Người đàn ông áo xám gõ cán trượng xuống đất lần thứ ba.
Cổng trạm mở.
Không ai hỏi ông vừa ra lệnh gì. Hai người trực cổng lập tức chạy tới đón cáng Hựu, một người dắt ngựa, người còn lại gọi người đun nước. Họ hiểu từng cái nghiêng đầu, từng lần bàn tay ông khép mở. Chỉ đoàn của Hùng đứng giữa sân, nhìn chuỗi động tác ấy như nhìn một hàng chữ đã mất quá nửa.
Ông chỉ Hựu, úp hai bàn tay lên ngực rồi tách ra. Bách đoán trước.
“Ông hỏi vết thương có vào phổi không?”
Người áo xám gật.
“Chưa thấy khí lọt qua vết. Nhưng Hựu mất nhiều máu.”
Ông quay sang một phụ nữ giữ chìa khóa kho, chạm hai ngón tay vào cổ mình, rồi chỉ căn nhà đất ở góc sân. Người phụ nữ hiểu ngay, dẫn Bách đi.
Tánh cúi vai định theo cáng.
Hùng giữ nó lại.
“Mày ở đây.”
Tánh nhìn Hựu được khiêng đi, hai bàn tay bấu vào vạt áo. “Tôi đã hứa đi cạnh Hựu.”
“Tới trạm rồi.”
“Nhưng—”
“Để Bách làm việc.”
Nó đứng lại, vẻ mặt như bị bỏ ngoài cổng dù đang ở giữa sân.
Người áo xám nhìn nó. Ánh mắt ông dừng ở vòng dây trắng trên cổ tay, rồi chuyển sang vết bùn khô trên vai áo. Ông đưa tay lên ngang ngực, bàn tay mở, hạ chậm xuống.
Tánh hỏi nhỏ: “Ông ấy bảo gì?”
Vịnh đáp: “Chắc bảo mày đừng chạy.”
Người áo xám lắc đầu.
“Vậy bảo tôi cúi xuống?”
Ông lại lắc.
“Ông nói được không?”
Cả sân im đi một nhịp.
Tánh vừa hỏi xong đã nhận ra. Vết sẹo trên cổ người đàn ông kéo lệch da mỗi khi ông nuốt. Ông không giận. Chỉ dùng đầu trượng viết lên nền đất hai nét Khoa Đẩu ngắn.
Thanh đọc: “Cẩn.”
Người đàn ông chạm tay lên ngực mình.
“Tên ông là Cẩn,” nàng nói.
Ông gật.
Tánh gãi tai. “Tôi là Tánh.”
Cẩn chỉ vòng dây trắng, rồi chỉ nó.
“Mượn thôi,” Tánh giải thích. “Chưa phải của tôi.”
Khóe mắt Cẩn hơi nhíu lại. Có lẽ đó là cách ông cười.
Trạm đá không lớn, nhưng tường dày hơn bất cứ trạm đường nào đoàn từng qua.
Đá xếp thành hai lớp, giữa nhồi đất nện. Cổng chỉ vừa một xe lọt, có rãnh để hạ cây chắn ngang. Phía trong là kho lương, nhà thuốc, chuồng ngựa và một sân hình vuông. Một giếng cạn nằm đúng giữa sân, miệng giếng được đậy bằng phiến đá tròn.
Vịnh đi một vòng tường rồi trở về.
“Chỗ này không chỉ để đổi ngựa.”
Một người trực trạm nghe thấy, đáp: “Trước kia là chỗ tránh giặc, tránh thú. Khi lũ xuống, người ba xóm cũng chạy lên đây.”
“Ai coi trạm?” Hùng hỏi.
Người ấy chỉ Cẩn, rồi chần chừ. “Việc người và việc lệ do ông Cẩn giữ. Kho và đường do Cai trạm Lộ giữ.”
“Cai trạm đâu?”
“Sang xóm Bờ Đá gọi người. Sáng nay lại có chuyện.”
Như để trả lời, ngoài cổng vang lên tiếng cãi. Hai nhóm người cùng kéo tới. Một nhóm từ phía dốc, quần áo dính bùn đỏ; nhóm kia từ con đường thấp, mang theo cuốc và giỏ đá. Giữa họ là một cậu bé ôm cánh tay bị rách, máu đã khô tới khuỷu.
Người đi đầu nhóm dưới là một người đàn ông béo, chân đi guốc gỗ dù đường còn ướt. Ông ta vừa vào sân đã nói lớn:
“Ông Cẩn, người Dốc Sim lại phá tường lấy đá. Lần này có người bị thương, không thể bỏ qua.”
Một phụ nữ phía nhóm trên đáp ngay: “Tường đổ chặn mạch nước. Chúng tôi chỉ dỡ chỗ đã sập.”
“Đá trạm là đá trạm.”
“Nước dưới chân dốc là nước của cả ba xóm.”
“Ai bảo?”
“Ai khát thì biết.”
Hai bên ồn lên. Cẩn gõ trượng một tiếng.
Âm thanh không lớn, nhưng sân trạm lập tức lặng xuống.
Người đàn ông béo lúc ấy mới thấy Hùng và Thanh. Ông sửa vạt áo, cúi chào.
“Tôi là Lộ, cai trạm. Không biết Công Tự, Công Thị tới, để phải nhìn việc rối.”
Hùng đáp: “Đoàn có người bị thương nên xin trú. Việc trong trạm, ông cứ xét theo lệ.”
Lộ liếc Cẩn. “Ông Cẩn không còn tiếng, nhiều nghi thức chỉ mình tôi hiểu. Việc này vốn rõ: người Dốc Sim lấy đá tường, làm một ấu Bờ Đá bị thương. Phải bồi đá, bồi gạo, rồi cấm lên tường.”
Người phụ nữ Dốc Sim bước ra. “Ấu bị thương vì ném đá vào chúng tôi trước.”
Cậu bé hét: “Họ kéo đá làm tôi ngã!”
“Mày đứng trên mép tường ném xuống.”
“Tường của trạm, không phải của các người!”
Một người trực trạm đưa Dại ra mép sân, rửa vết rách rồi băng cánh tay cho cậu. Dại vẫn nhìn chằm chằm Sâm.
Cẩn gõ trượng lần nữa. Ông chỉ ba vị trí trong sân: phiến đá cạnh cổng, miệng giếng và một chiếc trống gỗ treo dưới mái hiên. Sau đó ông dùng bàn tay vạch một đường ngang trước ngực, chạm đầu trượng xuống đất, rồi xoay cổ tay.
Lộ nói ngay: “Ông Cẩn bảo người phá ranh phải đứng ngoài ranh. Đúng lệ cũ.”
Người Dốc Sim phản đối. Cẩn quay sang Lộ, lắc đầu mạnh.
“Không phải?” Thanh hỏi.
Cẩn đưa hai ngón tay lên, chạm vào tai, rồi chỉ cả hai nhóm.
Lộ cười gượng. “Ông ấy muốn nghe đủ hai bên trước khi phán.”
Cẩn vẫn lắc đầu.
Tánh thì thầm với Vịnh: “Ông ấy nói gì cũng bị ông béo đổi mất.”
Lộ nghe thấy. Mặt ông ta đỏ lên. “Ấu này là ai?”
“Người dẫn đoàn qua núi,” Hùng đáp.
Tánh ngẩng đầu, không ngờ chàng vẫn gọi mình như thế.
Hùng nói tiếp: “Nó đang chịu xét vì đã giấu nguy hiểm trên đường. Ông đừng dùng nó để đổi việc trước mặt.”
Lộ im ngay.
Thanh bước tới giữa sân. “Ông Cẩn có thể viết không?”
Người trực trạm đáp thay: “Viết được tên, số và vài chữ ngắn. Cổ tay ông từng bị thương, viết lâu sẽ run. Nghi thức cũ ông chỉ nhớ bằng động tác.”
“Không ai khác từng học?”
“Có. Người thì chết, người đi khỏi. Cai trạm trước hiểu nhiều nhất.”
Lộ lên tiếng: “Quân của tôi giữ trạm trước ông Cẩn. Tôi theo từ nhỏ, biết những việc cần biết.”
Cẩn nhìn ông ta, ánh mắt không biểu lộ gì.
Thanh hỏi: “Vậy xin ông làm lại đúng trình tự. Không ai nói thay cho tới khi ông dừng.”
Cẩn nhìn nàng, rồi gật.
Ông bắt đầu ở phiến đá cạnh cổng.
Cẩn đặt cán trượng ngang mặt đá, mời người phụ nữ Dốc Sim đứng một bên và cậu bé Bờ Đá đứng bên kia. Ông chạm tay vào ngực người phụ nữ, chỉ phiến đá, rồi úp lòng bàn tay xuống.
Người phụ nữ nhìn Lộ.
“Ông ấy bảo Công Thị nhận tội đã lấy đá,” Lộ nói.
Cẩn đập cán trượng xuống đất.
“Không đúng,” Thanh nói. “Nếu là nhận tội, vì sao ông Cẩn giận?”
Lộ đáp: “Có lẽ người đứng sai chỗ.”
Cẩn tự chỉ ngực, chỉ phiến đá, rồi úp tay lần nữa. Sau đó ông đợi.
Người phụ nữ thử nói: “Tôi, Sâm, người Dốc Sim, đã dỡ mười hai hòn đá ở đoạn tường đông.”
Cẩn gật.
Thanh chép lời ấy. “Động tác đầu là đặt lời của người vào một chỗ.”
Lộ nói: “Là nhận việc mình làm.”
“Chưa chắc là nhận tội,” Hùng đáp.
Cẩn chuyển sang cậu bé. Cậu tên Dại, khoảng mười một tuổi. Khi ông chạm tay vào ngực rồi chỉ phiến đá, Dại nói mình đứng trên tường giữ đá, bị người Dốc Sim kéo chân nên ngã.
Sâm quát: “Không ai chạm chân mày!”
Cẩn giơ tay. Bà nén lời lại.
Ông dùng đầu trượng vạch một đường từ phiến đá tới giếng. Đi được nửa đường, ông dừng, quay lưng về phía hai người, hai bàn tay đặt sau lưng. Một tay nắm lại, tay kia mở ra. Rồi ông đổi bên.
Lộ giải thích: “Một bên đúng, một bên sai. Ông Cẩn đang cân.”
Cẩn không lắc đầu, cũng không gật. Ông tiếp tục tới miệng giếng, quỳ xuống, chạm ba ngón tay lên phiến đá đậy giếng. Sau đó ông nhìn quanh sân như chờ ai đó.
Không ai bước ra.
Ông lặp lại động tác.
Một bà già Bờ Đá nói: “Ông ấy gọi người thấy việc.”
Lộ đáp: “Không có ai thấy từ đầu. Chỉ hai bên cãi nhau.”
Người Dốc Sim xôn xao. Một người đàn ông trẻ giơ tay rồi bị Sâm kéo xuống.
Thanh thấy. “Người biết gì?”
Người ấy ngập ngừng. “Tôi chỉ thấy Dại nhặt đá. Không thấy nó ném.”
Dại kêu lên: “Người nói dối!”
Lộ quát: “Không thấy từ đầu thì không được đứng vào.”
Cẩn chống trượng đứng dậy, bước tới người đàn ông trẻ. Ông chạm hai ngón tay vào mắt mình, rồi vào tai, cuối cùng đặt bàn tay lên vai người ấy.
Người ấy nói nhỏ: “Tôi nghe Dại dọa đập đầu người lấy đá. Khi quay lại, tôi thấy nó cầm đá. Sau đó tường trượt.”
Cẩn dẫn người ấy tới giếng.
“Bước thứ hai là gọi người thấy, người nghe,” Thanh nói.
“Ai mà chẳng bịa được đã nghe gì,” Lộ đáp. “Bởi vậy lệ cũ mới giao cai trạm chọn người đáng tin.”
Cẩn quay phắt lại. Đầu trượng của ông chỉ thẳng vào ngực Lộ.
Cai trạm thoáng tái mặt.
“Ông ấy nói tôi là người giữ việc nên phải đứng ra,” Lộ chữa.
Cẩn kéo đầu trượng thành một vòng trên đất, khoanh cả Lộ vào trong. Rồi ông chỉ người Dốc Sim, người Bờ Đá, những người trực trạm và cả đoàn của Hùng. Cuối cùng ông đập đầu trượng lên vòng đất.
Thanh nhìn dấu vòng. “Không phải ông chọn một người đáng tin. Mọi người có mặt đều bị giữ trong cùng một ranh. Ai biết mà giấu cũng thuộc việc.”
Sân trạm im phăng phắc.
Người đàn ông trẻ nhìn xuống chân. Bà già Bờ Đá tránh mắt Dại. Hai người trực trạm trao nhau một cái nhìn rất nhanh.
Lộ cười gượng. “Công Thị chưa biết hết động tác. Vòng ấy cũng có thể là giữ người ngoài việc không được xen vào.”
“Có thể,” Thanh nói. “Vì vậy chưa ai được tự nhận phần mình hiểu là toàn bộ.”
Tánh đứng gần cổng, nghe câu ấy liền nhớ cột đá dưới bến.
Một nửa lệ có thể đúng mà vẫn làm người khác bị oan.
Tới bước ở chiếc trống, mọi việc càng rối hơn.
Chiếc trống không lớn, mặt da đã sẫm màu khói. Nó được treo ngang dưới mái, hai đầu dây đỡ móc vào xà gỗ. Một mặt trống hướng ra sân, mặt kia gần sát tường.
Cẩn đặt trượng dưới trống. Ông chạm vào tai, rồi vào miệng mình. Vết sẹo trên cổ kéo căng. Sau đó ông đánh lên mặt trống ba nhịp: một tiếng mạnh, một tiếng nhẹ, một tiếng mạnh.
Lộ nói: “Ba tiếng là phán xong. Mạnh, nhẹ, mạnh nghĩa là bên phá tường chịu hai phần, bên giữ tường chịu một.”
Sâm phản đối ngay. “Ai đặt ra cách tính ấy?”
“Lệ trạm.”
Cẩn quay sang Lộ, dựng trượng đứng, hai bàn tay ép vào nhau.
“Ông ấy xác nhận,” Lộ nói.
Cẩn đột ngột giật cây trượng khỏi tay mình, ném xuống đất.
Mọi người sửng sốt.
Ông cúi nhặt lại, mặt đỏ lên vì tức. Rồi ông lặp động tác hai bàn tay ép vào nhau, nhưng lần này chậm hơn: một bàn tay đứng yên, bàn kia áp tới, dừng trước khi chạm, lùi ra, rồi mới khép lại.
Vịnh nói: “Có một bước ở giữa.”
Cẩn gật mạnh.
“Bước nào?” Hùng hỏi.
Ông chỉ phiến đá, giếng, trống. Rồi dùng trượng nối ba chỗ thành một đường. Nhưng đường ông vạch không đi thẳng. Từ phiến đá tới giếng, nó vòng qua sát cổng. Từ giếng tới trống, nó lại vòng qua mép tường phía đông.
Lộ nói: “Chỉ là đường đi nghi lễ. Cổng đông đã bị bịt từ lâu nên không làm đủ được.”
Cẩn chỉ vào ông ta, sau đó lấy hai tay che mắt mình.
Tánh bật cười. “Ông ấy bảo ông giả mù.”
Lộ quắc mắt. “Mày hiểu được sao?”
“Không. Nhưng nhìn giống lắm.”
Vài người Dốc Sim bật cười theo. Hùng liếc Tánh. Nó ngậm miệng, nhưng mắt vẫn sáng.
Thanh đi lại đường Cẩn vừa vạch. Phiến đá là nơi hai bên đặt lời. Giếng là nơi người thấy, người nghe bước vào cùng ranh. Trống có thể là nơi lời phán được công bố hoặc được ghi nhớ. Nhưng giữa ba chỗ còn một động tác mà không ai hiểu.
Nàng hỏi người trực trạm: “Cổng đông bị bịt khi nào?”
“Sau lần lở núi bảy mùa trước. Tường đông sập, cai trạm cho xây kín vì lối ấy không còn dùng.”
“Ai làm cai trạm khi đó?”
Người trực trạm nhìn Lộ.
Lộ đáp: “Tôi. Bịt cổng để giữ trạm. Nếu để hở, thú và kẻ trộm đều vào được.”
Cẩn chống trượng, đi nhanh về phía tường đông. Mọi người theo sau.
Đoạn tường đang tranh chấp nằm đúng nơi ấy. Đá chân tường lún xuống vì nước từ sườn dồn lại. Một khe nước nhỏ bị chặn sau lớp đá, tràn bùn vào phía Dốc Sim. Mười hai hòn Sâm đã dỡ tạo thành một lỗ thấp. Nước đang chảy qua đó, đục đỏ.
Cẩn chỉ lỗ tường, rồi chỉ con đường nghi lễ ông vừa vạch.
Thanh hiểu ra trước nhưng chưa nói. Nàng cúi xem nền đất. Dưới lớp bùn có hai phiến đá phẳng đặt song song, mép đá mòn lõm như từng bị nhiều bàn chân giẫm qua.
“Cổng đông từng là một phần của việc xét,” nàng nói.
Lộ đáp: “Chỉ là lối phụ.”
“Nếu chỉ là lối phụ, vì sao đường nghi lễ phải vòng qua đây?”
“Người xưa thích đi vòng.”
Tánh nghe vậy liền nhặt một cành cây làm trượng.
“Tôi làm lại xem.”
Vịnh nắm vai nó. “Đừng phá thêm gì.”
“Tôi chỉ đi.”
Nó bắt chước Cẩn: đặt cành ngang phiến đá cạnh cổng, chạm ngực, úp tay. Rồi bước tới giếng, làm động tác gọi người thấy. Đám trẻ trong sân nhìn thích thú, bắt đầu làm theo. Tánh vênh mặt, cố nhớ nhịp đánh trống.
“Mạnh, nhẹ, mạnh,” nó nói.
Cẩn lắc đầu.
“Không phải à?”
Ông chỉ cổng đông.
Tánh kéo cành cây sau lưng, vừa đi vừa quay lại nhìn Cẩn nên vấp vào rãnh thoát nước. Nó loạng choạng, bước xuyên qua lỗ tường, một chân ở trong, một chân ở ngoài. Đám trẻ cười ầm.
Xấu hổ, Tánh quay người định bước vào. Cẩn đập trượng xuống đất liên tiếp.
Tất cả im bặt.
Ông chỉ Tánh, chỉ bàn chân ngoài tường, rồi áp hai tay vào nhau. Lần này, không còn khoảng dừng.
Thanh chạy tới. “Đứng nguyên!”
Tánh cứng người trong tư thế nửa trong nửa ngoài.
Nàng nhìn hai phiến đá dưới chân nó. Một phiến nằm trong tường, một phiến nằm ngoài. Giữa chúng có một rãnh hẹp, vừa đủ đặt cán trượng.
“Không phải đi vòng cho đủ lễ,” nàng nói. “Phải đưa lời qua khỏi tường.”
Hùng bước tới. “Để làm gì?”
Cẩn dùng trượng chỉ Sâm, rồi chỉ phần đất Dốc Sim ngoài tường. Ông kéo Tánh hẳn ra ngoài, quay nó nhìn vào sân. Tiếp đó ông gọi Dại đứng bên trong, đối diện Tánh qua lỗ tường.
Thanh nói chậm: “Người trong ranh phải nghe người đứng ngoài ranh. Rồi đổi chỗ.”
Cẩn gật.
Vịnh nhìn Lộ. “Cổng bị bịt, bước ấy biến mất.”
“Không cần bước ấy vẫn xét được,” Lộ nói. “Người hai bên đều vào sân.”
Sâm cười khô. “Vào sân của ông, qua cổng của ông, đứng trước người của ông.”
Lộ quay sang Hùng. “Công Tự, đây chỉ là cách hiểu của họ. Thành phải có trong và ngoài. Nếu ai ở ngoài cũng có quyền nói như người trong, còn dựng tường làm gì?”
Hùng đặt tay lên lớp đá lạnh. “Tường giữ người khỏi thú dữ và giặc. Không phải để người bên trong khỏi nghe người bên ngoài.”
Cẩn nhìn chàng, chống đầu trượng xuống một phiến đá. Rồi ông chỉ ba chỗ lần lượt: phiến đá đặt lời, giếng gọi người biết, cổng đổi chỗ. Cuối cùng mới chỉ chiếc trống.
Ba bước trước tiếng trống.
Lộ đã bỏ một bước và biến ba nhịp trống thành một phép chia có lợi cho người giữ trạm.
Cuộc xét được làm lại từ đầu.
Sâm đứng ở phiến đá, nhận mình đã dỡ mười hai hòn tường mà không báo trạm. Dại nhận mình đứng trên tường ngăn họ nhưng vẫn không nhận đã ném đá.
Ở giếng, người đàn ông Dốc Sim kể điều đã thấy và nghe. Sau đó, một người trực trạm trẻ bước ra. Người ấy thú nhận trước khi tường trượt, Dại đã lấy ba hòn đá nhỏ từ giỏ, nhưng vì quay đi gọi Lộ nên không thấy Dại ném hay chưa.
Một bà già Bờ Đá lại nói nước ở chân tường đã dâng ba ngày. Bà từng bảo người trực mở rãnh nhưng bị từ chối vì chưa có lệnh cai trạm.
Tới cổng đông, Cẩn cho Sâm đứng trong, Dại đứng ngoài. Sâm phải nói lại lời của Dại như mình hiểu. Bà nói cậu sợ người Dốc Sim lấy hết đá, tường hở sẽ khiến thú vào trạm. Dại nghe xong, vẻ giận giảm đi một chút.
Rồi hai người đổi chỗ.
Dại phải nói lại lời Sâm. Cậu lúng túng rất lâu mới nói được rằng nước bị tường chặn đã tràn vào bếp, làm hỏng gạo và khiến người Dốc Sim sợ cả sườn đất đổ xuống nhà.
“Tôi đâu biết bếp họ ngập,” cậu nói.
Sâm đáp: “Mày chưa từng bước qua tường.”
Cẩn đưa trượng ngăn câu tiếp theo. Ông gọi Lộ ra đổi chỗ với người phụ nữ.
Cai trạm không chịu.
“Tôi là người coi tường. Tôi không thuộc bên tranh.”
Cẩn chỉ rãnh nước bị bịt, rồi chỉ ông ta.
Hùng nói: “Ông ra lệnh xây kín cổng. Việc hôm nay có phần của ông.”
Lộ nhìn quanh. Những người trực trạm không ai bước ra bênh. Ông ta đành đi qua lỗ tường.
Đứng ngoài, nhìn lớp đá cao ngang ngực, Lộ không còn thấy sân trạm như nơi mình cai quản. Chỉ thấy những khuôn mặt bên trong nhìn xuống và cánh cổng chính ở xa khỏi tầm tay.
Sâm yêu cầu ông nói lại điều người Dốc Sim sợ.
Lộ im rất lâu.
“Sợ nước dâng.”
“Còn gì?”
“Sợ đất lở.”
“Còn gì?”
Ông ta nghiến răng. “Sợ người trong trạm không nghe.”
Cẩn gõ một tiếng lên đá.
Sau khi mọi người trở lại sân, ông mới tới trống. Ông đánh ba nhịp: một tiếng gọi người, một tiếng giữ lệ, một tiếng giao cho người nhớ. Không ai biết chắc tên của ba nhịp ấy, nhưng sau mỗi tiếng, ông đều chỉ vào một nhóm khác nhau: những người trong việc, những người giữ ranh và những người phải truyền lại.
Thanh không đặt tên thay ông. Nàng chỉ chép đúng động tác và người được chỉ.
Cẩn lần lượt chỉ vào người giữ trạm, đại diện Bờ Đá rồi đại diện Dốc Sim. Ông diễn lại từng phần, chậm đến mức mọi người đều có thể ngăn nếu thấy sai. Chỉ khi lời được nhắc lại từ cả hai phía và không còn ai phản đối, ông mới gõ trượng xuống phiến đá.
Quyết định của trạm được dựng từ những gì đã rõ: Dốc Sim không được tự ý lấy đá nữa; trạm phải mở rãnh thoát nước ngay trong ngày và dựng lại cổng đông đủ cho người đi bộ qua khi xét việc; Dại không bị buộc tội ném đá vì không ai thấy hành động ấy, nhưng phải cùng người trực trạm mang thuốc sang Dốc Sim, nhìn phần bếp bị ngập. Số đá đã dỡ không đưa trở lại chỗ chặn nước mà dùng để xây hai cạnh rãnh.
Những người giữ trạm cũng thống nhất không để Lộ một mình giải thích nghi thức của Cẩn nữa. Từ nay, mỗi lần Cẩn làm động tác, phải có hai người ở hai xóm cùng xác nhận điều họ hiểu; chỗ nào không thống nhất thì để trống, không ai được lấp bằng lời có lợi cho mình. Hùng và Thanh chỉ đứng ngoài vòng người, một người nghe, một người chép lại quyết định ấy.
Không phải mọi người đều vui. Dại vẫn cho rằng mình bị làm nhục. Sâm vẫn muốn trạm bồi số gạo đã hỏng. Lộ đứng cạnh tường, mặt xám như đá ướt.
Nhưng trước khi mặt trời xuống, người Bờ Đá và Dốc Sim đã cùng đào rãnh. Nước đỏ chảy ra ngoài, đất sau tường bắt đầu hạ xuống. Mười hai hòn đá được xếp thành hai hàng giữ mép rãnh, không còn là phần tường bị mất mà thành một ranh mới để bảo vệ cả trong lẫn ngoài.
Tánh đứng nhìn họ làm.
Vịnh tới cạnh nó. “Mày bắt chước sai mà lại tìm ra bước đúng.”
“Tôi cố ý đấy.”
“Ừ.”
“Công Thị không tin à?”
“Ta tin mày cố ý vấp.”
Tánh bật cười, rồi nhớ ra điều quan trọng. “Hựu thế nào?”
“Tỉnh. Đòi ăn.”
Nó chạy được hai bước thì dừng, quay lại nhìn Vịnh.
“Tôi vào được không?”
“Mày hỏi ta làm gì?”
“Công Tự bảo nghe Công Thị.”
Vịnh nhìn nó một lúc. “Vào. Đi chậm.”
Tánh đi thật chậm được ba bước, rồi chạy mất.
Hựu ngồi dựa vách, tay ôm bát cháo loãng.
Tánh bước vào nhà thuốc, đứng cách cáng hai bước.
“Hựu còn giận không?”
Hựu húp một ngụm. “Còn.”
“Hựu ăn được rồi.”
“Giận đâu cần nhịn ăn.”
“Vịnh bảo tôi có thể đi tiếp.”
“Vịnh nói thế?”
“Vịnh bảo vào. Đi chậm.”
Hựu bật cười rồi nhăn mặt vì đau. “Mày giỏi đổi lời thật.”
Bách đang giã thuốc ở góc nhà nói: “Vịnh chỉ cho nó vào đây.”
Tánh lườm ông. “Bách nghe hết à?”
“Tai ta chưa bị thương.”
Hùng và Thanh bước vào sau đó. Tánh lập tức thôi cãi.
Hùng hỏi Bách trước. Hựu chưa thể đi bộ, nhưng có thể nằm cáng tới xóm gần nhất sau hai ngày nghỉ. Vết thương không sốt. Người sốt từ trước cũng đã hạ nhiệt.
“Còn Tánh?” Hùng hỏi.
Bách nhìn nó. “Sức khỏe tốt. Bệnh nhiều lời chưa khỏi.”
“Tôi hỏi nó có được theo đoàn không.”
“Việc ấy Công Tự hỏi Vịnh và Hựu.”
Vịnh đứng ở cửa. “Cho nó đi. Nhưng hết Cương Châu mới xét lại. Nó không được dẫn đường một mình, không được tự rời hàng. Biết mà giấu, quay về ngay.”
Hùng nhìn Hựu.
Người lính đặt bát xuống. “Tôi chưa tha. Nhưng nếu đuổi nó về bây giờ, người gánh cáng tôi lại thiếu một.”
Tánh quay sang Hùng, cố đứng thật yên.
“Mày nghe rõ chưa?” chàng hỏi.
“Rõ.”
“Nhắc lại.”
Tánh nhắc đủ ba điều của Vịnh. Lần này nó không thêm rằng mình sẽ làm được. Nó chỉ nói:
“Tôi xin giữ.”
Hùng gật. “Vậy đi tiếp.”
Tánh cúi đầu rất nhanh, như sợ mọi người thấy mắt nó sáng lên.
Vịnh dúi vào tay nó nửa củ nước còn lại. “Đừng mừng sớm. Mày vẫn đi cuối hàng.”
“Đi cuối cũng là đi.” Nó cắn một miếng, vừa nhai vừa nói nên bị sặc.
Bách vỗ lưng nó một cái đến bật cả người. “Không ai đuổi mà tự nghẹn chết thì ta không chữa đâu.”
Tánh ho đến chảy nước mắt, vẫn cố ôm củ nước khỏi rơi. Cẩn nhìn nó, khóe mắt nhăn lại. Ông không cười thành tiếng, chỉ gõ cán trượng một nhịp nhẹ xuống nền.
Chiều hôm ấy, Thanh trở lại chiếc trống.
Cẩn đang ngồi dưới mái hiên, lấy giẻ lau mặt da trống. Sau cuộc xét, vẻ mỏi mệt làm vết sẹo trên cổ ông càng sâu. Thanh đặt bản chép trước mặt ông, đọc từng động tác đã ghi. Chỗ nào đúng, ông gõ một nhịp. Chỗ nào chưa chắc, ông đặt bàn tay lên thẻ.
Khi nàng đọc tới ba tiếng trống cuối, Cẩn giữ tay nàng lại.
Ông chỉ mặt trống, rồi chỉ phía sau.
“Mặt kia?” Thanh hỏi.
Cẩn gật.
Mặt sau trống gần sát tường. Muốn nhìn phải tháo dây, nhưng một đầu dây đã chai cứng vì nhiều năm không động. Nham và Vịnh tới giúp. Tánh cũng chạy theo, nhưng vừa giơ tay đã bị Vịnh nhìn. Nó tự lùi lại.
Họ hạ trống xuống một tấm chiếu.
Phần gỗ phía sau không nhẵn như mặt trước. Trên tang trống có nhiều vết khắc chồng lên nhau: nét sâu đã đen, nét nông còn sáng, có chỗ bị đục bỏ rồi khắc lại. Một số dấu giống chữ Khoa Đẩu, số khác chỉ là hình người, đường ranh và một bàn tay mở.
Thanh dùng khăn lau lớp bụi mỏng. Ba cụm dấu hiện ra dưới vành trống.
Cẩn chạm lần lượt vào chúng: hình người đứng, một đường có cọc, rồi một vòng dấu nhỏ như mắt chim.
Người. Ranh. Nhớ.
Hay một nghĩa nào gần như thế.
Hùng cúi sát hơn. “Các dấu không cùng một đời.”
Thanh gật. Có nét bị dấu mới cắt ngang. Có hình quay ngược so với phần còn lại. Người sửa trống qua nhiều đời đã giữ lại điều mình hiểu và xóa điều mình cho là thừa. Nếu đọc tất cả như một hàng duy nhất, thứ tự sẽ sai.
Tánh chỉ một vết ở sát mép dưới. “Cái này giống mũi tên.”
“Đừng chạm,” Vịnh nói.
Nó rụt tay. “Tôi chỉ nói.”
Dấu ấy rất nhỏ, nằm sau một mảng gỗ vá. Đầu nhọn quay về phía đông nam, nhưng phần đuôi bị lớp vá che mất.
Cẩn gõ trượng hai lần, chỉ dấu đó rồi chỉ con đường rời trạm.
Thanh nhìn Hùng. Dấu sau lưng trống có thể dẫn họ tới nơi khác, nhưng trước hết phải tách được lớp nào có trước, lớp nào được thêm sau.
Ngoài tường đông, nước vẫn chảy qua rãnh mới. Hai hàng đá giữ đất hai bên, vừa phân ranh vừa cho dòng nước đi qua.
Một bức thành chỉ bảo vệ được người bên trong khi nó biết mình phải mở ở đâu.