🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.16: Vết khắc sau lưng trống

~20 phút đọc · 3947 từ · · ⚠️ Báo cáo

Chiếc trống được đặt nằm trên hai cuộn chiếu giữa sân trạm.
Không ai dám dựng nó lên.
Sau bao năm treo sát tường, mặt gỗ phía sau đã hút ẩm. Một vết nứt chạy từ vành vào gần giữa tang trống, mảnh đến mức ban đầu chỉ giống sợi tóc. Vịnh chèn vải dưới hai đầu dây. Nham lấy nêm gỗ giữ thân trống khỏi lăn. Tánh ngồi cách một sải tay, hai đầu gối co lên, cố tỏ ra mình không hề muốn chạm vào.
Thanh dùng chổi lông quét từng lớp bụi.
Các vết khắc dần hiện ra.
Không có một hàng chữ trọn vẹn. Nét sâu nằm dưới nét nông, hình người bị một mảng vá cắt mất chân, dấu giống cọc ranh quay ngang vì ai đó từng thay cả miếng gỗ. Chỗ đen nhất không hẳn là chỗ cổ nhất; có nét được bôi nhựa cây nên sẫm màu hơn phần đã trải nhiều năm.
Hùng cúi sát, nhưng không đưa tay.
“Nếu đọc từ trái sang?”
Thanh lắc đầu. “Chưa biết đâu là trái của người khắc đầu tiên.”
“Mặt trống hướng ra sân.”
“Bây giờ. Còn trước khi thay dây? Trước khi vá tang? Có thể nó từng treo ngược.”
Tánh nghiêng đầu nhìn. “Xoay một vòng thì mũi tên thành chỉ xuống.”
“Bởi vậy chưa được gọi nó là mũi tên,” Thanh nói.
“Thì gọi là cái nhọn.”
“Được. Dấu nhọn.”
Tánh có vẻ hài lòng vì ít nhất mình đã đặt được tên cho một thứ.
Cẩn ngồi dưới mái hiên, hai tay đặt lên cán trượng. Ông nhìn chiếc trống như nhìn một người già đang bị lật xem những vết sẹo kín. Khi Thanh chỉ ba cụm dấu đã thấy từ hôm trước—hình người đứng, đường có cọc, vòng dấu nhỏ—ông gõ trượng ba nhịp.
Hùng hỏi: “Ba dấu ấy đọc là Người, Luật, Nhớ?”
Cẩn không gật. Ông chỉ hình người, chạm ngực mình. Chỉ đường cọc, ông dùng ngón tay vạch một ranh trên nền đất rồi đặt trượng ngang qua. Đến vòng dấu nhỏ, ông chạm vào thái dương, sau đó chỉ chiếc trống.
“Người,” Thanh nói. “Ranh, hoặc điều giữ ranh. Nhớ.”
Hùng nhìn đường cọc. “Luật là điều giữ ranh, không chỉ bản thân ranh.”
Cẩn gõ một tiếng.
Tánh hỏi: “Một tiếng là đúng à?”
Cẩn gõ thêm một tiếng nữa.
“Hai tiếng mới đúng?”
Ông lắc đầu, khóe mắt nhíu lại.
Vịnh nói: “Ông ấy bảo mày im.”
Lần này Cẩn gật thật.
Tánh chống cằm, lẩm bẩm: “Tôi chỉ hỏi.”
Hùng không cười. Chàng vẫn nhìn ba cụm dấu. Người, Luật, Nhớ—nếu thật sự là ba ý ấy—đã xuất hiện ở một trạm nhỏ trên đường núi, sau lưng một chiếc trống bị sửa qua nhiều đời. Nó không chứng minh được nguồn gốc của những mảnh dấu họ đang tìm. Nhưng cũng không thể xem là ngẫu nhiên.
“Ta cần biết dấu nào có trước,” chàng nói.
Thanh đáp: “Và ai đã thêm dấu sau.”
Cẩn chống trượng đứng dậy. Ông gọi người giữ kho, dùng tay làm động tác kéo chỉ qua lỗ kim.
Người giữ kho hiểu. “Ông muốn gọi bà Vá.”
Tánh bật dậy. “Tên bà ấy là Vá thật à?”
“Người ta gọi vậy vì bà sửa được mọi thứ có da và dây.”
“Tên Quân Cơ đặt?”
Người giữ kho nhún vai. “Lâu rồi không ai hỏi.”
Thanh và Tánh cùng im. Cả hai đều nhớ những người dưới thuyền.
Bà Vá tới khi nắng đã vượt qua đầu tường.
Bà thấp, lưng thẳng, tóc bạc cắt ngang vai. Trên hông đeo một túi kim xương và những cuộn chỉ đủ màu. Vừa thấy trống nằm dưới đất, bà mắng người trong trạm một lượt vì tháo dây mà không gọi bà trước.
“Cái da già rồi. Nghiêng sai một chút là rách. Lúc ấy các người lấy lưng mình mà bịt trống à?”
Người giữ kho chỉ Hùng và Thanh. “Việc của Công Tự, Công Thị.”
Bà Vá nhìn hai người từ đầu xuống chân. “Người có danh cũng làm rách da trống như thường.”
Hùng cúi chào. “Bà nói phải. Xin bà xem giúp trước khi chúng tôi động thêm.”
Thái độ của bà dịu đi một chút.
Bà không nhìn vết khắc trước. Bà sờ dây, xem nút, ngửi lớp nhựa ở mảng vá rồi dùng móng tay cạo một hạt nhỏ. Bà bảo mang ra ba chậu: một chậu nước lạnh, một chậu tro khô và một chậu đựng than còn âm ỉ dưới tro. Hạt nhựa được thả vào nước, nghiền với tro, rồi hơ gần than.
Tánh ngồi sát lại.
“Bà làm phép à?”
“Ta xem nhựa gì.”
“Ngửi không biết sao?”
“Mũi mày giỏi thì ngửi đi.”
Nó cúi xuống, hít quá mạnh rồi hắt hơi vào chậu tro. Bà Vá lấy cán kim gõ nhẹ lên trán nó.
“Nhựa trám núi,” bà nói. “Mùa nóng mềm, mùa lạnh giòn. Người ở phía đông sườn hay dùng. Trạm này dùng nhựa dầu, không dùng thứ đó.”
Hùng hỏi: “Mảng vá đến từ nơi khác?”
“Hoặc người vá đến từ nơi khác.”
“Bà nhớ ai làm không?”
Bà liếc chiếc trống. “Ta vá mặt da hai lần, thay dây một lần. Mảng gỗ này có trước khi ta về làm dâu Bờ Đá.”
“Ai biết việc trước đó?”
“Người chết biết nhiều nhất.”
Tánh phì cười rồi tự ngậm miệng khi Hùng nhìn sang.
Bà Vá lấy sợi chỉ đỏ đặt theo vết nứt, sau đó đặt chỉ trắng quanh mảng gỗ vá. Bà không đọc dấu; bà đọc cách vật được sửa.
“Tang trống ban đầu gồm sáu mảnh gỗ ghép vòng. Sau đó thay một mảnh ở đây. Lần khác đóng thêm đai trong. Có người đục mỏng chỗ này để trống kêu vang hơn. Người khác lại trám dày vì sợ nứt.”
Thanh hỏi: “Có thể biết thứ tự không?”
“Biết cái nào đè lên cái nào. Không biết cách nhau bao nhiêu mùa.”
Bà chỉ một vết đục chạy xuyên qua chân hình người. Vết này có sau hình. Một lớp nhựa phủ lên cả vết đục, vậy lớp nhựa còn muộn hơn. Nhưng dấu vòng nhỏ lại được khắc trên lớp nhựa đã khô. Ít nhất bốn lần sửa đổi nằm chồng ở một khoảng chưa bằng bàn tay.
Hùng nói: “Nếu tách theo lớp sửa, ta có thể dựng lại từng mặt trống.”
Bà Vá lắc đầu. “Dựng được phần còn. Phần bị gọt mất thì chịu.”
“Vẫn hơn đọc tất cả như một hàng.”
“Đúng.”
Cẩn gõ trượng một nhịp.
Họ không dùng mực chà trực tiếp lên trống.
Thanh sợ mực ngấm vào thớ gỗ và làm những nét nông biến mất. Bà Vá đưa cho nàng một mảnh vải mỏng đã giặt hết hồ. Họ phủ vải lên từng khu vực, dùng bột than bọc trong lớp lá khô vỗ nhẹ từ trên. Nơi gỗ lõm, vải giữ màu sáng; nơi gỗ nổi, than bám đen. Mỗi lớp dấu được sao ra riêng, đánh số theo vị trí chứ chưa theo niên đại.
Tánh được giao giữ mép vải.
“Không kéo,” Thanh dặn.
“Tôi biết.”
“Nếu tay mỏi?”
“Tôi báo.”
“Nếu muốn xem phía dưới?”
“Tôi không tự nhấc.”
Vịnh đứng gần đó nghe, khẽ gật.
Buổi sáng trôi qua trong những việc nhỏ và chậm. Nham đo độ sâu của nét bằng một que xương mài nhọn. Bà Vá phân biệt nhựa trám. Thanh chép. Hùng xếp các bản dập theo quan hệ trước–sau. Cẩn dùng trượng sửa lại hướng treo qua từng thời. Tánh giữ vải, thay than và chạy lấy nước.
Nó không làm hỏng gì.
Gần trưa, Hựu được Du dìu từng bước ngắn ra sân. Bách đi sau, mặt khó chịu như thể người bệnh vừa trộm mất quyền được nằm yên của ông.
Tánh buông mép vải theo hiệu của Thanh rồi mới chạy tới.
“Can ra làm gì?”
“Xem mày có bị trống đè không.”
“Tôi khỏe.”
“Ta biết. Trống mới đáng lo.”
Tánh định đỡ, Hựu tránh tay. “Ta tự ngồi.”
Nó rụt tay lại, nhưng kéo một chiếc ghế gỗ đến gần. Hựu không cảm ơn, chỉ ngồi xuống.
Hùng nhìn thấy. Chàng không nói gì.
Đến giữa ngày, năm bản dập được đặt thành vòng quanh miệng giếng.
Bản thứ nhất có hình người đứng một mình, hai tay mở. Bản thứ hai có đường cọc chạy phía trước người. Bản thứ ba thêm một hình giống bàn tay đặt lên đường cọc. Bản thứ tư có vòng dấu nhỏ bao quanh cả người lẫn đường. Bản cuối cùng bị mảng vá cắt ngang, chỉ còn dấu nhọn và ba chấm.
Lộ đứng ngoài vòng, lên tiếng lần đầu từ sáng:
“Rõ rồi. Người dựng luật để giữ điều phải nhớ.”
Thanh hỏi: “Vì sao ông đọc theo thứ tự ấy?”
“Vì nó thuận.”
“Hôm qua lời của ông cũng thuận.”
Mặt Lộ cứng lại.
Hùng không để cuộc cãi bắt đầu. “Ta chưa xếp thứ tự. Chỉ đang tách lớp.”
Lộ nói: “Sau việc hôm qua, người trong trạm không cho tôi tự mình giải thích nữa. Tôi chỉ góp lời.”
Cẩn đưa mắt nhìn ông ta, rồi chậm rãi gật.
Thanh nói: “Lời được nghe. Nhưng phải đặt cạnh dấu.”
Tánh ngồi bên Hựu, thì thầm: “Ông ấy nói đúng một lần mà khó chịu ghê.”
Hựu đáp: “Vì mày muốn ghét người thì lời nào của họ cũng phải sai à?”
Tánh nghĩ một lúc. “Không. Nhưng nếu ông ấy nói đúng nhiều, tôi càng khó ghét.”
“Thế thì học cách ghét đúng phần.”
“Can nói giống Bách.”
“Đừng xúc phạm ta.”
Bách đang thay băng cho người sốt ở đầu sân, không nghe thấy.
Rắc rối xuất hiện ở lớp đai trong.
Muốn xem mép các vết khắc có chạy xuống dưới đai hay không, họ phải soi qua khe hẹp giữa tang trống và vòng gỗ gia cố. Không thể tháo vòng; nó đang giữ vết nứt không mở rộng. Bà Vá luồn một lá đồng mỏng vào khe, nhưng chỉ chạm được vài đoạn.
Cẩn viết lên đất tên một người: Thạo.
Người giữ kho giải thích Thạo là thợ làm trống ở xóm Chân Dốc, cách trạm nửa ngày. Lộ lập tức bảo không cần gọi.
“Ông ta đã bỏ nghề. Lại hay uống. Chờ ông ta chỉ phí một ngày.”
Cẩn gõ trượng, chỉ chiếc trống rồi chỉ đường.
Hùng hỏi: “Ông Thạo từng sửa nó?”
Cẩn gật.
Lộ nói: “Chỉ làm việc nặng theo lệnh cai trạm trước.”
“Vậy càng phải nghe,” Thanh đáp.
Nham cưỡi con ngựa nhẹ nhất đi gọi. Tới xế chiều mới trở lại cùng một ông già gầy, râu mọc lởm chởm và mang theo mùi rượu thật. Vừa xuống ngựa, Thạo đã quát:
“Ai hạ trống của ta?”
Bà Vá chống nạnh. “Trống của trạm.”
“Ta ghép nửa cái tang, không của ta thì của bà à?”
“Ông ghép lệch một ngón, ta phải thay dây ba lần.”
“Dây bà se mềm như bún.”
Hai người cãi nhau đến mức Tánh quay sang Hựu hỏi nhỏ: “Cho họ đổi chỗ qua cổng đông không?”
Hựu suýt bật cười, phải ôm sườn.
Thanh để họ cãi hết ba lượt rồi mới hỏi Thạo về đai trong.
Ông già ngồi xuống cạnh trống, men rượu trong mắt biến mất nhanh hơn mọi người tưởng. Ông sờ vòng gỗ, gõ từng chỗ bằng móng tay.
“Đai này không phải để giữ nứt,” ông nói.
Bà Vá phản đối: “Không giữ thì vết đã mở.”
“Bây giờ nó giữ. Lúc đóng vào, tang chưa nứt.”
“Sao ông biết?”
“Ta đóng.”
Lộ chen vào: “Theo lệnh Quân tôi.”
Thạo ngẩng lên. “Quân ông chỉ bảo làm trống kêu thấp hơn. Người bảo đóng đai là ông Cẩn.”
Mọi ánh mắt quay về Cẩn.
Ông chỉ vào cổ mình, rồi chỉ Thạo, sau đó làm động tác khắc lên gỗ.
Thạo gật. “Phải. Sau lần ông ấy mất tiếng.”
Hùng hỏi: “Vì sao đóng đai làm tiếng trống thấp?”
“Vòng trong ép tang. Tiếng không bay xa, nhưng chắc. Trống dùng gọi người quanh trạm, không còn dùng báo qua núi.”
“Và đai che dấu cũ.”
“Che một phần.”
Thanh nhìn Cẩn. “Ông biết?”
Ông gật.
“Vì sao vẫn đóng?”
Cẩn chỉ vết sẹo, rồi chỉ tường. Ông khép hai tay thành mái, đặt một tay dưới như người nằm, tay kia cầm trượng đánh ba nhịp xuống đất.
Thạo dịch: “Năm đó có người tràn qua đèo. Trạm dùng trống lớn gọi các xóm, nhưng tiếng cũng dẫn họ tới. Ông Cẩn bị chém ở cổ khi giữ cổng. Sau đó ông bảo hạ tiếng trống, chỉ gọi người gần tường.”
Một sự im lặng nặng nề phủ xuống sân.
Cẩn đã che một phần dấu để giữ mạng người. Việc sửa không phải lúc nào cũng do kẻ muốn xóa quá khứ. Có khi người ta làm tổn thương vật cũ để cộng đồng còn sống qua một mùa dữ.
Hùng hỏi: “Phần dưới đai còn đọc được không?”
Thạo lấy trong túi một chiếc móc xương cong. Ông luồn nó qua khe, móc vào một lỗ nhỏ mà không ai thấy. Từ trong tang trống, một mảnh gỗ mỏng trượt ra như chiếc lưỡi.
Tánh tròn mắt. “Có ngăn giấu?”
“Không. Có miếng chêm. Ta để khỏi quên chỗ ghép.”
Trên miếng chêm có ba dấu khắc thử. Một dấu giống hình bàn tay. Một dấu là đường cọc. Dấu cuối là vòng mắt chim. Thứ tự: tay – cọc – mắt.
Thanh đặt miếng chêm cạnh các bản dập.
“Ông khắc theo thứ tự trên trống?”
Thạo gật. “Trước khi đóng đai, ta chép ba dấu nằm dưới nó để sau này còn biết.”
“Hình người đâu?”
“Nằm ngoài đai, ai cũng thấy. Ta không chép.”
Hùng xếp lại: hình người ở ngoài; dưới đai lần lượt là bàn tay trên ranh, đường cọc, vòng nhớ. Nhưng vẫn chưa rõ hình người đứng trước hay sau ba dấu kia. Miếng chêm chỉ giữ thứ tự phần bị che.
“Người – Luật – Nhớ,” Thanh nói. “Có thể bàn tay trên ranh là Luật, không phải bản thân đường ranh. Người làm ra hoặc nhận Luật. Rồi cộng đồng giữ Nhớ.”
Hùng đáp: “Cũng có thể Nhớ đứng trước, để Người làm lại Luật cũ.”
“Hoặc vòng ấy không phải Nhớ.”
Cẩn gõ trượng một tiếng, rồi đặt tay lên ngực.
Ông cũng không biết chắc.
Đêm đó, Hùng không ngủ sớm.
Chàng mang các bản dập vào căn phòng sát kho, xếp chúng lên sàn theo mọi thứ tự có thể. Thanh ngồi đối diện, tóc búi đã lỏng. Giữa hai người là đèn dầu, miếng chêm gỗ và những sợi chỉ màu bà Vá cho mượn.
Chỉ đỏ nối những nét có trước lần thay tang. Chỉ trắng nối nét thuộc mảng vá. Chỉ đen đánh dấu phần nằm dưới đai. Mỗi lần đổi hướng trống, cả hệ dấu lại quay theo.
Tánh ngủ gục ngoài cửa, đầu tựa vào cột. Nó đã xin thức giúp nhưng chưa qua nửa đêm đã thua. Hựu nằm trong nhà thuốc. Vịnh và Nham thay nhau canh ngựa.
Thanh nhìn chồng bản dập. “Chúng ta đang tìm một hàng chữ. Có thể nó chưa từng là hàng chữ.”
“Ý Công Thị là gì?”
“Có thể người ta không đọc bằng mắt từ đầu này sang đầu kia. Họ đi quanh trống. Mỗi lần tới một dấu thì làm một việc.”
Hùng nhớ nghi thức Cẩn đã làm trong sân: phiến đá, giếng, cổng, trống. Luật không nằm yên trên một vật; nó sống trong đường người ta đi, chỗ họ đứng và việc họ phải làm với nhau.
“Vậy hướng treo quyết định điểm bắt đầu,” chàng nói.
“Phải. Mà trống đã đổi hướng ít nhất hai lần.”
Họ gọi Cẩn tới. Ông mang theo ba hòn sỏi và một thanh gỗ. Trên sàn, ông đặt sỏi thành hình cổng trạm cũ, trước khi cổng đông bị bịt. Sau đó ông đặt thanh gỗ làm chiếc trống. Mặt có dấu người không hướng ra sân như hiện tại, mà hướng về cổng đông.
Thanh xoay các bản dập.
Khi đặt đúng hướng ấy, ba cụm dấu không còn chồng hỗn loạn. Hình người đứng gần cổng. Bàn tay trên đường ranh nằm kế tiếp. Vòng nhớ ở phía cuối, nơi người đi nghi lễ quay lại sân.
Người bước qua ranh.
Luật giữ cách người bước qua.
Nhớ giữ điều đã được làm để lần sau không phải bắt đầu từ đầu.
Không phải ba mảnh tách rời. Chúng giữ nhau như lớp đất nện nằm giữa hai hàng đá: mắt thường ít nhìn thấy, nhưng thiếu nó, tường chỉ là những hòn đá đứng cạnh nhau.
Hùng nói rất khẽ: “Người – Luật – Nhớ.”
Cẩn đặt tay lên ba bản dập, rồi gật.
Lần này không phải vì ông chắc từng chữ. Ông xác nhận thứ tự của con đường.
Thanh ghi rõ điều ấy: đây là cách đọc từ vị trí trống cũ và nghi thức còn sót, chưa phải nghĩa cuối cùng của các dấu.
Hùng nhìn nàng. “Nếu một nơi khác cũng giữ ba dấu nhưng đi theo thứ tự khác?”
“Thì nơi đó sẽ cho biết phần nào thuộc gốc chung, phần nào do người sau đổi.”
“Ta cần tìm nơi thứ hai.”
Cẩn dùng đầu trượng kéo dấu nhọn trên một bản dập ra ngoài vòng trống. Sau đó ông đặt một hòn sỏi ở phía đông nam mô hình trạm.
Dấu nhọn không nằm trong chuỗi Người – Luật – Nhớ. Nó được thêm sau, như lời chỉ đường của một đời giữ trống.
Nhưng chỉ tới đâu?
Sáng hôm sau, họ tìm phần đuôi dấu nhọn dưới mảng vá.
Bà Vá không cho tháo miếng gỗ. “Tháo là tang trống nở. Các người tìm được đường nhưng làm trống câm luôn thì có đáng không?”
Tánh nói: “Trống đã có ông Cẩn câm—”
Nó tự dừng trước khi hết câu, mặt tái đi.
Cẩn nhìn nó.
“Tôi xin lỗi,” Tánh nói ngay. “Tôi không định lấy chuyện ông không nói được ra đùa.”
Cẩn im lặng—sự im lặng duy nhất ông có thể dùng. Tánh càng cúi thấp.
Một lúc sau, ông đưa cán trượng gõ nhẹ vào vòng dây trắng trên cổ tay nó, rồi chỉ chiếc trống. Ông không tha bằng lời, cũng không làm nó bớt xấu hổ. Chỉ nhắc rằng cả người lẫn vật đều có thể mất tiếng mà vẫn còn điều cần nói.
Tánh lùi ra sau Vịnh, lần này không nói thêm.
Thạo đề nghị soi từ khe đai. Ông mài một mảnh vỏ trai thành mặt phản sáng, buộc vào que tre rồi luồn sau mảng vá. Thanh giữ đèn ở góc thấp. Ánh sáng hắt qua vỏ trai, hiện lên mặt trong một vệt khắc cong.
Họ nhìn từng đoạn, chép lại lên đất.
Đuôi dấu nhọn không phải một đường thẳng. Nó chia thành hai nhánh. Một nhánh đi về đông nam. Nhánh kia vòng xuống nam rồi dừng ở ba chấm.
Lộ nói: “Ba chấm là ba ngày đường. Hướng đông nam rõ rồi.”
Thạo phản đối: “Ba chấm trên trống thường là ba nhịp gọi.”
Bà Vá nói: “Có khi là ba bến.”
Người giữ kho lại nhớ phía nam có ba gò đá. Vịnh bảo đông nam có một đường cũ nhưng mùa mưa gần như không qua được. Nham cho rằng dấu chia hai không phải hai đường, mà là một đường đi và một đường nước.
Ai cũng có lý do.
Không ai có đủ chứng.
Hùng không chọn nghĩa thuận tai nhất. Chàng cho Thanh chép tất cả cách hiểu, ghi tên người nói và điều họ dựa vào. Sau đó chàng trải bản tuyến của đoàn cạnh dấu.
Con đường đông nam dẫn tới một phiên chợ lớn trước ranh Châu kế tiếp. Đường nam dẫn xuống chuỗi bến nhỏ rồi cũng vòng về khu chợ ấy. Hai nhánh khác nhau nhưng gặp cùng một vùng.
“Ta tới chợ,” Hùng nói. “Không khẳng định dấu chỉ chợ. Chỉ coi đó là nơi gần nhất có thể hỏi cả người đường bộ lẫn người đường nước.”
Vịnh hỏi: “Đi nhánh nào?”
“Vịnh quyết theo người bệnh và thời tiết.”
Vịnh chọn đường nam. Dài hơn nửa ngày nhưng ít dốc, có ba bến để nghỉ cáng Hựu. Dấu nhọn chưa được giải, nhưng quyết định đường đi không cần giả vờ rằng nó đã rõ.
Trước khi đoàn rời trạm, người Dốc Sim mang tới hai giỏ gạo đổi lấy muối. Người Bờ Đá góp dây và một tấm áo dày cho Hựu. Không ai gọi đó là bồi thường. Họ chỉ đặt vật xuống kho chung, để người giữ kho chia.
Lộ đứng cạnh cổng đông mới mở, không còn chắn đường. Khi Hùng đi qua, ông ta cúi đầu.
“Công Tự có mang chuyện của tôi về thành trung tâm không?”
“Ta mang chuyện của trạm,” Hùng đáp. “Trong đó có phần ông làm sai, cũng có phần ông cùng sửa.”
Lộ ngẩng lên, ngạc nhiên.
“Nếu chỉ ghi ông là kẻ xóa lệ,” Hùng nói, “ta cũng sẽ phạm điều mình vừa học từ chiếc trống.”
Lộ nuốt khan. “Nhưng phần sai vẫn được mang về?”
“Có.”
“Công Tự không thể bớt một dòng?”
Hùng nhìn cổng đông vừa mở. Một ấu nhỏ đang rón rén bước qua, tay nắm chặt vạt áo người đàn bà đi trước.
“Nếu bớt dòng ấy, lần sau người ta lại xây kín cổng và bảo chưa từng có ai mắc ở ngoài.”
Lộ cúi đầu. “Vậy… xin ghi cả việc ta đã mở lại.”
“Ta sẽ ghi.”
Cẩn đứng phía trong tường. Ông gõ trượng ba lần khi đoàn đi qua: một nhịp cho người lên đường, một nhịp cho ranh được giữ, một nhịp cho điều phải nhớ.
Không ai dịch thành lời. Nhưng lần này, mọi người trong đoàn đều hiểu đủ để bước tiếp.
Ba ngày sau, họ tới phiên chợ nằm giữa đường bộ và bến nước.
Chợ đông đến mức tiếng mặc cả vọng ra ngoài hàng rào tre. Người bán cá ngồi cạnh thợ rèn. Thuyền chở gạo ghé sát bãi gia súc. Trên một cột cao treo ba tấm thẻ chỉ ba lối đi, trong đó có một dấu nhọn gần giống vết sau lưng trống—nhưng đầu dấu quay ngược.
Tánh vừa nhìn thấy đã định gọi. Nó nhớ lời dặn, đi tới cạnh Thanh trước.
“Công Thị xem cái kia.”
Thanh nhìn theo, chưa kịp trả lời thì giữa chợ vang lên tiếng khóc của một đứa trẻ.
Một bé gái ôm chiếc giỏ rách, đứng giữa ba quầy hàng. Người bán gạo kéo nó về phía mình. Người bán cá giữ cánh tay còn lại. Một bà làm bánh chắn trước mặt cả hai.
“Ấu ở quầy tôi hai mùa,” người bán gạo nói.
“Quân nó mắc nợ thuyền cá, nó phải về với chúng tôi,” người bán cá đáp.
Bà làm bánh quát: “Cả hai chỉ nhớ phần nó làm được. Lúc nó sốt, ai mang cháo?”
Đứa trẻ khóc không thành tiếng.
Trên cột chợ có treo một bản lệ mới, chữ còn rất rõ.
Theo đúng mặt chữ, chỉ một trong ba người có quyền giữ nó.
Nhưng bàn tay đứa trẻ đang nắm cả ba vạt áo.

💬 Bình luận (0)