Tánh đến trước khi gà gáy lần hai.
Nó đứng giữa sân nhà chung của làng Đá Rền, vai đeo một chiếc gùi căng đến méo khung. Hai bàn tay vẫn quấn vải, nhưng một tay cầm gậy, tay kia giữ ba nắm cơm gói lá. Thấy Vịnh bước ra, nó lập tức giấu một gói vào trong gùi.
Vịnh hỏi: “Mày mang bao nhiêu?”
“Gấp đôi.”
“Ta thấy ba gói.”
“Một gói nhỏ.”
“Ba vẫn là ba.”
“Tôi khỏe hơn.”
“Bụng mày cũng khỏe hơn à?”
Tánh nghĩ một chút rồi gật đầu rất nghiêm túc. “Đúng.”
Vịnh giật chiếc gùi xuống kiểm. Ngoài ba gói cơm còn có một con dao nhỏ, dây, đá lửa, hai quả chua, một cái bẫy chim và một viên đá tròn to bằng nắm tay.
“Mang đá làm gì?”
“Để ném xuống vực nghe sâu.”
“Không có vực.”
“Vậy để ném xuống sông.”
“Sông cũng không cần đá của mày.”
Vịnh bỏ viên đá ra. Tánh lén nhặt lại ngay khi Vịnh quay lưng, nhưng Thanh từ sau cột bước tới, chìa tay.
“Đưa tôi.”
“Công Thị lấy đá của tôi làm gì?”
“Giữ đến khi mày quay về.”
“Nếu tôi không quay?”
“Tôi sẽ ghi là chủ vật tự bỏ.”
Tánh nhìn nàng, không biết nàng nói đùa hay thật. Cuối cùng nó đặt viên đá vào tay Thanh.
Hùng ra sau cùng, dụng cụ đo hướng buộc bên gùi. “Mày nhớ thỏa thuận chứ?”
“Tới cột đầu tiên. Không đổi dấu. Không giấu chỗ nguy hiểm. Không bỏ đoàn đi chơi.”
“Và nghe Vịnh về đường.”
“Tôi biết đường hơn.”
“Nhưng Vịnh quyết đoàn có đi được hay không.”
Tánh xị mặt. “Biết rồi.”
“Nói lại.”
“Tôi nghe Vịnh về đường.”
Vịnh đưa gùi lại cho nó. “Đi.”
Tánh dẫn họ ra khỏi Đá Rền bằng một lối không ai trong đoàn nhận ra là đường.
Nó chui qua khoảng hẹp giữa hai tảng đá, men theo một dòng nước chỉ rộng bằng bàn chân rồi bám rễ cây trèo lên sống thấp. Chỗ có bùn sâu, nó cắm cành đánh dấu. Chỗ vách đá trơn, nó đứng lại chờ Vịnh thử trước, dù vẻ mặt cho thấy nó phải dùng hết kiên nhẫn mới không nhảy qua biểu diễn.
Đi được gần một canh, họ tới một cây cọc gỗ thấp cắm dưới gốc dẻ. Trên đầu cọc có ba vết chém và một nút dây đã mục.
Tánh chống gậy. “Cột đầu tiên.”
Hùng xem mặt cọc. “Dấu này chỉ gì?”
“Ba lối gặp nhau. Dây quay bên nào thì lối ấy đang đi được.”
“Ai đổi dây?”
“Người đi qua sau cùng.”
“Nếu họ không biết?”
“Thì đừng chạm.”
Vịnh kéo sợi dây mục. Nút lệch trái giống dấu họ đã theo từ đoàn vận tải, nhưng đầu dây quay về đông nam.
“Đường sang hai làng?” Vịnh hỏi.
Tánh gật. “Đường vòng. Đường nhanh ở bên kia dốc.”
“Đường nhanh nguy hiểm gì?”
“Có một khe phải nhảy.”
“Rộng bao nhiêu?”
Tánh dang hai tay. “Chừng này.”
“Với chân mày hay chân người mang gùi?”
Nó hạ tay xuống một ít. “Với chân tôi.”
Vịnh quay nút dây sang đường vòng. “Đi đông nam.”
Tánh rên khẽ. “Vậy tới trưa mới thấy sông.”
Hùng nói: “Mày đã tới cột đầu. Có thể quay về.”
Nó lập tức bước lên lối đông nam. “Tôi chưa chỉ xong.”
“Thỏa thuận chỉ một cột.”
“Công Tự không biết nút này dẫn tới cột nào tiếp theo.”
“Ta có Vịnh.”
“Vịnh biết đường nước, không biết đường dê.”
Vịnh hỏi: “Mày vừa gọi đường này là đường dê?”
Tánh nhận ra mình nói hớ. “Dê đi được thì người đi được.”
“Dê có mang hòm thẻ không?”
“Dê không cần chữ.”
Thanh lên tiếng: “Cho Tánh đi tới sông.”
Hùng nhìn nàng. “Vì sao?”
“Vì nó chưa nói dối về nguy hiểm. Nó đã đứng chờ khi cần. Và chúng ta cần hỏi đường tới cột mốc chìm.”
Tánh quay lại, mắt sáng lên.
Thanh nói tiếp: “Nhưng nếu tự ý đổi lối, mày quay về cùng một lính ngay.”
“Tôi không đổi.”
“Nếu bỏ đoàn để đuổi chim?”
Nó sờ cái bẫy trong gùi. “Không đuổi.”
“Nếu thấy tổ ong?”
Tánh im lặng.
Vịnh nói: “Quay về.”
“Không lấy mật,” nó đáp thật nhanh.
Họ tiếp tục.
Gần trưa, dòng sông hiện ra dưới tán cây.
Nó không rộng, nhưng nước sâu và chảy xiết giữa hai bờ đá. Bên bờ tây là một làng nhà sàn mái thấp, lưng tựa rừng lau. Bên bờ đông là những căn nhà gỗ dựng trên nền đá cao. Hai bến nhìn thẳng vào nhau. Giữa sông, một chiếc thuyền không người bị buộc bằng hai sợi dây kéo về hai phía, như con vật mắc bẫy.
Trên thuyền có sáu bó vải thô, một hòm dao gặt và ba túi muối. Mọi món đều ướt. Dây buộc hàng mang nút lệch trái.
Người hai bờ đứng kín mép nước. Bên tây giữ dây mũi, bên đông giữ dây lái. Không ai chịu thả.
Tánh nói nhỏ: “Lại bắt đầu rồi.”
Hùng hỏi: “Việc gì?”
“Bờ Tây Lau nói thuyền dạt vào nước làng họ nên hàng thuộc công cứu vớt. Bờ Đông Đá nói dấu buộc của người họ nên phải trả.”
“Thuyền của ai?”
“Người trên núi. Không thuộc cả hai.”
“Người đâu?”
“Chắc bỏ thuyền lúc nước lớn rồi đi đường rừng tìm.”
Một người bên bờ đông nhận ra Tánh, chỉ tay. “Thằng đổi dấu tới rồi!”
Tiếng cười nổi lên ở cả hai bờ. Tánh đỏ tai.
“Tôi không đổi dấu của họ.”
Vịnh hỏi: “Mày đổi dấu ở đây bao giờ chưa?”
“Một lần.”
“Mày vừa nói không đổi của họ.”
“Tôi đổi dấu đường, không đổi dấu hàng.”
“Khác nhau lớn lắm nhỉ.”
Tánh cúi đầu đi nhanh xuống bến.
Người đứng đầu Tây Lau là một phụ nữ tóc bạc tên Lụa. Bà đang nắm sợi dây mũi thuyền, lòng bàn tay quấn vải. Phía Đông Đá do một người đàn ông cao gầy tên Chẩn đứng ra. Ông giữ một thanh gỗ có khắc dấu hàng.
Thấy thẻ công vụ của Hùng, cả hai cùng gọi chàng sang bờ mình.
“Công Tự đứng bên này mới xem được chỗ thuyền dạt!” bà Lụa nói.
Chẩn quát qua sông: “Dấu hàng ở đây, xem nước thì xử được gì?”
Hùng đứng trên doi đá giữa hai lối xuống bến. “Ta không đến xét xử.”
Hai bờ cùng im một nhịp, rồi cùng phản đối.
“Có thẻ Kinh mà không xét?”
“Vậy tới làm gì?”
“Khảo xét cách luật được giữ,” Hùng đáp. “Nếu hai làng đồng ý cho nghe, chúng ta ghi. Quyền xử vẫn thuộc người có chức tại Châu.”
Bà Lụa cười nhạt. “Chờ người của Châu tới thì muối tan hết.”
Chẩn nâng thanh dấu. “Không cần chờ. Lệ bờ đông đã rõ: vật còn dấu phải trả nơi có dấu.”
“Lệ bờ tây cũng rõ,” bà Lụa nói. “Vật vô chủ được cứu khỏi nước phải chia công cho người cứu.”
“Thuyền có dấu, sao gọi vô chủ?”
“Dấu trên hàng không phải người trên thuyền.”
Hai bên lại kéo dây. Chiếc thuyền xoay ngang, mạn nghiêng. Một túi muối trượt sát mép.
Vịnh quát: “Thả bớt một dây! Các người xử xong thì chỉ còn nước để chia.”
Không ai nghe. Tánh lao xuống mép bến, nắm dây bờ tây bằng hai tay rồi kéo giật. Sức nó làm cả ba người đang giữ phía sau loạng choạng. Mũi thuyền quay lại dòng.
“Tánh!” Thanh gọi.
“Tôi cứu hàng!”
“Mày đang chọn một bờ.”
“Tôi chỉ kéo cho thuyền thẳng.”
Chẩn bên kia hét: “Nó giúp Tây Lau cướp thuyền!”
Tánh khựng lại. Nếu buông, thuyền lại xoay. Nếu giữ, người bờ đông coi nó đứng về phía đối diện.
Vịnh bước xuống nước, chỉ sợi dây bờ đông. “Hai bên cùng nhả theo nhịp ta. Không kéo. Chỉ giữ thuyền thẳng đến khi cọc giữa được đóng.”
Bà Lụa hỏi: “Ai đóng?”
“Người không thuộc hai làng.”
Vịnh nhìn hai lính. Họ lội ra doi nông, đóng một cọc tạm giữa dòng rồi buộc thuyền vào. Khi con thuyền đứng yên, hai bờ mới chịu thả dây.
Thanh nói với Tánh: “Sức của mày làm thuyền quay đúng, nhưng vì không báo trước, nó cũng khiến một bờ tưởng mày chống họ.”
“Nếu tôi báo, túi muối đã rơi.”
“Vậy lần sau hét một câu trong lúc kéo.”
“Hét gì?”
“Nói việc mày đang làm, không nói mình đứng bên ai.”
Tánh nhìn con thuyền. “Giữ thuyền thẳng!”
Vịnh nói: “Hét muộn rồi.”
“Tôi tập.”
Họ nghe luật của từng bờ ở hai nơi riêng biệt.
Tây Lau đưa Hùng và Thanh vào nhà chung ven rừng lau. Giữa gian nhà có một bếp đất nhỏ, trên than chỉ còn một đốm đỏ. Bà Lụa lấy hai mảnh vỏ cây khô úp quanh, dùng ống tre thổi rất nhẹ. Lửa không bùng ngay; nó đỏ dần dưới lớp tro, rồi bén sang một nhúm nhựa cây.
“Bếp này không tắt từ mùa nước lớn năm trước,” bà nói. “Mỗi đêm một nhà mang than tới giữ. Khi có thuyền gặp nạn, người thấy lửa bến sẽ ra cứu.”
Thanh hỏi: “Lệ cứu vật được truyền cùng bếp?”
“Cùng lời canh lửa: người giữ được mạng lấy một phần mười; người giữ được vật vô chủ lấy một phần ba công; phần còn lại chờ chủ ba lần lửa. Qua ba lần không ai nhận, làng chia theo người cứu.”
“Ba lần lửa là bao lâu?”
“Ba đêm. Mỗi đêm đốt lửa cao ở bến để người tìm thuyền thấy.”
“Nếu vật có dấu?”
Bà Lụa đáp: “Dấu giúp tìm chủ. Nhưng chủ phải tới trong ba lần lửa.”
“Nếu người gặp nạn bị thương, tới muộn?”
“Lệ không nói.”
“Có bản chép?”
Bà đưa một thanh gỗ đen khói. Trên đó là các hàng Khoa Đẩu đã mòn. Câu đầu còn đọc được: “Vật được kéo khỏi nước...” Phần sau cháy sém, chỉ còn các dấu rời chỉ ba, lửa và chia.
“Thanh này từng ở đâu?”
“Nhà lửa chung trước khi làng tách đôi. Khi Tây Lau dời sang bờ này, tổ tiên chúng tôi mang nó theo.”
“Bờ đông nói sao?”
“Họ bảo chúng tôi lấy trộm lệ. Nhưng chính họ bỏ lửa để chạy theo đá.”
Sau đó đoàn qua Đông Đá bằng chiếc thuyền nhỏ của Vịnh.
Nhà chung bờ đông không có bếp giữa gian. Trên vách là một hốc đá kín ba mặt, bên trong đặt chiếc đèn nhựa cây nhỏ. Gió sông lùa mạnh qua cửa, nhưng ngọn lửa chỉ nghiêng chứ không tắt.
Chẩn nói: “Lửa này lấy từ bếp chung ngày hai làng còn một. Tây Lau đem thanh luật đi, chúng tôi giữ đốm lửa và dấu hàng.”
Hùng hỏi: “Luật của bờ đông?”
“Vật có dấu thì trả theo dấu. Người cứu được nhận công do chủ trả. Không được lấy vật người khác chỉ vì nước đẩy sang đất mình.”
“Nếu dấu không còn?”
“Tìm người chứng.”
“Không có người chứng?”
Chẩn im lặng rồi nói: “Giao người giữ lệ định.”
“Người giữ lệ căn cứ vào đâu?”
“Vào việc đã làm trước đó.”
Thanh hỏi: “Có bản chép?”
Chẩn lấy một phiến đá mỏng cất trong hòm. Dòng đầu đã vỡ mất nửa. Phần còn lại ghi: “...dấu còn thì trả; dấu mất thì...” Sau chữ “thì” là một vết nứt.
“Hai vật này từng là một?” Hùng hỏi.
“Không,” Chẩn đáp ngay. “Thanh gỗ của họ là lệ cứu nạn. Phiến đá này là lệ hàng trôi. Họ ghép hai việc để lấy hàng.”
Bà Lụa ở bờ đối diện cũng nói đúng điều ngược lại: Đông Đá đã tách phần “trả theo dấu” khỏi lệ ba lần lửa để tránh trả công cứu vớt.
Mỗi bên giữ một vật chứng và một nửa câu chuyện. Cả hai cùng sống bên một dòng nước, nhưng đều tin phần mình mới là dòng chính còn phần kia đã rẽ sai.
Hùng đặt bản chép của hai bờ cạnh nhau. Thanh ghi riêng nguồn truyền, không ghép chúng thành một luật hoàn chỉnh.
Khi họ trở ra bến, Tánh ngồi xuống, lấy que vẽ hai vòng tròn trên đất rồi nối bằng một nét.
“Hai làng từng là một à?” nó hỏi.
Chẩn đáp vọng qua sông: “Trước trận lũ lớn. Sau đó bờ cũ sạt, người lên đá, người sang lau.”
“Ai mang lửa qua?”
“Người của bờ đông.”
Từ bến bên kia, bà Lụa nghe được, hét sang: “Người Tây Lau che than trong nồi đất suốt đêm mới giữ được!”
Chẩn hét lại: “Nồi của ai làm?”
“Đất của ai đào?”
Cuộc tranh lại bùng lên từ một đốm nhỏ.
Tánh nhìn Hùng. “Công Tự không xử thật à?”
“Không.”
“Nếu là Công Tự, người cho ai giữ hàng?”
“Ta chưa biết đủ.”
“Nhưng muối đang tan.”
“Có thể dỡ hàng lên kho chung, niêm dấu trước mặt hai bên. Việc cứu hàng không đồng nghĩa phải quyết chủ ngay.”
Tánh gật gù. “Giống buộc căn nhà trước rồi mới lấy đồ.”
“Đúng.”
“Sao lúc nào người lớn cũng muốn cãi xong mới cứu?”
Hùng nhìn nó. “Vì họ sợ vừa đưa tay cứu, bờ kia đã bảo họ nhận thua.”
“Ngốc.”
“Mày cũng vừa kéo dây mà không nói.”
Tánh im ngay.
Đến chiều, thuyền được kéo vào một doi giữa dòng và hàng được dỡ lên sàn tạm. Hùng yêu cầu mỗi bên cử hai người cùng kiểm. Thanh ghi số bó, tình trạng dây và dấu. Bách mở túi muối ướt, trải phần còn cứu được lên vải.
Hai làng chấp nhận giữ hàng chung trong một đêm, nhưng không ai chịu nhận luật của bên kia.
Hùng hỏi về cột mốc cũ.
Bà Lụa nói nó từng đứng ở doi giữa, nơi làng chung họp việc sông. Trận lũ tách bờ đã cuốn mất. Chẩn khẳng định cột chưa bao giờ có; nơi họp là một bãi đá phía đông.
Tánh kéo áo Vịnh. “Có cột.”
“Mày thấy?”
“Mùa cạn năm trước. Đầu cột nằm dưới nước gần doi đá, có rêu như tóc.”
“Sao không nói với làng?”
“Tôi nói. Họ bảo là gốc cây.”
Hùng hỏi: “Mày dẫn được không?”
“Được. Nhưng nước bây giờ cao hơn.”
Vịnh nhìn dòng chảy. “Không lặn lúc này.”
Tánh lập tức nói: “Tôi lặn được.”
“Mày đang bị thương tay.”
“Lặn dùng chân.”
“Kéo cột dùng gì?”
“Răng.”
Vịnh khoanh tay. Tánh hạ giọng: “Dùng dây.”
“Ngày mai chờ nước xuống.”
Tánh vẫn ngồi ở mép doi, nhìn một dải nước trong rỉ qua chân lau. Dòng sông đang đục sau mưa, riêng dải ấy trong đến thấy cát. Nó đào thử bằng ngón tay. Nước không chảy từ sông vào mà từ dưới bờ thấm ra, lặng lẽ đẩy những hạt bùn mịn sang hai phía.
Vịnh quỳ xuống xem. “Nguồn nhỏ dưới đất. Nó đã chảy ở đây lâu hơn trận lũ.”
Thanh cắm ba que lau theo đường nước trong. Đường ấy uốn về đúng vùng Tánh nói có đầu cột phủ rêu. Nếu cột từng đứng ở doi họp chung, lớp nước ngầm có thể đã giữ chân cột khỏi bị bùn xiết cuốn sâu hơn.
Không ai coi đó là chứng cứ. Nhưng lần đầu tiên trong ngày, hai bờ cùng nhìn xuống một nguồn nước không thuộc riêng bờ nào.
Bà Lụa phản đối: “Một đêm nữa muối hỏng.”
Chẩn cũng phản đối: “Để qua đêm, họ sẽ chuyển hàng.”
Thanh nói: “Hai bên cùng canh sàn. Không ai mở nếu thiếu người bên kia. Nếu cột có chữ, nó có thể giúp. Nếu không, ít nhất chưa ai mất hàng trong đêm.”
Sau nhiều lời qua lại, họ đồng ý.
Khi tối xuống, mỗi bờ nhóm một đốm lửa báo bến theo lệ cũ.
Lửa Tây Lau đặt trên cọc cao, được che bằng phên lau. Lửa Đông Đá nằm trong hốc đá, khuất gió nhưng nhìn thấy từ sông. Hai đốm không giống nhau: một ấm đỏ sau lớp phên, một vàng nhỏ trong hốc tối. Cả hai đều được người thay nhau giữ.
Gió đêm thổi dọc mặt nước. Có lúc lửa Tây Lau gần tắt, một người bờ đông chèo thuyền sang đưa nhựa khô. Khi ngọn lửa Đông Đá lụi dần, một đứa trẻ bờ tây mang than hồng sang tiếp lửa. Họ làm trong im lặng, như thể việc giữ lửa không thuộc cuộc tranh chấp ban ngày.
Thanh nhìn thấy, hỏi bà Lụa: “Hai bờ vẫn giúp nhau giữ lửa?”
“Lửa bến nào tắt, người đi sông đều nguy.”
“Vậy lệ ấy thuộc bờ nào?”
Bà Lụa không đáp.
Ở bờ đông, Chẩn cũng nhìn chiếc thuyền con chở than qua lại. Ông quay mặt đi, nhưng không ngăn.
Lời kể về luật có thể bị chia trong lời nói. Đêm xuống, đời sống lại âm thầm nối hai nửa bằng những việc không ai chịu nhận là của chung.
Sáng hôm sau, nước rút khỏi doi đá gần hai gang.
Vịnh buộc dây quanh người mình trước. Tánh phản đối cho đến khi nàng ném cho nó đầu dây thứ hai.
“Mày chỉ lặn sau khi ta tìm được chỗ. Không kéo một mình.”
“Tôi kéo khỏe hơn.”
“Nước mạnh hơn mày.”
“Chưa chắc.”
“Quay về Đá Rền.”
“Tôi nghe.”
Họ chèo ra doi. Vịnh dùng sào dò đáy. Tánh ngồi mũi, chỉ một vùng nước xoáy nhẹ sát tảng đá có hình lưng rùa.
“Dưới đó.”
Vịnh lặn trước. Một lúc sau Vịnh nổi lên, vuốt nước khỏi mặt. “Có vật gỗ hoặc đá, cao hơn đáy. Rêu dày.”
Tánh đã cột dây quanh bụng. “Tới tôi.”
“Chờ.”
Vịnh buộc một đầu dây vào thuyền, đầu kia làm vòng trượt. Vịnh chỉ cách luồn quanh thân cột mà không để tay mắc dưới rễ. Tánh nghe được nửa câu đã nhảy xuống.
Nước khép trên đầu nó.
Sợi dây chạy nhanh qua tay Vịnh. Vịnh siết lại, chửi nhỏ. Hùng và hai người giữ thuyền ghì mái chèo.
Tánh nổi lên ở phía bên kia tảng đá, ho sặc nhưng cười. “Có cột thật!”
“Buộc được chưa?”
“Chưa.”
“Vậy cười gì?”
“Tôi đúng.”
Vịnh bắt nó thở đều rồi mới cho lặn lần nữa. Lần này Tánh ở dưới lâu hơn. Khi nổi lên, đầu dây đã vòng qua vật chìm.
Họ không kéo thẳng. Vịnh cho thuyền xoay theo dòng, dùng sức nước nới bùn quanh cột. Tánh muốn giật, nhưng Hùng giữ vai nó.
“Việc cần không phải chứng minh mày khỏe.”
“Tôi biết.”
“Vậy chờ nhịp.”
Theo hiệu của Vịnh, sáu người kéo. Vật dưới nước nhích lên, bùn đen trào thành đám. Đầu tiên hiện ra một chỏm đá, rồi một mặt phẳng phủ rêu. Đó là cột mốc bằng đá, không phải gỗ. Phần chân vẫn mắc sâu nên họ chỉ kéo nghiêng được nó tựa vào doi.
Tánh bám mép đá, gồng người. “Thêm một chút!”
Vịnh quát: “Giữ, không nâng!”
Nó nghiến răng nhưng nghe lời. Hùng và Chẩn luồn nêm. Người Tây Lau kéo dây đối diện. Lần đầu từ khi đoàn tới, hai bờ dùng sức vào cùng một hướng mà không tranh bên nào thắng.
Mặt cột lộ khỏi nước.
Thanh chèo sát, dùng gáo dội bùn. Những nét Khoa Đẩu hiện ra, mòn và đứt. Mọi người trên hai bờ im lặng.
Dòng trên đọc được: “Vật dạt theo nước...”
Dòng dưới còn: “...dấu còn... ba lửa...”
Giữa hai dòng là một khoảng đá bị vỡ mất rộng bằng bàn tay.
Chẩn nói trước: “Dấu còn thì trả. Rõ rồi.”
Bà Lụa từ thuyền bên cạnh đáp: “Ba lửa rồi mới chia. Cũng rõ.”
“Hai câu tách nhau.”
“Ai bảo?”
Hùng xem vị trí nét. Khoảng vỡ có thể chứa ba chữ, cũng có thể bảy. Không biết dấu nối đã nằm đó hay chưa. Cột xác nhận hai phần từng cùng xuất hiện trên một vật, nhưng không cho biết điều kiện nào đứng trước, trường hợp nào áp dụng cho hàng có dấu và công cứu được tính ra sao.
Thanh chép đúng phần còn lại, để trống chỗ mất. Nàng không điền bằng lời của hai bờ.
Tánh nhìn cột, môi trề ra. “Kéo muốn rời cả hai cánh tay mà vẫn không biết ai đúng?”
“Biết thêm một điều,” Hùng nói. “Hai bên đều giữ được phần có thật.”
“Biết thế thì để nó nằm dưới sông còn hơn.”
Hùng nhìn hai bàn tay nó đỏ rớm dưới lớp vải. “Nếu để nằm dưới ấy, mày sẽ còn nghĩ chỉ cần kéo thật mạnh là có đáp án.”
Tánh định cãi, nhưng thấy chàng đang tháo dải vải sạch ở cổ tay mình đưa cho Bách, nó quay mặt đi. “Tôi đâu có kéo một mình.”
“Ừ,” Hùng nói. “Đó mới là điều đáng nhớ.”
“Vậy ghép lại.”
“Ghép thế nào?”
Tánh chỉ hai dòng. “Dấu còn thì trả sau ba lửa.”
Chẩn phản đối. Bà Lụa lại đồng ý ngay. Tánh thấy vậy liền ngậm miệng.
Hùng hỏi: “Vì sao mày đặt ‘sau ba lửa’ ở cuối?”
“Nghe thuận.”
“Thuận tai không phải chứng.”
“Vậy cột này có ích gì?”
Thanh đáp: “Nó ngăn mỗi bờ nói phần của mình là toàn bộ. Nhưng nó chưa đủ để phân xử.”
Gió sông thổi qua. Lửa báo bến đã tắt vì trời sáng. Dưới doi, dải nước trong vẫn thấm ra từ cùng một mạch rồi chia về hai phía; trên mặt đất, người hai làng lại đứng ở hai bên cột đá.
Một giọng phụ nữ cất lên từ chiếc thuyền nhỏ phía hạ dòng:
“Cột không thiếu chữ từ đầu. Phần giữa bị đục đi.”
Mọi người quay lại.
Chiếc thuyền không mang dấu làng. Trên đó có ba người, áo vá từ nhiều loại vải, da sạm nước. Họ thuộc nhóm sống trên thuyền, thường chở thuê giữa các bến nhưng không được ghi vào sổ của cả Tây Lau lẫn Đông Đá.
Chẩn cau mặt. “Ai cho các người xen vào?”
Người phụ nữ đáp: “Người của chúng tôi đã kéo cột này trước trận lũ. Chúng tôi biết chữ nào từng ở giữa.”
Bà Lụa hỏi: “Sao bao năm không nói?”
“Có ai ghi tên chúng tôi vào người được làm chứng đâu?”
Thanh đặt bút xuống thẻ mới.
“Tôi sẽ nghe.”
Chẩn bước lên mũi thuyền. “Công Thị, họ không có họ trong sổ Bộ, không có đất ở hai làng. Lời của họ không thể đứng ngang người giữ lệ.”
Thanh nhìn người phụ nữ trên thuyền, rồi nhìn khoảng chữ bị mất giữa hai phần luật.
“Chính vì họ đứng ngoài hai bờ,” nàng nói, “có thể họ đã nhìn thấy điều cả hai bên cùng bỏ sót.”
Cuộc tranh chấp chưa có lời phán.
Nhưng từ khoảng trống trên cột đá, một dòng ký ức khác vừa tìm được khe để chảy vào.