quá vội của ông. Nàng không gọi ngay. Bàn tay đang cầm ống thẻ chậm rãi siết lại, còn ánh mắt lặng lẽ tìm Hùng trong bóng cửa. Sau một ngày nghe người ta tranh nhau từng nửa sự thật, hai bó thẻ bị úp xuống trong cùng một gian chép đã đủ khiến nàng hiểu rằng chuyện ở cánh đồng chưa kết thúc. Nó chỉ vừa tìm được một cánh cửa tối hơn để bước vào.

💬 Bình luận (0)