Người phụ nữ trên chiếc thuyền không dấu không bước lên bờ.
Bà đứng ở mũi thuyền, một tay nắm sào, một tay giữ vạt áo nâu đã vá đến ba màu. Nước dưới chân thuyền chảy xiết qua doi đá, liên tục đẩy mũi thuyền chệch khỏi chỗ cột mốc vừa được kéo lên. Mỗi lần như vậy, bà chỉ nghiêng vai chống sào. Chiếc thuyền lại trở về vị trí cũ, lặng lẽ mà cứng đầu.
Thanh đặt thẻ tre mới lên tấm ván kê ngang đầu gối.
“Bà tên gì?”
Người phụ nữ nhìn sang Chẩn trước khi đáp.
“Người hai bờ gọi tôi là Nước.”
Chẩn bật ra một tiếng cười khô. “Đó đâu phải tên.”
“Họ không hỏi tên tôi khi thuê chở hàng.” Bà Nước vẫn nhìn Thanh. “Gọi thế nào thì tôi nghe thế ấy.”
“Tên Quân Cơ đặt?”
Một thoáng gì đó động dưới đôi mắt đã sạm nắng của bà.
“Linh.”
Thanh đặt đầu bút xuống.
“Linh, người sống trên thuyền ở hạ lưu.”
Chẩn bước hẳn xuống mép doi. “Công Thị, tôi đã nói rồi. Người ấy không có tên trong sổ Bộ. Ghi lời của người không thuộc làng nào vào việc của hai làng, mai sau còn ai giữ được lệ?”
Thanh không ngẩng lên. “Tôi đang ghi ai nói, không ghi ai đúng.”
“Chỉ cần lời họ nằm trên thẻ của Công Thị, nó đã khác lời nói ngoài bến.”
“Vậy càng cần ghi rõ để người sau biết nó từ đâu tới.”
Chẩn quay sang Hùng. “Công Tự cũng để thế sao?”
Hùng đứng cạnh cột đá, hai ống quần còn ướt tới gối. Chàng không trả lời thay Thanh.
“Công Thị chép lời. Còn lời ấy nặng nhẹ ra sao, chúng ta cùng xét.”
“Nhưng—”
“Ông sợ lời ấy sai,” Hùng nói, “hay sợ lời ấy được nghe?”
Mặt Chẩn sầm lại.
Ở thuyền bên kia, bà Lụa khoanh tay. Bà không bênh nhóm người sống trên sông, nhưng cũng không muốn Chẩn một mình đuổi họ đi. Đám người Tây Lau và Đông Đá đứng thành hai dải trên bờ, mắt hết nhìn cột mốc lại nhìn ba chiếc thuyền không dấu. Ban đêm, họ vẫn trao than hồng, trao nhựa khô để giữ lửa cho nhau. Ban ngày, một lời lạ vừa được đặt vào giữa hai phía; từ đó, mọi câu nói đều nóng lên như đất sống vừa bị đưa vào lò.
Tánh ngồi xổm trên tảng đá, vắt nước từ vạt áo. Nó nhìn bà Linh hồi lâu rồi hỏi:
“Bà thật sự biết chữ bị đục à?”
“Biết.”
“Bà đọc được Khoa Đẩu?”
“Không.”
Tánh nhăn mặt. “Không đọc được mà biết?”
“Mày thuộc tiếng gọi trâu không?”
“Thuộc.”
“Mày có viết được tiếng ấy không?”
Tánh ngẫm một lúc, rồi thôi vặn hỏi.
Thanh nói: “Bà kể từ đầu đi. Ai đã thấy phần chữ còn nguyên?”
Bà Linh không kể ngay. Bà quay đầu gọi vào khoang thuyền. Một ông lão gầy bước ra, lưng còng gần ngang mui. Ông có bàn tay to nhưng các khớp đã vẹo vì ngâm nước lâu năm. Đi sau ông là một cô gái chừng tuổi Thanh, bế một đứa trẻ đang ngủ trên vai.
“Quân tôi thấy cột khi còn đứng,” bà Linh nói. “Tôi nghe Quân nhắc lại. Ấu Nêm đây nghe từ tôi. Ba đời vẫn cùng một lời.”
Chẩn gằn giọng: “Ba người một nhà nhắc lại cho nhau, đâu thành ba người làm chứng.”
Ông lão cười, để lộ hàm răng chỉ còn vài chiếc. “Ông nói phải. Ba miệng trong một nhà vẫn có thể nhắc cùng một lời sai. Cứ đem lời lão so với đá, với dây. Đất tốt hay xấu, vào lửa mới biết.”
“Ông tên gì?” Thanh hỏi.
“Người ta gọi lão là Còng.”
“Tên Quân Cơ đặt?”
Ông lão im lâu hơn bà Linh.
“Không nhớ nữa.”
Bên bờ có người bật cười. Tiếng cười vừa nổi đã tắt khi ông lão quay sang. Không giận, không xấu hổ, ông chỉ nhìn họ như nhìn những cọc bến đã mọc rêu.
“Lão nhớ từng doi nước từ đây xuống cửa sông. Nhớ mùa nào đá ngầm trồi, mùa nào nước đổi màu trước lũ. Chỉ cái tên thì chẳng ai gọi lâu quá, nó trôi mất.”
Thanh ghi đúng câu ấy.
Chẩn thấy đầu bút chạy, vẻ bất an trong mắt càng rõ. “Công Thị định lấy lời một người đến tên mình còn quên để sửa luật sao?”
“Không.” Thanh thổi nhẹ cho mực khô. “Tôi định biết vì sao một người nhớ được dòng sông mà không giữ nổi tên mình.”
Ông Còng bảo phải đưa cột lên cao hơn.
Vịnh lập tức lắc đầu. “Chân cột còn kẹt. Kéo nữa có thể làm vỡ phần còn lại.”
“Không cần nhổ,” ông nói. “Rửa mặt sau.”
Chẩn khẳng định mặt sau không có chữ. Bà Lụa lại bảo trước kia chẳng ai được phép quay cột. Hai người tranh nhau ba câu thì thành cãi. Ông Còng mặc họ, xin một gáo nước sạch rồi ngồi xuống tận mép doi.
Vịnh giữ dây. Tánh nằm sấp, luồn tay xuống nước để dội bùn khỏi phần lưng cột. Nó làm được một lúc thì sốt ruột, giật mạnh sợi rễ quấn quanh đá. Cả cột rung lên.
“Nhẹ tay!” Vịnh quát.
“Nó có gãy đâu.”
“Đến lúc gãy thì mày lấy gì trả?”
“Tôi nhặt lại.”
Vịnh tóm gáy kéo nó khỏi mép nước. “Đá không phải củi.”
Tánh vùng ra, mặt phụng phịu. Ông Còng nhìn nó, cười khẽ.
“Sức mày lớn. Tay mày chưa lớn kịp.”
“Tay tôi thế này còn chưa lớn?” Tánh xòe bàn tay chai sần.
“Chưa. Bàn tay lớn là bàn tay biết lúc nào phải dừng.”
Tánh định cãi, nhưng Vịnh đã dúi gáo vào tay nó. “Dội nước. Không bốc đá.”
Khi lớp bùn cuối cùng trôi đi, mặt sau cột hiện ra ba rãnh ngang rất nông. Chúng không phải chữ Khoa Đẩu. Mỗi rãnh có những hốc tròn nhỏ, chỗ liền chỗ vỡ, giống dấu dây từng cọ qua đá nhiều năm.
Ông Còng đặt đầu ngón tay lên rãnh trên cùng.
“Ngày trước, người giữ bến buộc ba dây ở đây. Dây trên mang thẻ dấu của chủ hàng. Dây giữa mang thẻ của người cứu. Dây dưới đếm lửa.”
Bà Lụa bước tới. “Không ai ở Tây Lau từng nói có ba dây.”
“Vì người giữ dây không ở trên bờ.”
“Ai?”
Ông Còng chỉ xuống thuyền.
Chẩn cười lạnh. “Lại là các người tự nhận.”
“Không phải nhận. Là làm.”
Ông ra hiệu cho bà Linh. Bà lấy dưới khoang lên một đoạn dây gai đã đen, trên đó xâu ba mảnh gỗ dẹt. Một mảnh khắc hình mắt cá, một mảnh có ba lỗ, mảnh cuối chỉ còn nửa dấu răng cưa.
Chẩn nói ngay: “Vật mới.”
“Dây mới,” bà Linh đáp. “Thẻ cũ. Dây mục thì thay. Người chết thì người sống nhớ chỗ buộc.”
Thanh nhận ba thẻ gỗ, đưa cho Hùng. Chàng xem từng mặt, rồi trao Vịnh. Vịnh đặt một mảnh vào hốc trên cột. Vết mòn ở cạnh gỗ ăn gần khít với rãnh đá, nhưng gần khít chưa phải chứng chắc.
Hùng hỏi: “Ba dây dùng thế nào?”
Ông Còng ngồi xuống, hai bàn chân ngập trong nước. Giọng ông chậm, nhưng mỗi lời đều rơi đúng chỗ.
“Hàng dạt mà còn dấu chủ, người cứu treo thẻ dấu lên dây trên. Đốt lửa gọi một đêm. Chủ đến thì nhận hàng, trả phần cứu.”
“Nếu không đến?”
“Sang đêm thứ hai, thêm một thẻ lỗ. Sang đêm thứ ba, thêm một thẻ nữa. Qua ba lửa không ai tới, làng giữ một phần, người cứu một phần, một phần để kho bến dùng khi có nạn.”
Bà Lụa hỏi gấp: “Bao nhiêu phần cho người cứu?”
“Tùy hàng nguyên hay hỏng, tùy cứu ngoài dòng hay nhặt ở bãi.”
“Ai định?”
“Người giữ bến cùng hai người của hai bờ.”
Chẩn chỉ vào đoạn vỡ trên cột. “Vậy chữ giữa là gì?”
Ông Còng không nhìn cột. Ông gõ nhịp lên đầu gối bằng hai ngón tay, rồi cất giọng khàn khàn:
“Dấu còn, gọi chủ.
Một lửa, đợi.
Hai lửa, hỏi.
Ba lửa, chia công cứu nạn.”
Bà Linh và cô gái tên Nêm đồng thanh theo câu cuối. Nhịp của họ giống hệt nhau. Từ hai chiếc thuyền phía sau, mấy người khác cũng cất tiếng, người già trầm, trẻ nhỏ cao. Không ai hô lớn. Thế nhưng cứ thêm một giọng nhập vào, không khí trên doi lại nóng thêm một bậc. Lời từng bị giữ dưới mui thuyền nay được đưa ra trước hai bờ, như một mẻ đất sống vừa vào lò: hoặc chịu được lửa để thành vật hữu dụng, hoặc nứt vỡ ngay trước mắt mọi người.
Tánh bỗng nói: “Tôi từng nghe.”
Mọi người quay sang.
Nó chỉ về phía hạ lưu. “Mấy người chèo đêm hát đoạn ‘một lửa đợi, hai lửa hỏi’. Tôi tưởng gọi cá.”
Bà Linh bật cười lần đầu. “Cá nào biết trả lời?”
“Cá ở sông này dữ lắm.”
“Dữ đến đâu cũng chưa biết cãi luật như người.”
Vài người trên bờ cười theo. Không khí vừa giãn ra, Chẩn lập tức cắt ngang:
“Một bài hát không thể lấp chỗ đá vỡ.”
“Đúng,” Thanh nói.
Bà Linh nhìn nàng, nụ cười tắt đi.
Thanh đặt ba thẻ gỗ cạnh bản chép. “Đó mới là lời kể. Phải so với dấu còn lại rồi mới tin được.”
Hùng gật đầu. “Đêm qua hàng được cứu ở đâu?”
Người hai bờ chỉ về giữa dòng.
“Dấu chủ còn không?”
“Còn,” Chẩn đáp.
“Đã qua mấy lửa?”
Không ai trả lời ngay. Thuyền hàng mắc đá từ cuối chiều hôm trước. Chủ hàng chưa thấy tới. Mới chỉ có một đêm lửa.
Hùng nói: “Nếu theo lời ông Còng, chưa đến lúc chia hàng.”
Bà Lụa siết hàm. Chẩn cũng không vui hơn. Một bên mất hy vọng giữ ngay số muối; bên kia không thể mang tất cả về chỉ bằng dấu chủ.
“Còn công cứu?” bà Lụa hỏi.
“Phải được tính,” Thanh đáp. “Nhưng chưa ai ở đây biết mức nào.”
Chẩn nói: “Luật Đông Đá ghi dấu còn thì trả. Trả hàng trước, công cứu nói sau.”
Bà Linh nhìn ông. “Nói sau thường là không nói nữa.”
“Ngươi dựa vào đâu?”
“Dựa vào số lần chúng tôi kéo thuyền cho người bờ ông rồi phải chèo đi trước khi trời sáng, vì ở lại cũng không có chỗ ngồi khi phân công.”
Chẩn bước một bước về phía thuyền. Hùng đưa tay ngăn giữa hai người.
“Ông đang hỏi chuyện cột đá, đừng mang những chuyến thuyền cũ ra dọa người.”
“Công Tự gọi đó là làm chứng thật sao?”
“Ta gọi họ là người biết chuyện. Lời đúng hay sai, cứ xét rồi rõ.”
Chẩn nhìn cánh tay Hùng chắn trước ngực mình. Sau một thoáng, ông lùi lại.
Nhưng Thanh thấy rõ: từ lúc ấy, cuộc tranh không còn chỉ là chuyện mấy túi muối.
Tin có người ngoài sổ được nghe lan nhanh hơn nước rút.
Đến giữa buổi, từ đường dốc phía đông xuất hiện một đoàn người mang giáo ngắn. Đi đầu là một người đàn ông vai hẹp, tóc búi rất chặt, áo ngoài có viền đỏ sẫm của người coi việc Châu. Ông ta không xuống doi ngay. Đứng trên bờ cao, ông nhìn ba thuyền không dấu, rồi nhìn tấm thẻ trong tay Thanh.
Chẩn cúi chào. “Châu trưởng.”
Bà Lụa cũng cúi, chậm hơn.
Người mới tới tên Kha. Ông đã ngoài năm mươi, khuôn mặt không dữ nhưng kín đến mức khó đoán đang nghĩ gì. Hai người giữ sổ đi sau ôm những bó thẻ buộc dây đỏ. Thấy đoàn của Hùng, Kha làm lễ đúng mực.
“Công Tự tới Cương Châu mà việc bến chưa kịp thu xếp, tôi có lỗi.”
“Chúng tôi đến tìm đường và hỏi dấu cũ, không đến để Châu bày lễ,” Hùng đáp. “Nhưng đã gặp tranh chấp thì không thể bước qua người đang chìm hàng.”
Kha nhìn cột đá. “Cột ấy thuộc việc trong Châu.”
“Vẫn thuộc.”
“Vậy xin giao người trong Châu xét.”
Thanh hỏi: “Theo lệ nào?”
“Theo sổ hiện hành.”
“Sổ Châu đang dùng nói gì về hàng dạt còn dấu sau một đêm lửa?”
Một người giữ sổ mở bó thẻ, lật khá lâu rồi ghé tai Kha. Châu trưởng không quay lại nghe hết. Ông đã biết câu trả lời.
“Sổ ghi hàng có dấu phải trả chủ.”
“Công cứu?”
“Hai bên tự thuận.”
“Nếu không thuận?”
“Người coi bến định.”
Bà Lụa cười nhạt. “Người coi bến là Ấu trong nhà, gọi Chẩn bằng Dậu.”
Chẩn quát: “Bà—”
Kha chỉ nâng một ngón tay. Cả hai im.
Thanh đưa bản chép cho ông. “Cột mốc cho thấy từng có thêm điều về ba lửa. Phần giữa đã bị đục. Nhóm sống trên thuyền giữ lời truyền và thẻ buộc phù hợp với vết mòn ở mặt sau.”
Kha không nhận thẻ. “Công Thị đã nghe họ?”
“Rồi.”
“Trước mặt hai làng?”
“Phải.”
“Và đã ghi?”
“Phải.”
Một cơn gió luồn qua bến. Những thẻ sổ trong tay viên lại rung lách cách. Kha nhìn âm thanh ấy như thể chính dây buộc vừa báo điều chẳng lành.
“Công Thị có biết vì sao người trên thuyền không nằm trong sổ không?”
“Tôi đang muốn biết.”
“Vì họ không có đất cố định để chịu việc làng, không có bếp cố định để tính gạo, không có nơi cố định để gọi khi cần người.”
Bà Linh nói từ dưới thuyền: “Khi cần kéo xác người chết đuối, ai cũng gọi được chúng tôi.”
Kha không nhìn bà. “Công Thị thấy đấy. Nếu nghe họ như người trong sổ, ngày mai họ sẽ đòi phần kho bến, phần ruộng bãi, quyền nói trong việc làng. Nếu không cho, họ bảo lời mình chỉ được dùng lúc có lợi cho bờ. Nếu cho, mỗi đoàn thuyền trôi qua lại tự nhận một phần. Lấy gì phân?”
Thanh hỏi: “Không phân được nên xóa tất cả khỏi sổ?”
“Không phải xóa. Họ chưa từng được ghi.”
Câu nói ấy rơi xuống nhẹ hơn hòn sỏi, nhưng mặt bà Linh cứng lại. Cô Nêm ôm đứa trẻ sát hơn vào ngực. Ông Còng cúi nhìn bàn chân mình dưới nước.
Tánh lẩm bẩm: “Không ghi thì coi như không có à?”
Kha nghe thấy. “Mày là ấu nhà nào?”
“Nhà tôi.”
“Quân Cơ đâu?”
“Không ở đây.”
“Tên trong sổ làng nào?”
Tánh há miệng rồi ngậm lại. Nó quay sang Vịnh, như thể người dẫn đường có thể giúp nó nhớ một điều chưa bao giờ cần nhớ. Vịnh chỉ đặt tay lên vai nó.
Kha không ép nữa. “Công Tự, Công Thị mang việc của Kinh đi qua các Châu, tôi không dám xem nhẹ. Nhưng hôm nay Công Thị chép một lời, ngày mai mười bến sẽ vin vào lời ấy. Lệ cũ đang yên. Xin đừng nhóm lửa giữa kho rơm.”
Thanh nhìn bếp đất người Tây Lau vừa nhóm để hong những túi muối ướt. Lửa bị giữ trong ba vách đất, không táp ra ngoài. Hơi nóng bốc lên, làm những hạt muối trắng dần hiện lại trên mặt vải.
“Tôi không đốt lệ của Châu.” Nàng giữ giọng bình tĩnh, nhưng đầu ngón tay đã siết trắng quanh cán bút. “Tôi chỉ đem lời này thử trước hai bờ. Nếu là lời gian, tự nó sẽ nứt. Nếu là lời thật, giấu nó đi mới khiến lòng dân cháy âm ỉ.”
Trong đám đông có tiếng ai đó “phải” rất khẽ. Người bên cạnh lập tức huých khuỷu tay, nhưng tiếng ấy đã lọt tới tai Kha. Ông quay nhìn. Mọi người cúi xuống, chỉ còn tiếng củi nổ lách tách trong bếp.
Kha nhìn thẳng vào nàng. “Công Thị muốn sửa sổ Cương Châu?”
“Tôi không có quyền ấy.”
“Vậy xin đừng làm điều khiến người ta tưởng mình đã được ghi nhận.”
“Tôi có quyền nghe và ghi rõ nguồn lời.”
“Nghe riêng thì được.”
“Tại sao phải nghe riêng?”
“Để không khuấy dân.”
Thanh nhìn hai bờ. Dân đã đứng kín bến. Họ không bị khuấy bởi tiếng của người dưới thuyền. Họ bị khuấy vì lần đầu nghe tiếng ấy đi vào cùng một cuộc xét với tiếng của mình.
“Nghe trong chỗ kín rồi cất thẻ đi,” nàng đáp, “khác gì chưa từng nghe?”
Kha trầm giọng: “Công Thị còn trẻ. Có những lệ không thể chỉ nhìn một buổi mà hiểu.”
Hùng bước lên. “Châu trưởng có thể không đồng ý. Đừng dùng tuổi để thay lời phản bác.”
Kha quay sang chàng. “Công Tự nhận việc dò dấu cũ. Từ bao giờ lại có quyền đổi lệ của Châu?”
Mấy người lính phía sau khẽ động. Vịnh rời tay khỏi vai Tánh, đứng thẳng lên. Hùng giơ bàn tay thấp, không cho ai bước tới.
“Ta chưa đổi một chữ nào.” Giọng chàng đã lạnh đi. “Chính cột đá cho thấy sổ Châu thiếu chữ. Chúng ta chỉ hỏi phần thiếu ấy ở đâu.”
Kha định đáp. Thanh đặt bản chép xuống cột đá, tiếng thẻ tre chạm mặt đá khô và sắc.
“Châu trưởng có thể bác từng lời tôi chép,” nàng nói. “Nhưng xin bác bằng chứng, đừng bác tuổi tôi.”
Kha mím môi. Ngoài bến, một mái chèo va vào mạn thuyền. Không ai nói thêm. Sau một lúc, ông ra hiệu cho người giữ sổ buộc lại bó thẻ.
“Vậy Công Thị cứ nghe công khai. Nhưng Châu không xác nhận lời ấy là lệ.”
“Tôi sẽ ghi đúng như thế.”
“Và Châu cũng không cấp gạo cho việc kéo dài tranh chấp ngoài sổ.”
Hùng hỏi: “Đoàn chúng tôi đã có lệnh nhận lương dọc đường.”
“Lệnh cấp cho việc dò đường và tìm dấu cũ, không cấp cho việc ngồi xét lệ bến. Từ chiều nay, kho Châu chỉ giao phần đủ tới trạm đá phía bắc. Không hơn.”
Tánh huýt khẽ. Vịnh bóp mạnh vai nó.
Bách, nãy giờ lặng lẽ phơi muối ướt, ngẩng lên. “Trong đoàn còn hai người sốt và một người bị rách chân. Phần đủ đến trạm đá nếu đi đường chính. Nếu mưa giữ chân thì sao?”
Kha đáp: “Người dẫn đường phải liệu lấy.”
Thanh hiểu ngay cái giá ông đặt ra. Ông không thể giật bút khỏi tay nàng, cũng không dám công khai cấm nàng nghe. Ông chỉ khép các kho gạo lại. Một cánh cửa nhỏ đóng đi có thể khiến cả đoàn phải đổi đường.
Hùng nhìn Thanh.
Trong mắt chàng không có lời trách, nhưng có một câu hỏi thật: nàng có tiếp tục khi cái giá không chỉ rơi lên mình nàng?
Thanh quay về phía những chiếc thuyền không dấu. Đứa trẻ trên vai Nêm đã thức. Nó không khóc, chỉ nhìn đám đông bằng đôi mắt đen và ngơ ngác. Nếu nàng dừng lại, số gạo của đoàn được giữ. Nếu nàng tiếp tục, một lời từng bị đẩy khỏi bờ sẽ được đứng giữa ánh sáng, nhưng binh lính và người bệnh của đoàn phải chịu phần đường khó hơn.
Nàng đặt bản chép lên cột đá.
“Tôi sẽ nghe hết.”
Buổi đối chứng kéo dài đến khi bóng người ngắn lại trên doi.
Thanh không hỏi những câu dễ chịu.
Nàng bắt ông Còng nhắc lại bài gọi ba lần, mỗi lần ngắt ở một chỗ khác nhau. Nàng cho bà Linh và Nêm đứng cách nhau, không được nhìn miệng nhau khi đọc. Hùng hỏi từng người về vị trí cột trước trận lũ, mùa nước nào chân cột bị nghiêng, ai giữ thẻ, thẻ được trao ra sao. Vịnh đem ba mảnh gỗ thử lên các rãnh đá. Không mảnh nào khít hoàn toàn, nhưng vết cọ cho thấy từng có vật cùng bề ngang buộc ở đó.
Rồi một người đàn ông Đông Đá bất ngờ bước khỏi đám đông.
Ông tên Sỏi, làm nghề vá thuyền. Ông thú nhận Quân của mình từng cấm hát bài “ba lửa” ở bến sau một vụ tranh kho hàng. Khi ấy ông còn nhỏ, đã nghe nhóm người sông hát nên thuộc hai câu.
Chẩn nhìn ông như muốn nghiền nát bằng mắt. “Sao trước giờ không nói?”
“Vì nhà tôi còn sống nhờ vá thuyền cho làng.”
“Bây giờ không cần sống nữa à?”
Sỏi nuốt khan. “Vẫn cần. Nhưng cột đã lên rồi.”
Ở bờ Tây Lau, một bà già khác nhớ kho bến từng có ba ngăn, không phải hai. Ngăn thứ ba đã sập trong trận lũ lớn. Bà không biết nó dùng làm gì, chỉ nhớ trẻ con không được bén tới. Bách cùng hai người đào thử nền kho cũ. Dưới lớp bùn, họ thấy ba hàng cọc cháy, hàng giữa có những mảnh chum nhỏ và tro dầu.
Những điều ấy không biến bài gọi thành luật nguyên vẹn. Chúng chỉ đặt quanh lời kể những dấu vết không dễ gạt bỏ.
Thanh đọc lại trước đám đông:
“Trên cột đá còn cả chữ về dấu hàng lẫn ba lửa. Mặt sau còn dấu ba dây. Thẻ của người dưới thuyền chưa khít hẳn, nhưng không trái dấu đá. Bài gọi ba lửa lại có người Đông Đá từng nghe. Kho cũ cũng có ba ngăn.”
Thanh dừng lại. Nàng nhìn sang bà Linh, rồi nhìn Chẩn.
“Chừng ấy đủ để biết lệ đang dùng có thể đã mất một phần. Nhưng chưa đủ cho bất kỳ ai tự tiện thêm chữ vào chỗ vỡ.”
Bà Lụa hỏi: “Vậy hàng muối?”
Thanh đáp: “Tôi đề nghị tiếp tục niêm hàng ở kho chung đến hết lửa thứ ba. Người đến nhận phải được đối chiếu với dấu chủ trước khi giao hàng; công cứu phải được xét trước mặt người cứu. Việc giao hàng và mức công cứu không thể quyết chỉ bằng phần chữ còn lại.”
Kha nhìn hai bờ rồi nói: “Ta cho giữ niêm đến hết lửa thứ ba để bảo toàn hàng. Việc trả hàng và tính công cứu sẽ do người có chức tại Châu xét. Giữ niêm không có nghĩa Châu đã nhận bài gọi kia làm lệ.”
Chẩn hỏi: “Người trên thuyền có được làm chứng không?”
Thanh nhìn Kha. “Trong việc hôm nay, lời của họ được chép lại để so xét. Tôi không sửa sổ Châu. Nhưng không ai được gạt lời ấy đi chỉ vì người nói không có đất.”
Kha không đáp.
Không bên nào thắng trọn. Chính vì thế, cả hai bên đều không hài lòng, mà cũng không thể nói mình bị tước sạch phần đúng.
Bà Linh chống sào đưa thuyền sát doi. Bà nhận lại ba thẻ gỗ từ Hùng, nhưng Thanh giữ bản chép.
“Lời này rồi sẽ đi đâu?” bà hỏi.
“Theo tôi về nơi đối chiếu các dấu cũ.”
“Có ai đọc không?”
“Có.”
“Rồi họ có ghi tên chúng tôi vào sổ không?”
Thanh không hứa.
“Tôi chưa biết.”
Bà Linh nhìn nàng lâu, rồi gật đầu. “Nói chưa biết còn hơn hứa trên bờ rồi quên dưới nước.”
Ông Còng gọi Tánh lại. Ông tháo một vòng dây nhỏ trên cổ tay, ném cho nó.
Tánh bắt được. “Cho tôi à?”
“Không. Mượn.”
“Bao giờ trả?”
“Khi tay mày lớn.”
“Tôi đã bảo tay tôi—”
Vịnh ho một tiếng.
Tánh nhìn vòng dây. Trên đó chỉ có một thẻ gỗ không khắc gì. Nó hỏi: “Thẻ trắng để làm gì?”
“Nhắc rằng cái chưa có tên vẫn có thể tồn tại.”
Tánh đeo vào cổ tay, cố giấu vẻ thích thú. “Nếu tôi làm mất?”
“Thì nhớ nó từng ở đó.”
Kho gạo Châu đóng cửa trước khi mặt trời chạm núi.
Viên giữ kho giao đúng số Kha đã nói: sáu túi gạo nhỏ, một vò muối, ít lá thuốc khô. Vịnh đếm hai lần rồi quay sang Hùng.
“Đi đường lớn tới trạm đá mất hai ngày nếu trời ráo. Người bị thương đi chậm, ba ngày. Sau đó mới có trạm đổi ngựa.”
Bách nói: “Người sốt không chịu thêm một đêm mưa ngoài trời.”
Hùng hỏi dân hai bờ có thể bán thêm gạo không. Không ai trả lời. Bà Lụa tránh mắt. Sỏi cúi đầu. Chẩn đứng xa, mặt lạnh. Kha không cấm họ bán, nhưng người nào bán sẽ tự đặt tên mình vào một cuộc đối đầu với người giữ kho, giữ bến và giữ sổ.
Một lúc sau, cô Nêm chèo thuyền tới, đặt lên bờ hai giỏ củ nước và cá khô.
“Chúng tôi không có gạo.”
Vịnh mở giỏ, xem kỹ. “Chỗ này đủ một bữa.”
“Đi ngược nhánh hẹp phía tây có bãi củ nữa.”
Kha nghe thấy nhưng không ngăn. Có lẽ vì củ nước không nằm trong kho Châu. Có lẽ vì ông muốn đoàn hiểu rằng những gì ngoài sổ chỉ nuôi họ được từng bữa, không thể thay một trật tự lâu dài.
Tánh ngồi trên cọc, nhai cá khô Nêm vừa dúi cho. Nó nhìn sáu túi gạo rồi nói:
“Có đường tắt.”
Vịnh hỏi: “Đường nào?”
“Qua sườn Đá Mèo. Một ngày là tới trạm.”
“Ngựa đi được không?”
“Đi được.”
“Xe?”
Tánh nhún vai. “Bỏ xe, chia đồ lên ngựa.”
“Mày đã dẫn đoàn nào qua chưa?”
“Chưa.”
“Tự đi?”
“Rồi.”
“Mùa này?”
Tánh ngập ngừng một nhịp. “Mùa gần như này.”
Vịnh lập tức quay đi. “Không.”
“Đường ấy nhanh thật.” Tánh nhảy xuống cọc, vẽ bằng ngón chân trên đất ướt. “Từ bãi lau lên khe này, men dưới vách, qua rừng thấp. Không phải leo đỉnh. Có một đoạn hẹp thôi.”
Hùng nhìn nét vẽ. “Đoạn hẹp thế nào?”
“Hai người tránh nhau hơi khó.”
“Dốc?”
“Có.”
“Đá lở?”
“Không lở nếu không mưa.”
Mây phía tây đang kéo thành một dải tím.
Vịnh hỏi: “Còn gì mày chưa nói?”
Tánh cúi xuống vẽ tiếp, nhanh hơn. “Có thú rừng. Nhưng ban ngày chúng không ra.”
“Thú gì?”
“Thú thôi.”
“Tánh.”
Nó thở ra. “Người ta đặt bẫy ở vài chỗ.”
“Ai đặt?”
“Thợ săn.”
“Mày biết dấu bẫy?”
Tánh ngẩng lên, nụ cười trở lại, vừa tự tin vừa khiến Vịnh muốn đập cho một cái.
“Tôi biết từng hòn đá.”
Thanh cuộn bản chép, buộc vào ống tre chống nước. Lời của những người không họ đã bị hỏi, bị thử, bị ép đến tận cùng mà vẫn không mất. Nó chưa đủ để viết lại luật, nhưng đã khiến hai bờ không thể tiếp tục coi phần mình giữ là toàn vẹn. Đổi lại, cánh cửa kho gạo đã khép trước đoàn.
Hùng nhìn người bệnh, nhìn mây, rồi nhìn con đường Tánh vẽ.
“Sáng mai,” chàng nói, “chúng ta xem cửa đường trước. Chỉ đi nếu Vịnh thấy có thể đưa cả đoàn qua.”
Tánh reo lên: “Công Tự cứ để tôi—”
“Mày dẫn. Vịnh quyết.”
Tánh há miệng, niềm vui vừa trào lên đã mắc lại vì nửa câu sau. “Nếu Vịnh lúc nào cũng bảo không thì sao?”
Vịnh khoanh tay. “Thì mày sống lâu hơn một ngày.”
“Sống mà cứ đi đường vòng thì già mất.”
“Mày mới từng này đã làm ta già trước rồi.”
Vài người bật cười. Tánh cũng cười theo, nhưng bàn chân nó lặng lẽ xóa đoạn đường hẹp vừa vẽ quá đẹp trên bùn, rồi vẽ lại rộng hơn một chút.
Nụ cười của nó xẹp xuống một nửa.
Đêm ấy, lửa thứ hai được thắp ở cả hai bờ. Ngoài sông, những chiếc thuyền không dấu neo thành một hàng mảnh. Người ta lại hát rất khẽ: một lửa đợi, hai lửa hỏi.
Lửa nằm trong hốc đá và sau phên lau, không lớn, nhưng cả hai bờ đều phải nhìn vào nó mà chờ. Những lời ban sáng đã được nói trước mặt mọi người; từ đây, không ai có thể ép chúng trở lại thành tiếng thì thầm dưới mui thuyền nữa.
Trên sườn Đá Mèo, khuất sau cỏ ướt, một sợi dây bẫy đã căng sẵn giữa hai thân cây.