Tánh thức trước tiếng gà bờ Tây Lau.
Nó bật dậy khỏi tấm chiếu trải dưới mái kho, quờ lấy vòng dây ông Còng cho mượn rồi mới nhớ mình vẫn đeo nó trên cổ tay. Ngoài bến, lửa thứ hai đã tàn gần hết. Một người Đông Đá đang cúi che than bằng tro để giữ tới tối. Người ấy làm rất chậm, như thể chỉ cần mạnh tay hơn một chút, hơi nóng cuối cùng sẽ bị dập mất.
Tánh nhìn một lát rồi chạy đi tìm đường.
Khi Hùng tỉnh dậy, nó đã trở về với tóc đầy lá khô và một vệt bùn kéo từ đầu gối xuống mắt cá.
“Tôi xem rồi,” nó nói ngay. “Đi được.”
Vịnh đang chia sáu túi gạo thành những bọc nhỏ, không hề ngẩng đầu.
“Mày xem tới đâu?”
“Tới cửa dốc.”
“Cửa dốc chưa phải sườn.”
“Nhìn từ đó thấy hết.”
“Mày có mắt chim à?”
Tánh ngồi xuống trước mặt Vịnh. “Đường khô. Đá không trôi. Dấu thú cũ hết rồi.”
“Còn bẫy?”
Nó chạm ngón tay vào vòng dây trắng. “Tôi biết nhìn.”
Vịnh buộc nút cuối cùng, giật thử hai lần. “Ta hỏi mày có thấy bẫy không.”
“Không thấy.”
“Không thấy vì không có, hay vì chưa đi tới?”
Tánh mím môi.
Thanh đang giúp Bách thay thuốc cho người sốt, nghe tới đó liền ngẩng lên. Hùng bước ra khỏi mái kho, nhìn lớp mây thấp mắc trên sườn núi.
“Vịnh đi xem cửa đường,” chàng nói. “Ta đi cùng.”
Tánh đứng phắt dậy. “Tôi dẫn.”
“Mày chỉ chỗ. Vịnh xem.”
“Tôi vừa xem rồi.”
“Vậy đi lần nữa không mất gì.”
Nó muốn nói mất mặt, nhưng biết nói ra sẽ càng mất mặt hơn. Nó đá một viên sỏi xuống bến rồi đi trước.
Đường tới sườn Đá Mèo bắt đầu từ một bãi lau mọc cao quá đầu người. Sương sớm đọng trên lá quất vào vai áo lạnh buốt. Tánh lách qua một chỗ gần như không có lối. Hùng phải nghiêng người mới tránh được các ngọn lau cứa vào mặt. Vịnh không nhìn theo lưng Tánh mà chỉ nhìn đất.
Qua bãi lau là một khe đất đỏ. Hai bên vách có rễ cây lộ ra như những ngón tay bấu vào đá. Tánh bước nhanh, thỉnh thoảng quay lại giục bằng ánh mắt. Vịnh cứ đi được mười bước lại dừng, dùng đầu sào gạt lá mục.
“Nếu đi kiểu này,” Tánh càu nhàu, “đến tối vẫn chưa qua.”
“Còn đi kiểu mày, có khi trước trưa đã xuống chân núi bằng đầu.”
Hùng giấu một nụ cười. Tánh thấy được, càng đi nhanh hơn.
Tới cửa dốc, Vịnh giữ vai nó lại.
Trước mặt họ, sườn núi nghiêng về phía vực cạn. Con đường chỉ là một dải đất lẫn đá chạy dưới vách, nhiều chỗ vừa đủ cho một con ngựa đặt chân. Phía dưới không sâu đến mức nhìn không thấy đáy, nhưng đủ để làm gãy cổ bất kỳ ai ngã xuống. Cây thấp mọc chằng chịt, cành cong vì gió.
Vịnh quỳ xuống cạnh một hòn đá có rêu bị xước.
“Dấu mới.”
Tánh cúi nhìn. “Dê rừng.”
“Dê không dùng dao cắt dây leo.”
Vịnh kéo từ bụi cỏ ra một đoạn dây mây đã bị chặt, đầu cắt còn sáng. Gần đó có vết chân người, mũi bàn chân xoay ngang để bám dốc.
Hùng hỏi: “Thợ săn?”
“Có thể.” Vịnh nhìn Tánh. “Mày nói dấu cũ hết rồi.”
“Tôi không thấy cái này.”
“Vì mày chưa tới đây.”
Nó im.
Vịnh đi thêm một quãng ngắn rồi tìm thấy hai cọc gỗ nhỏ đã nhổ khỏi đất, lá khô được kéo phủ lên một hố cũ. Bẫy không còn hoạt động, nhưng người đặt bẫy mới rời chưa lâu.
“Đường đi được,” Vịnh nói, “nếu bỏ xe, dắt ngựa từng con và để người biết bẫy đi trước. Nhưng trời phải không mưa. Đoàn phải qua khỏi đoạn vách trước giữa trưa.”
Hùng nhìn mây. “Có kịp không?”
“Nếu lên đường ngay.”
Tánh ngẩng phắt đầu, vẻ đắc thắng vừa ló ra.
Vịnh nói tiếp: “Mày đi giữa. Không đi đầu.”
Vẻ đắc thắng tắt ngay.
“Đường của tôi.”
“Vì là đường của mày nên mày đã giấu điều chưa biết.”
“Tôi chỉ—”
“Mày chỉ muốn người ta phải dùng đường của mày.”
Tánh đỏ mặt. Nó quay đi, nhưng Hùng gọi lại.
“Nếu còn điều gì chưa nói, nói bây giờ.”
“Không còn.”
“Nghĩ kỹ.”
“Không còn.”
Hùng không ép thêm. Chàng để Vịnh quyết đoàn sẽ đi, rồi cùng họ trở lại bến.
Không ai thấy Tánh ngoái nhìn một nhánh đường nhỏ rẽ lên cao, nơi cỏ bị ép xuống thành một vệt mảnh. Nó biết vệt ấy. Mùa khô năm trước, nó từng dùng lối đó để vòng qua đoạn vách. Nó cũng biết trên ấy có bẫy lợn rừng.
Nhưng bẫy năm trước hẳn đã mục.
Hẳn thế.
Đoàn rời bến khi hơi sương còn chưa tan khỏi mặt nước.
Xe hàng được gửi lại kho chung. Những hòm thẻ, thuốc và lương được chia lên lưng bốn con ngựa. Người bị sốt nặng nhất ngồi trên một tấm cáng buộc giữa hai đòn tre; bốn lính thay nhau khiêng. Người còn lại cố đi, Bách bắt buộc dây quanh ngực để một người khỏe giữ phía sau khi qua dốc.
Bà Linh chèo thuyền tới tận cửa lạch. Bà đưa Thanh một gói cá khô nhỏ.
“Không nhiều.”
“Hôm qua bà đã cho rồi.”
“Hôm qua là phần cảm ơn vì nghe. Hôm nay là phần cho người bị sốt.”
Thanh nhận. “Tôi sẽ ghi—”
Bà Linh cau mặt. “Cái gì cũng ghi à?”
Thanh khựng lại, rồi bật cười. “Không. Tôi sẽ nhớ.”
“Vậy được.”
Ông Còng ngồi sau mui, không nhìn Tánh. Chỉ khi thuyền quay đầu, ông mới giơ bàn tay lên. Tánh giơ cổ tay có vòng dây đáp lại.
Lên khỏi bãi lau, Vịnh xếp đoàn thành một hàng rồi đi đầu cùng một người lính tên Nham, vốn từng theo thợ săn. Hùng đi sau hai người. Tiếp đến là ngựa, cáng bệnh, Thanh và Bách. Tánh bị đặt gần cuối, ngay trước hai lính khóa đuôi.
Nó chịu được vị trí ấy chưa đầy một khắc.
“Từ đây lên có một hòn đá giống đầu trâu,” nó nói với người lính sau lưng. “Qua đó phải đi sát vách.”
Người lính gật.
“Rồi có cây bị sét đánh. Đừng bước bên rễ trái.”
“Ừ.”
“Có một chỗ nhìn xuống thấy cả hai bờ.”
“Ừ.”
Tánh quay lại. “Nham chỉ biết nói ừ à?”
“Công Tự bảo mày đi giữa, không bảo ta cãi với mày.”
Người lính phía sau bật cười. Tánh quay phắt lên, giả vờ không nghe.
Đường dốc dần. Tiếng bến sông mất sau lưng, thay bằng tiếng móng ngựa trượt trên sỏi và tiếng thở nặng của người khiêng cáng. Mây không dày thêm, nhưng nắng cũng không xuyên xuống được. Không khí dưới vách lạnh. Chỉ những chỗ người và ngựa đứng sát nhau mới có chút hơi ấm.
Vịnh dừng ở mỗi dấu lạ. Có khi chỉ là một cành cây gãy do thú đi qua. Có khi Vịnh tìm thấy nút dây mây bị bỏ dưới lá. Tánh nhìn từ phía sau, lần nào cũng nhận ra chậm hơn Vịnh một nhịp. Mỗi lần như vậy, vai nó lại căng lên.
Tới hòn đá đầu trâu, đoàn phải dừng vì một con ngựa không chịu bước qua mặt đá trơn. Người giữ cương kéo, nó càng giật lùi. Hòm thẻ trên lưng nghiêng sang một bên.
Tánh len lên.
“Đừng kéo đầu. Che mắt nó.”
Người giữ cương nhìn Vịnh. Vịnh gật.
Tánh cởi áo ngoài phủ lên mắt ngựa, áp bàn tay vào cổ nó. Nó không vuốt ve, chỉ đứng yên cho tới khi nhịp thở con vật chậm lại.
“Bước đi,” nó nói nhỏ. “Đá không ăn mày đâu.”
Con ngựa nhấc chân.
Tánh đi lùi trước mặt nó, từng bước ngắn. Qua khỏi phiến đá, cả đoàn cùng thở ra. Nó tháo áo, vênh mặt nhìn Vịnh.
Vịnh nói: “Làm được.”
Chỉ hai chữ ấy khiến nó cười suốt một quãng.
Qua giữa buổi, họ tới đoạn cây sét đánh. Một nửa thân cây đen sì, nửa còn lại mọc những chồi nhỏ màu đỏ. Vịnh dừng đoàn nghỉ uống nước. Bách sờ trán người bệnh, nói phải tới chỗ kín gió trước khi trời tối.
Hùng hỏi: “Còn bao xa?”
Vịnh nhìn Tánh.
“Đi đường dưới, hơn nửa ngày,” nó đáp. “Nhưng có lối vòng phía trên, qua khỏi vách nhanh hơn.”
Vịnh lập tức hỏi: “Lối mày chưa nói?”
Tánh chống chế: “Vì sáng nay chưa cần.”
“Sáng nay ta hỏi còn gì chưa nói.”
“Tôi nhớ sau.”
Vịnh nhìn thẳng vào mắt nó. Nó chịu được hai nhịp rồi quay đi.
“Lối trên có gì?”
“Bẫy cũ.”
“Bao nhiêu?”
“Hai. Có khi ba.”
“Loại gì?”
“Một hố, một dây kéo chân. Nhưng từ mùa khô năm trước. Chắc mục hết.”
Hùng bước tới. “Vì sao mày giấu?”
“Tôi không giấu.”
“Mày vừa nói sáng nay không còn gì.”
“Vì lối ấy không định đi.”
“Bây giờ lại định?”
Tánh chỉ người nằm trên cáng. “Đi dưới chậm. Bách bảo phải tới chỗ kín gió.”
Bách lên tiếng: “Ta bảo cần tới chỗ kín gió, không bảo đổi sang đường chưa xem.”
Tánh cứng họng.
Vịnh nói: “Đi đường dưới.”
Không ai phản đối. Đoàn lại lên đường.
Tánh đi giữa hàng, cúi đầu nhìn vòng dây trắng trên cổ tay. Khi tay mày lớn, ông Còng đã nói. Nó thấy bực cả ông lão không có mặt.
Rồi từ phía trước vang lên tiếng ngựa hí.
Con ngựa chở hai hòm thuốc giật mạnh cương, quay ngang giữa lối. Một đàn chim từ bụi thấp phía dưới bay vọt lên. Đất đá lăn lạo xạo. Vịnh và Nham ghìm được nó trước khi chân sau trượt khỏi mép.
Đoàn ùn lại.
Phía sau, một người khiêng cáng bước hụt, quỳ xuống. Người bệnh rên khẽ. Bách quát giữ thăng bằng. Mọi người chen trong đoạn đường chỉ vừa một thân ngựa, không thể quay đầu, cũng không thể vượt nhau.
Tánh nhìn lên nhánh rẽ phía trên.
Lối tắt ở ngay đó.
Chỉ cần vượt qua bụi sim, đi chừng một trăm bước rồi xuống lại đường dưới. Nó từng chạy qua không biết bao nhiêu lần. Những chiếc bẫy cũ nằm cao hơn nữa.
Nó luồn khỏi hàng.
Người lính sau lưng gọi: “Mày đi đâu?”
“Xem đường cho Vịnh.”
“Đứng lại.”
Tánh đã bám rễ cây trèo lên. Người lính không thể bỏ vị trí khóa đuôi để đuổi theo. Trong chốc lát, nó biến sau bụi sim.
Lối trên hẹp hơn Tánh nhớ.
Cỏ mọc tới đầu gối, che gần hết mặt đất. Nó dùng cành cây quét phía trước, tìm hố cũ. Cái hố đầu tiên vẫn còn nhưng đã sập một nửa. Cọc nhọn dưới đáy mục đen, có cây nấm nhỏ mọc trên đầu. Tánh cười. Nó đã đúng.
Cái bẫy thứ hai chỉ còn một vòng dây mây rữa, vừa chạm đã đứt. Nó càng chắc rằng cả lối an toàn.
Phía dưới, tiếng người gọi nhau vọng qua vách. Con ngựa vẫn chưa chịu đi. Nếu Tánh tìm được đầu xuống, Vịnh sẽ phải thừa nhận nó cứu cả đoàn khỏi mắc kẹt.
Nó chạy nhanh hơn.
Một cành cây non quất vào mặt. Tánh cúi tránh, không thấy dưới lớp cỏ có một sợi dây mới, mảnh và được nhuộm cùng màu đất.
Ống chân nó kéo căng sợi dây.
Tiếng “phựt” bật lên rất nhỏ.
Tánh chỉ kịp thấy một thân gỗ từ bên sườn lao tới.
Nó nhảy ngược. Khúc gỗ lướt qua bụng, quật trúng hông làm nó lăn xuống dốc. Hai tay nó bấu được một bụi cây. Đất đỏ vỡ dưới chân, đổ lả tả xuống đường dưới.
“Tánh!”
Tiếng Vịnh ở ngay phía dưới.
Nó chưa kịp đáp thì một tiếng hét khác vang lên.
Khúc gỗ sau khi sượt qua Tánh tiếp tục quét xuống. Đầu dây buộc nó mắc vào một thân cây thấp rồi bật đổi hướng, đập trúng người lính đang giữ con ngựa. Người ấy bị hất vào vách, ngã gập xuống. Con ngựa hoảng loạn, giẫm đứt dây cương và lao về phía cáng.
Hùng chụp được dây đeo bên má ngựa. Nham cùng Vịnh ép vai vào sườn nó. Hai chân trước con vật trượt trên đá, tóe bụi. Thanh kéo đầu cáng sát vách. Bách nằm phủ lên người bệnh.
Một khoảnh khắc kéo dài đến nghẹt thở.
Rồi con ngựa dừng lại.
Nó đứng run, bọt trắng đầy mép. Hùng vẫn giữ dây, bàn tay bị cứa chảy máu.
Người lính dưới đất không cử động.
Tánh tụt từ sườn xuống. Mặt nó trắng bệch.
“Tôi không biết có bẫy mới.”
Vịnh quỳ bên người bị thương. “Tránh ra.”
“Tôi—”
“Tránh ra!”
Tánh lùi đụng vào vách.
Bách bò tới. Người lính tên Hựu còn thở, nhưng hơi thở ngắn và có tiếng khò khè. Vai phải lệch hẳn xuống. Một mảnh gỗ nhọn đã xuyên qua áo ở cạnh sườn, máu thấm thành vệt sẫm.
“Không rút,” Bách nói. “Ai rút, người ấy giết Hựu.”
Hùng giao ngựa cho Nham rồi bước tới. Chàng nhìn Hựu, nhìn sợi dây bẫy còn rung trên cao, cuối cùng nhìn Tánh.
“Mày đã được bảo đứng giữa.”
Tánh cúi đầu. “Tôi muốn xem đường.”
“Mày muốn khoe rằng đường của mày nhanh.”
“Tôi không định—”
“Không ai định làm người khác chảy máu!” Tiếng Hùng dội vào vách đá. “Nhưng mày đã giấu bẫy, tự ý rời hàng, rồi chạy lên một lối chưa ai xem. Mày tưởng chỉ cần khỏe, nhanh và biết vài hòn đá là đủ giữ mạng người sao?”
Tánh chưa từng thấy chàng giận như vậy. Nó ép lưng vào vách, hai bàn tay nắm chặt đến mức móng bấm vào da.
Hùng nói từng tiếng:
“Xuống khỏi núi, mày trở về Đá Rền. Không đi theo đoàn nữa.”
Tánh ngẩng phắt lên. “Tôi—”
“Đủ rồi.”
Nó quay sang Thanh. Nàng đang giữ tấm vải cho Bách, mặt tái đi vì nhìn vết thương. Tánh chờ nàng nói giúp.
Thanh không nói.
Trong mắt nó, vẻ sợ hãi đổi thành tức tối.
“Các người dùng đường tôi rồi đuổi tôi.”
Hùng bước tới một bước. “Mày còn nghĩ chuyện này là thắng thua?”
“Tôi đâu bảo hắn đứng dưới bẫy!”
Hựu rên lên.
Câu vừa bật khỏi miệng khiến Tánh chết lặng. Vịnh quay lại nhìn nó. Không giận, không mắng. Chính vẻ mặt ấy làm nó không chịu nổi.
Nó xoay người định chạy.
“Đứng lại,” Thanh nói.
Tánh không nghe.
Nàng gọi lớn hơn: “Tánh!”
Nó dừng, nhưng không quay lại.
“Mày gây ra việc này. Mày không được chạy khỏi nó.”
“Công Tự đã đuổi tôi.”
“Xuống núi rồi mới tính chuyện đi hay ở. Bây giờ quay lại cứu Hựu.”
“Tôi có biết chữa đâu.”
“Vậy làm điều mày biết.”
Tánh quay lại, mắt đỏ hoe. “Tôi biết gì?”
Thanh chỉ khúc gỗ bẫy vẫn treo trên sườn, rồi chỉ con đường bị thân cây và dây mây chắn ngang.
“Mày biết bẫy. Biết sức của mày. Biết lối này. Hãy dùng chúng cho đúng.”
Bách cần đưa Hựu khỏi đoạn vách trước khi trời mưa.
Không thể đặt Hựu lên cáng cũ: chỉ cần nghiêng người, mảnh gỗ ở sườn có thể xé sâu hơn. Phải buộc một khung cứng quanh thân, rồi hạ từng đoạn ngắn xuống chỗ rộng phía dưới. Đoàn có dây, nhưng thiếu hai thanh gỗ đủ thẳng. Cây quanh đó mọc cong theo gió.
Tánh nhìn lên khúc gỗ bẫy.
“Dùng nó.”
Nham nói: “Nó đang căng dây. Cắt sai là quật thêm lần nữa.”
“Tôi biết nút giữ.”
Vịnh hỏi: “Biết thật, hay lại đoán?”
Tánh nuốt khan. “Biết nút. Không biết người đặt có giấu dây phụ không.”
Đó là lần đầu từ khi gặp nó, Vịnh nghe Tánh nói rõ phần mình không biết.
Vịnh cầm sào. “Vậy tìm dây phụ trước.”
Tánh không chạy lên ngay. Nó nhặt cành dài, gạt từng bụi cỏ. Mỗi lần muốn bước, nó lại dừng thử đất. Hùng đứng dưới giữ dây bảo hiểm quấn quanh bụng nó. Chàng không nói một lời.
Khúc gỗ bẫy được buộc bằng ba điểm. Một dây chính kéo từ chốt dưới cỏ. Một dây giữ vòng qua thân cây. Dây cuối cùng mảnh hơn, nối với một bó cọc tre giấu phía sau. Nếu chỉ cắt dây chính, bó cọc sẽ đổ xuống đúng nơi người tháo bẫy đứng.
Tánh tìm thấy nó khi đầu cành khẽ chạm vào một lá khô bị xâu thủng.
“Có dây phụ,” nó gọi xuống. Giọng khàn hẳn.
Vịnh trèo lên cạnh nó, xem kỹ rồi gật. “Mày giữ thân gỗ nổi không?”
“Giữ được.”
“Không nhấc. Chỉ giữ.”
Tánh quấn dây quanh vai, chống hai chân vào đá. “Tôi biết.”
“Nhắc lại.”
Nó nhắm mắt một thoáng. “Không nhấc. Không giật. Vịnh cắt tới đâu, tôi giữ tới đó.”
Vịnh chặt dây phụ trước, rồi nới dần nút giữ. Sức nặng của thân gỗ dồn lên vai Tánh. Nó nghiến răng. Cơ bắp trên cánh tay nổi lên, nhưng lần này nó không cố thắng sức nặng. Nó để dây trượt từng chút qua lòng bàn tay, giữ đều theo tiếng đếm của Vịnh.
“Một.”
Nó thả nửa gang.
“Dừng.”
Nó dừng.
“Hai.”
Thêm nửa gang.
Khúc gỗ xuống tới mặt đường mà không va vào ai.
Hùng và Nham chặt nó thành hai thanh. Bách dùng áo khoác, dây lưng và nẹp tre buộc thành một khung ôm quanh Hựu. Mảnh gỗ nhỏ vẫn nằm nguyên ở sườn. Mỗi lần Hựu thở, máu lại rịn ra.
Mây đã tụ kín trên đầu.
Giọt mưa đầu tiên rơi lên mu bàn tay Thanh.
Bách nói: “Phải giữ Hựu ấm. Mất máu gặp lạnh là nguy.”
Đoàn không còn đủ người vừa khiêng hai cáng vừa giữ bốn con ngựa qua dốc. Một con phải bỏ lại. Hùng tháo hòm thẻ xuống, chia cho mọi người mang. Thanh ôm ống bản chép vào ngực. Vịnh buộc ngựa vào hốc cây kín gió, để lại một ít cỏ khô rồi đánh dấu đường quay lại.
Tánh cúi xuống đầu cáng Hựu.
“Tôi khiêng.”
Hùng nói: “Nham khiêng.”
“Nham phải đi trước xem bẫy với Vịnh.”
“Còn người khác.”
“Họ đã thay cáng người sốt từ sáng.”
Hùng không nhìn nó. “Mày mệt sẽ buông.”
“Tôi không buông.”
“Mày đã nói nhiều điều chắc như vậy.”
Tánh tái mặt. Nó không cãi nữa, chỉ đứng cạnh cáng.
Thanh hỏi Bách: “Nó khiêng được không?”
“Sức thì được. Nhưng phải giữ đều. Chỉ cần xóc một lần—”
“Tôi giữ đều,” Tánh nói.
Bách nhìn thẳng vào nó. “Đây không phải cột nhà. Mỏi cũng không được đổi tay nếu chưa báo. Trượt cũng không được giật cáng lên. Hựu kêu, mày vẫn phải nghe ta, không tự đặt xuống. Hiểu chưa?”
“Hiểu.”
“Nói lại.”
Tánh nhắc từng điều. Không sót một chữ.
Hùng cuối cùng tránh sang bên.
Tánh cúi vai dưới đòn cáng.
Mưa rơi dày hơn.
Đường xuống dài hơn mọi lời Tánh từng khoe.
Nước mưa phủ lên đá một lớp trơn mỏng. Vịnh và Nham đi trước, dò từng bụi cỏ. Những người còn lại bước đúng vào dấu chân họ. Cáng người sốt đi giữa. Cáng Hựu theo sau, đầu trước do Tánh gánh, đầu sau là một người lính tên Du.
Ngay mười bước đầu, Tánh đã hiểu sức khỏe không phải phần khó nhất.
Phần khó là giữ cho vai không nhấp nhô theo từng hòn đá. Là chờ Du đặt chân xong mới bước. Là nghe Bách nói “chậm” dù phía sau đá đang lăn. Là không được quay đầu mỗi khi Hựu rên.
Mưa lạnh thấm qua tóc, qua áo, xuống tận da. Nhưng dưới đòn cáng, vai Tánh nóng rát. Hơi nóng ấy không bùng lên như lúc nó nhấc cột nhà. Nó bị ghìm ở một chỗ, âm ỉ, mỗi bước lại sâu thêm.
“Đổi vai không?” Du hỏi.
“Chưa.”
“Mày run rồi.”
“Tôi chưa buông.”
“Ta không hỏi mày có buông không. Ta hỏi có đổi vai không.”
Tánh định nói không cần. Nó nhớ lời Bách: mỏi phải báo.
“Qua tảng đá trước mặt thì đổi.”
Du gật. Hai người báo Bách, dừng đúng chỗ rộng, giữ cáng bằng đầu gối rồi đổi vai mà không làm Hựu nghiêng. Khi đứng lên lại, Tánh thở hổn hển nhưng đòn cáng đã nằm trên bên vai còn khỏe.
Hùng đi ngay trước nó. Chàng nghe hết, không quay lại.
Đến một khe nước nhỏ, đường bị xói mất một đoạn. Chỉ còn rễ cây bắc ngang trên hốc đất sâu. Vịnh cho từng người vượt. Cáng người sốt qua được bằng cách đặt lên ba sợi dây căng. Với Hựu, không thể nghiêng cáng đủ để luồn qua vách.
Tánh nhìn sườn trên. “Có thể đào bậc bên này.”
Vịnh xem đất. “Đất mềm, đào sẽ sụp.”
“Đóng cọc giữ.”
“Cọc nào?”
Tánh tháo vòng dây trắng khỏi cổ tay. Nó chỉ vào những thanh tre nhỏ dùng làm nẹp dự phòng, rồi chỉ ba hốc đá.
“Đóng tre vào đây, buộc dây kéo thành một tay vịn. Tôi xuống dưới đỡ đá. Mọi người chuyển cáng ngang.”
Vịnh không bác ngay mà hỏi Nham, thử từng hốc, rồi sửa cách buộc của Tánh. Họ đóng ba cọc. Vòng dây trắng quá ngắn, chỉ dùng để nối nút đầu tiên. Dây lớn được buộc tiếp vào đó.
Tánh tụt xuống hốc đất, hai chân chống vào vách, lưng đỡ một tảng đá lung lay. Hùng giữ dây quanh ngực nó.
“Nếu đá chạy, buông nó,” chàng nói.
“Cáng sẽ nghiêng.”
“Du và ta giữ cáng. Mày không được lấy lưng chặn đá.”
Tánh ngẩng lên. “Nhưng—”
“Mày vừa học được điều gì?”
Nó nhìn tảng đá, rồi nhìn Hựu đang thở yếu trên cáng.
“Sức của tôi không quyết thay phần của người khác.”
“Nhớ lấy.”
Cáng được chuyển qua. Tảng đá trượt khi chân sau của Du vừa rời mép. Tánh theo phản xạ định ghì vai vào. Tiếng Hùng quát “buông” vang xuống. Nó buông. Tảng đá rơi qua khe, đập ầm phía dưới. Dây kéo Tánh ép vào vách nhưng không rơi.
Khi được kéo lên, nó nằm ngửa giữa đường, thở như vừa chạy hết một ngày. Hùng cúi tháo dây quanh ngực nó. Hai người nhìn nhau.
Tánh chờ một lời khen.
Hùng chỉ nói: “Mày đã nghe.”
Không hiểu sao câu ấy khiến ngực nó nóng hơn cả lời khen.
Chiều xuống rất nhanh dưới mưa.
Họ chưa tới trạm đá. Vịnh tìm được một hõm núi có mái đá nhô ra, vừa đủ cho cả đoàn tránh gió. Mặt đất ẩm nhưng không đọng nước. Nham cùng hai người phát cỏ, kiểm bẫy quanh đó. Không có dấu người mới.
Bách đặt hai cáng vào sâu nhất. Ông cần cầm máu cho Hựu trước khi trời tối hẳn.
“Lửa,” ông nói. “Nhỏ thôi, nhưng phải đều.”
Củi ngoài rừng đã ướt. Những cành khô mang theo chỉ đủ nhóm một lần. Vịnh dùng dao cạo phần vỏ ẩm, lấy lõi nhỏ bên trong. Thanh che gió bằng tấm áo khoác. Hùng đánh đá lửa. Tia lửa lóe lên rồi tắt. Lần thứ hai, bùi nhùi bốc khói nhưng không cháy.
Tánh ngồi ôm đầu gối cạnh Hựu. Nó nhìn khuôn mặt người lính, thấy môi Hựu tím dần.
“Ở bến họ vùi than trong tro,” nó nói.
Vịnh không ngẩng lên. “Ở đây không có than.”
Tánh sờ túi áo. Khi rời bến, nó đã nhặt một cục than từ lửa thứ hai, định dùng tối nay nướng cá. Cục than được bọc trong hai lớp lá, bên ngoài đã nguội. Nó mở ra. Giữa lớp tro xám còn một chấm đỏ rất nhỏ.
“Có.”
Vịnh nhìn nó, rồi nhìn cục than.
“Mày mang từ bến?”
“Tôi định nướng cá.”
“Lần đầu lòng tham của mày cứu được người.”
Tánh không cười. Nó đặt cục than vào giữa bùi nhùi. Vịnh phủ những sợi gỗ mỏng lên trên, khum hai bàn tay. Tánh cúi thổi. Nó thổi mạnh quá, tro bay vào mặt.
“Nhẹ,” Vịnh nói. “Giữ hơi đều.”
Tánh lau mắt, thổi lại.
Chấm đỏ lan dần. Một ngọn lửa nhỏ nhú lên, run rẩy sau vách đá. Không ai reo. Mọi người chỉ lặng lẽ chuyền từng cành gỗ đã cạo khô vào, giữ ngọn lửa không tắt cũng không bùng quá lớn.
Bách hơ dao, rửa tay bằng nước đun nóng rồi cắt áo quanh vết thương. Mảnh gỗ không đâm sâu vào bụng như ông sợ; nó mắc giữa xương sườn, nhưng đầu gãy làm thịt rách nhiều. Hựu tỉnh lại khi Bách rút mảnh gỗ, gào một tiếng rồi co quắp cả người.
Tánh chụp vai Hựu theo phản xạ.
“Giữ chân, không đè ngực!” Bách quát.
Tánh chuyển tay ngay. Hùng giữ vai trái. Du giữ chân còn lại. Thanh nhét cuộn vải cho Hựu cắn. Vịnh tiếp củi, mắt không rời nồi nước.
Khi mảnh gỗ được lấy ra, Bách ép thuốc và vải vào vết thương. Máu thấm đỏ lớp đầu, rồi chậm lại ở lớp thứ hai.
“Còn sống,” ông nói. “Đêm nay giữ được ấm thì còn cơ.”
Tánh ngồi lùi khỏi cáng. Hai tay nó dính máu Hựu. Nó chùi lên đất nhưng màu đỏ chỉ loang rộng hơn.
Hựu hé mắt. Giọng Hựu mỏng đến mức phải cúi sát mới nghe.
“Cá... dữ không?”
Tánh ngơ ngác.
Du cười khẽ. “Sáng nay mày kể cá sông này dữ lắm.”
Hựu nhăn mặt vì đau, vẫn cố nói: “May... không gặp cá.”
Tánh cúi đầu. Một tiếng vừa giống cười vừa giống nấc bật khỏi cổ nó.
“Hựu đừng nói nữa.”
“Mày... cũng biết sợ à?”
“Im đi.”
Hựu nhắm mắt. Khóe miệng người lính còn giữ một nét cong rất nhỏ.
Ngoài mái đá, mưa trút xuống thành màn. Trong hõm núi, mọi người ngồi sát quanh ngọn lửa. Không ai được ngủ lâu. Cứ một lúc, Bách lại kiểm hơi thở của Hựu. Vịnh thay củi. Thanh đun nước. Hùng chia cá khô và củ nước thành từng phần nhỏ.
Tánh không rời chỗ.
Mỗi khi ngọn lửa thấp xuống, nó lại thêm một thanh lõi khô. Có lần nó bỏ vào hai thanh cùng lúc, lửa bùng cao. Vịnh gạt bớt ra.
“Không cần lớn,” Vịnh nói. “Cần qua được đêm.”
Tánh gật.
Nửa đêm, Hùng ra ngồi cạnh nó.
Một lúc lâu, cả hai chỉ nghe mưa.
Tánh lên tiếng trước. “Công Tự sẽ đuổi tôi thật à?”
“Ta đã nói.”
“Tôi cứu được Hựu rồi.”
“Mày đang giúp cứu. Chưa ai biết Hựu có qua được không.”
Tánh nhìn ngọn lửa. “Nếu Hựu sống thì việc tôi làm hết sai à?”
“Không.”
“Nếu Hựu chết?”
Hùng không đáp ngay. “Việc sai cũng không lớn thêm chỉ vì kết quả xấu. Nó đã sai từ lúc mày giấu điều mình chưa biết và tự ý bỏ hàng.”
“Vậy cứu cũng chẳng thay được gì.”
“Không thay chuyện đã xảy ra. Nhưng thay được người mày sẽ thành.”
Tánh dùng que gẩy một cục than. “Nghe giống lời ông Còng.”
“Ông ấy nói gì?”
“Tay lớn là tay biết lúc nào phải dừng.”
“Ông ấy nói đúng.”
Tánh bực bội quăng que xuống. “Ai cũng đúng.”
Hùng nhìn nó. “Nếu ta luôn đúng, hôm nay đã không đi đường này.”
Tánh ngẩng lên.
“Ta biết mày chưa đi hết lối mà vẫn cho đoàn vào,” Hùng nói. “Ta nghĩ có Vịnh dò trước là đủ. Ta cũng muốn đưa người bệnh tới trạm sớm. Quyết định đi là của ta.”
“Nhưng tôi đặt bẫy chạy.”
“Phải. Phần của mày, mày chịu. Phần của ta, ta chịu.”
“Công Tự chịu thế nào?”
“Nếu Hựu không qua được, ta phải nói với Ấu và Cơ của Hựu rằng ta đã chọn con đường này.”
Tánh tưởng tượng một ấu đứng chờ Quân ở cửa nhà. Nó rụt hai bàn tay dính máu vào lòng.
“Tôi không muốn về Đá Rền.”
“Ta biết.”
“Tôi có thể làm việc. Khiêng đồ, tìm bẫy, giữ ngựa. Tôi sẽ nghe Vịnh.”
“Đêm nay giữ lửa trước đã.”
“Rồi sáng mai?”
“Sáng mai Hựu tỉnh, chính mày nói với Hựu.”
“Nói gì?”
“Lời mày đang tránh.”
Tánh cúi mặt.
Hùng đứng dậy, đặt một thanh củi bên cạnh nó. “Đừng để lửa tắt.”
Gần sáng, mưa nhẹ dần.
Ngọn lửa chỉ còn một lòng than đỏ nằm dưới tro. Tánh đã ngồi suốt đêm, mắt cay xè, đầu gật xuống mấy lần rồi tự giật mình tỉnh lại. Nó không để than tắt.
Hựu mở mắt khi trời ngoài hõm đá chuyển sang màu xám.
Bách cho Hựu uống từng ngụm nước. Hơi thở vẫn đau nhưng đã sâu hơn. Cơn lạnh lui khỏi môi.
Tánh quỳ cạnh cáng.
“Hựu.”
Người lính hé mắt nhìn nó.
Tánh nuốt khan. “Cái bẫy chạy vì tôi. Tôi giấu lối trên có bẫy cũ. Tôi bỏ hàng để đi trước. Tôi muốn chứng minh đường tôi nhanh.”
Hựu im lặng.
Tánh càng khó nói hơn. “Nếu Hựu không sống...”
“Ta đang sống.”
“Tôi biết. Nhưng nếu—”
“Đừng giết ta lần nữa bằng miệng mày.”
Du quay mặt cười. Bách cau mày, nhưng khóe mắt cũng dịu đi.
Tánh cúi thấp hơn. “Tôi xin lỗi.”
Hựu nhìn nó hồi lâu. “Ta chưa tha.”
Mặt Tánh cứng lại, nhưng nó gật. “Ừ.”
“Nhưng lúc xuống dốc... mày không làm xóc cáng.”
Tánh ngẩng lên.
“Tiếp tục như thế.” Hựu nhắm mắt. “Đừng bắt ta phải nằm cáng lần nữa để dạy mày.”
Tánh vừa cười vừa quệt mũi. “Hựu nằm cũng nặng lắm.”
“Mày muốn ta trả thêm một cú à?”
“Hựu đứng được rồi hãy tính.”
Tiếng cười nhỏ lan quanh hõm đá, không lớn nhưng làm hơi lạnh buổi sớm bớt đi.
Khi đoàn chuẩn bị đi tiếp, Hùng gọi Tánh ra ngoài.
Mây đã vỡ thành từng mảng. Dưới chân núi, hơi nước bốc khỏi rừng như khói mỏng. Con đường tới trạm đá còn một quãng dài.
“Ta chưa đổi lời đã nói,” Hùng bảo. “Mày đã gây nguy cho cả đoàn.”
Tánh nhìn xuống. Móng chân nó cào một đường trong đất, xóa đi rồi lại cào đúng chỗ ấy.
“Nhưng ta cũng chưa quyết việc ấy trước khi ra khỏi núi. Từ đây tới trạm, mày đi cạnh cáng Hựu. Vịnh bảo gì làm nấy. Không tự rời hàng.”
“Rồi tới trạm?”
“Ta sẽ nghe Vịnh, Bách và Hựu.”
“Còn Công Thị?”
Hùng thoáng khựng lại. “Cả Công Thị.”
“Còn tôi?”
Lần này Hùng im lâu hơn. Tánh ngẩng lên, vẻ ngang ngạnh đã biến mất, chỉ còn nỗi sợ bị bỏ lại mà nó cố nuốt xuống.
“Cả mày,” chàng nói. “Nhưng mày phải nói thật, kể cả phần khiến mày xấu hổ.”
Tánh quệt mũi bằng cổ tay. “Phần ấy nhiều lắm.”
“Ta biết.”
Nó phì cười dù mắt còn đỏ.
Tánh nắm vòng dây trắng. Nút dây đã sẫm màu bùn nhưng chưa đứt.
“Nếu mọi người vẫn bảo tôi về, tôi sẽ về.” Nó hít một hơi. “Nhưng cho tôi xin đi tiếp. Tôi không xin vì biết đường. Tôi xin để học cách không làm hại người khác bằng sức của mình.”
Hùng nhìn nó rất lâu.
“Giữ được câu ấy qua nhiều ngày rồi hãy nói lại.”
“Tôi sẽ giữ.”
“Đi khiêng cáng.”
Tánh chạy được hai bước thì tự chậm lại. Nó quay về phía Vịnh, chờ Vịnh chỉ vị trí đặt vai rồi mới cúi xuống.
Đoàn rời hõm đá khi than trong bếp vẫn còn đỏ dưới tro. Không bùng cao, không soi xa, nó chỉ giữ đủ hơi nóng để đưa một người qua khỏi đêm lạnh.
Gần trưa, họ nhìn thấy trạm đá.
Trước cổng trạm có một người đàn ông áo xám đứng chờ. Bên cổ ông là một vết sẹo kéo dài xuống tận xương quai xanh. Khi Vịnh hỏi có chỗ cho người bị thương không, ông không đáp bằng lời. Ông gõ cán trượng xuống đất ba nhịp, chỉ người ra mở cổng, rồi dùng hai bàn tay làm một chuỗi động tác mà không ai trong đoàn hiểu trọn.
Tánh nhìn theo, quên cả mỏi.
Người đàn ông không nói được.
Nhưng những người trong trạm đều chờ ông phân xử.