Đốm lửa xuất hiện trên sườn núi khi trời còn chưa sáng rõ.
Nó chỉ lóe lên một lần giữa màn sương, nhỏ đến mức Hùng tưởng mình nhìn nhầm. Sau đó đốm thứ hai bùng cao hơn, đỏ rực trên một mỏm đá rồi bị gió ép rạp. Một cột khói sẫm kéo xiên về phía nam.
Vịnh đang tháo dây buộc bè, vừa thấy đã dừng tay.
“Không phải lửa đốt nương.”
Hùng đứng lên. Vai chàng còn đau vì gùi hôm trước. “Làm sao Cư Vịnh biết?”
“Đốt nương không nhóm trên đá trọc, cũng không đốt lúc đất còn ướt thế này.”
Bà Sắn bước khỏi tấm che, nheo mắt nhìn sườn núi. “Ba đốm cách nhau mới là gọi người. Một đốm có thể chỉ là người hong áo.”
Như để trả lời bà, trên mỏm đá bùng lên ngọn lửa thứ ba.
Lần này họ nghe cả tiếng mõ, rất xa, bị núi và sương bẻ vụn thành từng nhịp.
Đoàn vận tải quanh bãi lập tức chuyển động. Người cuốn chiếu, người buộc lại gùi, người dùng chân dập than bếp. Không ai hỏi có nên đi xem hay không.
Hùng hỏi: “Tín hiệu ấy gọi việc gì?”
Bà Sắn đáp: “Lửa trên mỏm phía đông báo sạt đất hoặc cháy rừng. Trời mưa thế này thì chỉ còn sạt.”
“Làng nào?”
“Làng Đá Rền, thuộc Cương Châu, ngay dưới chân núi. Mấy kiện hàng dùng nút lệch trái cũng thường đi qua đó.”
Thanh đã lấy thẻ ghi. “Ai giữ lửa hiệu?”
“Nhà nào nhìn thấy việc trước thì đem nhựa cây lên đốt. Khi làng bên thấy, họ đốt tiếp ở mỏm kế. Lửa không chỉ gọi người gần. Nó chỉ cho người từ xa biết phải tìm về hướng nào.”
Hùng nhìn ba đốm đỏ đang chống chọi với sương ướt. Từ dưới lạch, chúng nhỏ như những hạt than rơi trên sống núi. Nhưng chính vì nằm cao, một ngọn lửa ít củi lại gọi được nhiều người hơn cả tiếng trống trong thành.
Vịnh cuộn dây bè. “Nếu đi theo nước tới bãi Sậy, chúng ta sẽ vòng khỏi Đá Rền.”
“Đường bộ?”
“Có lối lên theo khe đá. Sau mưa dễ trượt.”
“Mất bao lâu?”
“Không gùi nặng thì trước khi nắng lên. Mang cả đoàn thì lâu hơn.”
Hùng nhìn số hàng dưới tấm che. Lời thề yêu cầu nói rõ mục tiêu và cái giá trước chặng nguy hiểm. Nhưng lần này, đích chưa phải một dấu khảo cứu. Trên núi có người đang gọi cứu giúp.
Chàng quay sang bà Sắn. “Đoàn vận tải có đổi đường không?”
“Ai mang thứ không sợ ướt sẽ đi giúp. Người có hạt giống và muối tiếp tục theo lạch, nếu dồn cả vào đường núi thì cứu người này lại làm hỏng phần sống của người khác.”
Bà chỉ bốn người cùng ba gùi dụng cụ. “Chúng tôi cử từng ấy.”
Hùng nói với đoàn mình: “Để hòm thẻ, lương và mực đi cùng người coi lương theo lạch. Ta, Công Thị Thanh, Cư Vịnh, Bách cùng hai lính lên núi. Chỉ mang thuốc, dây, dao và một ngày lương.”
Thanh hỏi: “Bản tuyến?”
“Bản của bậu theo nhóm lên núi. Bản Cư Vịnh vẫn giữ. Bản thứ ba còn ở kho đường.”
Vịnh vỗ ống da bên hông. “Bản của tôi vẫn ở đây.”
Hùng gật đầu. “Mục tiêu là tới làng hỗ trợ cứu người. Cư Vịnh quyết lối đi. Nếu đường không thể qua, chúng ta quay lại, không ép.”
Một người lính hỏi: “Thưa Công Tự, nếu đến nơi việc đã xong?”
“Thì chúng ta mất nửa ngày. Không ai bị phạt vì ngọn lửa gọi cứu hóa ra đã được người khác đáp trước.”
Bà Sắn nghe vậy, nhìn chàng một thoáng rồi cúi buộc hàng. “Câu ấy nên giữ.”
Lối lên Đá Rền không giống đường.
Nó là một chuỗi chỗ có thể đặt chân: rễ cây lộ khỏi đất, mặt đá nghiêng, hai thân gỗ bắc qua khe nước và những bậc người đi trước dùng cuốc khoét vào sườn dốc. Mưa đêm đã kéo bùn tràn qua nhiều đoạn. Chỗ nào cây giữ được đất, lối còn nguyên. Chỗ nào chỉ có cỏ, cả mảng sườn đã trượt xuống thành một vệt đỏ lẫn đá vụn.
Vịnh đi đầu, dùng cán sào thử đất trước mỗi bước. Hùng theo sau, Bách và Thanh ở giữa; hai lính cùng bốn người vận tải chặn cuối.
Họ gặp nhóm người đầu tiên đi xuống khi mới qua nửa dốc. Ba người khiêng một tấm phên, trên đó nằm một người đàn ông chân quấn vải. Máu đã thấm nâu qua lớp lá thuốc.
Bách dừng lại kiểm tra. “Gãy xương, buộc chưa chặt.”
Người khiêng nói: “Trên làng còn người mắc. Chúng tôi đưa ông ấy xuống bãi thuyền.”
“Sạt lúc nào?” Thanh hỏi.
“Cuối canh đêm. Một mảng núi đổ vào dãy nhà phía bắc. Lửa hiệu do thằng Tánh nhóm.”
“Ai?”
“Tánh. Nó thấy đất rền trước mọi người rồi chạy lên mỏm đốt lửa.” Người kia vừa nói vừa thở. “Sau đó lại chạy xuống chui vào nhà đổ. Không ai giữ nổi chân nó.”
Vịnh hỏi: “Bao nhiêu tuổi?”
“Mười ba, có người bảo mười bốn. Hỏi nó, nó cũng chẳng nhớ.”
“Quân Cơ đâu?”
“Dân thường trong làng cả. Nhà ở phía tây, không bị sạt. Nhưng nó thấy chỗ nào đông là chạy tới.”
Người bị thương trên phên mở mắt, thều thào: “Đừng để nó nâng mái nữa.”
Hùng cúi xuống. “Vì sao?”
“Nó nhấc được. Chính vì nhấc được nên không chịu nghe ai.”
Bách ở lại nẹp chân cho người bị thương. Hùng muốn chờ, nhưng tiếng mõ trên núi lại dồn ba nhịp. Vịnh bảo hai người vận tải ở lại giúp Bách; hai người vận tải còn lại tiếp tục theo đoàn lên làng.
Đến gần làng, họ ngửi thấy mùi nhựa cây cháy từ lửa hiệu trộn với mùi đất mới sạt. Cả một vạt rừng bên trên đã bị xé khỏi sườn. Rễ cây đứt dựng lên như những sợi dây nâu. Đất đỏ phủ qua ba căn nhà sàn; một căn chỉ còn mái, một căn nghiêng xuống khe, căn thứ ba bị thân cây lớn đè ngang.
Người chạy, gọi nhau, chuyền đất bằng rổ. Trẻ nhỏ được gom dưới một mái kho còn chắc. Gia súc buộc lẫn với đồ đạc. Giữa tiếng khóc và tiếng cuốc, một giọng con trai vang lên đầy khoái chí:
“Đẩy nữa đi! Tôi nâng được!”
Hùng nhìn theo giọng nói.
Dưới căn nhà nghiêng, một đứa trẻ đang đứng trong bùn đến mắt cá. Nó gầy theo kiểu người chưa kịp lớn hết chiều ngang, tóc cắt lởm chởm, áo nâu rách một bên vai. Hai cánh tay ôm lấy cây cột chính đã bật khỏi hòn kê. Đầu cột đội xà nhà. Phần mái nặng trĩu phía trên đang nghiêng xuống, nhưng cây cột trong tay nó từ từ được nhấc lên khỏi bùn.
Không phải một cú giật may mắn. Nó nâng thật.
Mỗi lần đứa trẻ duỗi chân, cả góc nhà nhích cao thêm một chút. Hai người đàn ông luồn đá kê dưới chân cột. Một bà già bò từ gầm sàn ra, ôm chiếc giỏ có tiếng gà kêu quang quác bên trong.
Đứa trẻ cười lớn. “Bà giữ gà hay gà giữ bà mà lâu thế?”
Bà già vừa thoát chết vẫn quay lại mắng: “Tổ tiên mày! Nâng cho chắc, còn nói!”
“Tôi đang chắc đây.”
Nó thử chuyển cây cột sang vai như một người đổi đòn gánh. Xà nhà phía trên kêu răng rắc.
Vịnh quát: “Đừng đổi tay!”
Đứa trẻ quay đầu nhìn người lạ. Chỉ một thoáng mất tập trung, chân cột trượt khỏi viên đá mới kê. Cả góc mái sụp xuống một gang. Những người xung quanh la lên.
Nó ghì hai tay, bật mạnh người. Cây cột dừng lại ngay trước khi xà ngang đè vào lưng một người đang bò dưới sàn.
“Ra hết!” Hùng hét. “Không lấy thêm đồ!”
Một người đàn ông trong nhà đáp: “Còn hòm hạt!”
“Người ra trước.”
“Mùa sau lấy gì gieo?”
Thanh nhìn mái. Thân cây đè bên trên đang trượt từng chút trên lớp bùn. Họ không có thời gian tranh bằng những điều lớn.
Nàng gọi: “Hòm ở đâu?”
“Góc bắc, cạnh bếp!”
“Có ai mắc phía ấy không?”
“Không.”
“Vậy bỏ. Nếu mái giữ được sau khi người ra hết mới quay lại.”
Đứa trẻ đang nâng cột nói vọng: “Tôi giữ được! Lấy hòm đi!”
Vịnh bước tới sát nó. “Tánh giữ được cột, nhưng Công Tự không biết thân cây trên mái còn bám bao nhiêu.”
“Tôi thấy nó chưa rơi.”
“Đến khi Công Tự thấy nó rơi thì đã không kịp tránh.”
“Tôi né được.”
“Còn người dưới sàn sẽ tránh theo cách nào?”
Nụ cười trên mặt đứa trẻ tắt đi một nhịp. Nó nhìn người đàn ông vừa bò ra, lưng áo bị xà quệt rách. Lần đầu, sức nặng trên tay dường như không còn là trò thử sức chỉ liên quan tới mình.
Hùng nói với hai lính: “Dùng dây giữ chân cột. Vịnh xem điểm buộc.”
“Buộc cột không đủ. Phải ghìm đầu xà về gốc cây phía sau.”
Vịnh chạy vòng nhà, ném dây qua một nhánh còn chắc. Thanh gọi những người đang đào đất tới kéo. Hùng không giành cây cột khỏi tay đứa trẻ. Chàng đứng đối diện nó.
“Tên gì?”
“Tánh.”
“Tánh, nghe Can. Khi dây căng, hạ cột từng chút vào viên kê. Không nâng thêm.”
“Địa có thể nâng cao hơn.”
“Can biết.”
Câu trả lời khiến nó ngẩng lên. Người lớn quanh làng hoặc hò reo khi nó làm được việc lạ, hoặc quát nó bỏ xuống. Không ai bình thản nói đã biết sức nó rồi vẫn yêu cầu dừng.
Hùng tiếp: “Việc cần bây giờ không phải nâng cao nhất. Là giữ cho mọi người ra đủ.”
Tánh liếc vào gầm sàn. Người cuối cùng đang lùi ra, kéo theo một ấu nhỏ ho sặc vì bụi.
“Ra rồi!” ai đó hô.
Vịnh kéo căng dây. “Hạ!”
Tánh hạ cột. Sức lực giúp nó nhấc cả góc nhà, nhưng việc đặt cây cột đúng vào hòn kê lại khó hơn. Hai lần nó xuống quá nhanh, đá bật ra. Lần thứ ba, nó chịu nhìn tay Vịnh ra hiệu. Cột chạm hòn kê, dây ghìm xà giữ đúng góc.
Mọi người lùi khỏi nhà.
Thân cây trên mái trượt xuống ngay sau đó. Một nửa căn nhà đổ sập, bụi đất phun ra. Tánh đứng ngoài tầm đổ chưa đầy hai bước. Nó nhìn đống gỗ, rồi nhìn bàn tay mình.
“Nếu tôi nâng thêm...”
Vịnh đáp: “Thì Công Tự ở trong đó.”
Tánh im lặng được ba nhịp. Sau đó nó cười lại, nhưng tiếng cười ngắn hơn.
“Vậy lần sau tôi buộc dây trước.”
“Lần sau Công Tự gọi người trước.”
“Gọi rồi mới buộc?”
“Vừa gọi vừa buộc.”
Vịnh quay đi, không để nó thấy khóe miệng mình hơi nhếch lên.
Một tiếng ục sâu bỗng vọng lên dưới lớp bùn sau căn nhà.
Tánh nghiêng đầu. Nó không nhìn đám gỗ đổ mà nhìn vệt nước đang phồng từng nhịp dưới chân dốc.
“Nguồn bị đất bịt rồi.”
Trưởng làng chưa hiểu thì một dòng nước nhỏ đã phụt qua bùn, đục ngầu và nóng hơi đất. Tánh chộp cuốc định bổ thẳng. Vịnh giữ cán lại.
“Bổ vào giữa, nước bật sẽ kéo cả mảng đất xuống. Mở cho nó một đường trước.”
Họ đào một rãnh xiên về khe cũ. Tánh nén sức, chỉ gạt từng lớp bùn theo tay Vịnh. Khi nút đất cuối cùng được nhấc ra, nước từ lòng sườn núi bật thành một dòng mạnh, tràn vào rãnh mới rồi lao xuống khe. Mặt bùn đang căng sau hai căn nhà còn lại xẹp dần. Những khe nứt thôi rỉ nước.
Người làng ùa tới đặt máng gỗ, dẫn phần nước trong sang chum cứu nạn. Dòng đầu đục như máu đất; qua từng lớp sỏi và rễ, nó sáng dần. Trẻ nhỏ được uống trước, rồi tới người bị thương.
Hùng nhìn dòng nước vừa tìm lại cửa ra. Từ trong lòng núi, nó đã âm thầm dồn sức dưới lớp đất kín; chỉ khi được mở đúng lối, sức ấy mới thôi phá sườn dốc và trở thành nước cứu người.
Khi việc cứu người qua cơn gấp, sự kinh ngạc mới có chỗ tràn vào.
Những người chưa tận mắt thấy kéo tới hỏi. Có người bảo Tánh nhấc cả căn nhà. Người khác nói nó đội mái bằng một vai. Một đứa nhỏ quả quyết lúc Tánh chạy từ mỏm lửa xuống, chân nó không chạm đất.
Tánh không cải chính. Nó ngồi trên một thân cây đổ, ăn liền ba nắm gạo do người làng đưa, vừa nhai vừa thêm thắt:
“Tôi còn định cầm luôn cây trên mái ném sang khe. Nhưng Can này đến sớm quá, không cho.”
Hùng đang cùng Vịnh xem vết trượt trên sườn dốc, nghe thấy liền quay lại. “Can không nhớ đã ngăn việc ấy.”
“Công Tự bảo không nâng thêm.”
“Một cây cột khác với thân cây lớn bằng ba người ôm.”
“Chưa thử sao biết?”
Những đứa trẻ quanh Tánh cười ầm. Một người đàn bà lớn tuổi kéo chúng ra, mắt không rời hai cánh tay nó.
“Đừng đứng gần quá.”
Tánh nghe thấy. Nụ cười vẫn còn nhưng ánh mắt đổi đi. Nó ném nắm gạo cuối vào miệng, nhảy khỏi thân cây.
Một người khác nói nhỏ: “Sức ấy không phải sức người.”
“Nó nhóm lửa trên mỏm trước lúc đất đổ,” người bên cạnh đáp. “Biết đâu núi báo qua nó.”
“Hay núi giận vì nó?”
Lời biết ơn và sợ hãi lan nhanh như cùng sinh ra từ một chỗ. Người vừa nhờ Tánh nâng gỗ quay đi làm dấu tránh dữ. Người mất nhà muốn kéo nó tới đặt tay lên vết nứt xem đất còn sạt không. Có người đề nghị đưa nó lên nhà giữ lệ để hỏi điềm.
Tánh đứng giữa đám đông, lúc đầu còn thích thú. Được nhiều người nhìn vốn là điều nó ưa. Nhưng khi một người đàn bà bế ấu tới, xin nó chạm vào trán để đứa trẻ “được núi cho sức”, nó lùi lại.
“Tôi có cho được đâu.”
“Ấu chỉ cần đặt tay.”
“Tay tôi dính bùn.”
“Bùn núi càng tốt.”
Tánh nhìn quanh tìm lối thoát. Đám trẻ lúc nãy đã bị kéo xa. Những người lớn vây quanh nó không còn nhìn một đứa trẻ vừa liều mạng giúp làng; họ nhìn điều mình muốn tin hoặc muốn sợ.
Thanh bước vào giữa.
“Xin mọi người tránh cho Bách xem tay nó.”
“Nó có bị thương đâu,” một người nói.
“Chưa xem thì chưa biết.”
Nàng không tranh về điềm lành hay điềm dữ. Nàng gọi đúng tên một việc bình thường đến mức đám đông phải chậm lại. Bách vừa lên tới làng, mồ hôi ướt lưng áo, nghe gọi liền mở túi thuốc.
Tánh nói: “Tôi không đau.”
“Ngồi xuống,” Bách đáp.
“Tôi không—”
Bách ấn vào cổ tay nó. Tánh giật mạnh, suýt hất ông ngã.
“Không đau?”
“Chỗ ấy chỉ hơi nhói.”
“Nhói là đau. Ngồi.”
Tánh miễn cưỡng ngồi lên một tảng đá. Bách xem vai, bàn tay và lưng. Da lòng bàn tay rách ba chỗ, vai trái bầm tím. Sức nó giữ được cột nhưng thân thể vẫn phải trả giá như bất cứ người nào.
Thanh hỏi những người đã có mặt từ đầu. “Ai thấy Tánh phát hiện sạt đất?”
Một người chỉ vệt bùn ở sườn dốc. “Nó đi đặt bẫy chim về, nghe đất rền.”
“Nó làm gì?”
“Chạy lên đốt lửa hiệu.”
“Ai dạy?”
“Cả làng đều biết ba đốm gọi sạt. Trẻ chăn dê thuộc trước khi thuộc đường về nhà.”
“Nhựa cây để đâu?”
“Trong hốc đá dưới mỏm, ai cũng dùng được.”
Thanh ghi từng câu. Đám đông nhìn ngòi bút của nàng, tiếng thì thầm nhỏ dần.
“Điều chúng ta biết,” nàng nói, “là Tánh nghe đất rền khi đang ở trên núi, chạy tới nơi giữ nhựa và đốt ba đốm lửa theo lệ làng. Sau đó nó xuống giúp cứu người. Sức của nó lớn hơn người cùng tuổi. Những điều ấy có người tận mắt chứng kiến.”
Một người hỏi: “Còn việc núi báo qua nó?”
“Ai tận mắt thấy núi nói?”
Không ai đáp.
“Việc núi giận vì nó?”
Một ông già nói: “Đất sạt đúng đêm nó ngủ ngoài mỏm.”
“Đêm trước có mưa không?”
“Có.”
Vịnh chỉ lên vạt sườn đã trượt. “Cây trên đó bị chặt lấy gỗ từ hai mùa trước. Rễ mục, đất no nước thì trượt. Không cần một đứa trẻ nằm trên đá để làm núi giận.”
Ông già cau mặt. “Người bến biết gì về núi?”
“Đủ biết đất không sạt vì nghe tên ai.”
Thanh giơ tay trước khi lời qua tiếng lại bùng lên. “Nếu làng muốn giữ lời về hôm nay, xin ghi riêng: điều đã thấy, điều suy ra và điều chỉ nghe đoán. Đừng biến lòng biết ơn thành một cái tên Tánh phải mang, cũng đừng biến nỗi sợ thành tội của nó.”
Người đàn bà chậm rãi đặt ấu xuống. Tánh ngồi bên Bách, vẻ mặt cố tỏ ra không quan tâm. Nhưng khi Thanh nói “tội của nó”, đôi vai nó bớt cứng.
Hùng nhìn thấy.
Chàng cũng nhìn thấy một việc khác: Tánh biết chỗ cất nhựa trên mỏm, biết lối chạy xuống nhanh hơn đường làng, đã nghe tiếng đất rền và nhận ra nguy hiểm trước lúc sạt, lại biết căn nhà nào còn người. Sức khỏe là điều khiến mọi người nhìn nó. Nhưng chính sự thông thuộc núi mới làm ba đốm lửa được thắp kịp lúc.
Buổi trưa, mưa tạnh hẳn.
Lửa hiệu trên mỏm chỉ còn khói. Những nhóm từ làng bên đã đến, mang cuốc, dây và lương. Họ nhìn đống nhà đổ rồi tự chia việc theo lệ cứu sạt: người đào rãnh thoát nước, người chặt cọc, người đưa người già và trẻ nhỏ sang bờ bên kia con sông dưới núi.
Hùng cùng trưởng làng xem những kiện hàng còn nguyên. Trên hòm hạt giống bị bỏ lại trong nhà sập có nút dây lệch trái giống hệt các kiện ở đoàn bà Sắn. Những bó công cụ trong kho cũng vậy.
“Ai buộc?” Hùng hỏi.
Trưởng làng chỉ về phía Tánh. Nó đang dùng một tay nhấc đầu thân cây để người khác luồn đòn bẩy, tay kia cầm nửa củ luộc.
“Nó buộc phần lớn hàng đi núi.”
Thanh hỏi: “Ai dạy nó?”
“Không ai nhận. Nó nhìn người gùi rồi đổi nút cho dễ tháo lúc chỉ còn một tay rảnh.”
Hùng gọi: “Tánh!”
Nó quay lại, miệng còn đầy thức ăn. “Gì?”
Trưởng làng quát: “Nói với Công Tự cho đúng lễ.”
Tánh nuốt vội. “Thưa Can, việc gì?”
“Nút này do Địa buộc?”
“Cái nào?”
Hùng đưa một sợi lạt. Tánh nhìn qua. “Nút đi sườn dốc.”
“Vì sao lệch trái?”
“Tay phải giữ hàng. Tay trái kéo đầu dây này thì nút bật. Nếu buộc thẳng, ướt mưa phải dùng răng cắn.”
“Ai dùng?”
“Người Đá Rền, người hai bờ sông, người gùi qua sống núi. Ai thấy tiện thì dùng.”
“Nó bắt đầu từ đâu?”
Tánh nhún vai. “Nút thì buộc, cần gì biết bắt đầu?”
Thanh hỏi: “Địa thấy nó đầu tiên ở đâu?”
“Trên gùi của một người từ bờ tây. Hay bờ đông.” Nó gãi đầu. “Lúc ấy Địa đang đuổi dê, không hỏi.”
“Dòng sông nào?”
Tánh chỉ về khe núi phía đông nam. “Qua sống kia. Dưới đó có hai làng nhìn nhau qua nước. Cùng một cái thuyền trôi sang bên nào thì bên ấy cũng bảo luật của mình đúng.”
Hùng và Thanh nhìn nhau.
“Địa biết đường tới đó?” Hùng hỏi.
Tánh cười, vẻ nghịch ngợm trở lại. “Biết đường nhanh, đường dễ và đường người lớn hay đi lạc.”
“Khác nhau thế nào?”
“Đường nhanh phải leo vách. Đường dễ vòng qua rừng. Đường người lớn hay đi lạc có cột đá nhìn giống nhau, ai cũng tưởng mình nhớ đúng.”
Vịnh bước tới. “Từ đây tới sông mất bao lâu?”
“Tôi đi nửa ngày.”
“Đoàn có người mang gùi.”
Tánh nhìn vai Hùng, rồi nhìn ống thẻ của Thanh và túi thuốc của Bách. “Vậy một ngày. Nếu Can cứ dừng đo đá thì hai.”
Hùng hỏi: “Sao Địa biết Can dừng đo?”
“Cái bàn nước bằng gỗ kia chỉ người trong thành mới chịu mang lên núi.”
Hùng nhìn xuống dụng cụ buộc bên gùi. “Địa quan sát khá.”
“Ai cũng thấy. Chỉ không ai nói.”
Trưởng làng chen vào: “Công Tự định hỏi đường thì tôi cử người lớn. Nó còn ít tuổi, miệng chưa biết giữ.”
Tánh phản đối: “Người lớn ông cử lần trước dẫn đoàn muối vào bãi đá cụt.”
“Vì mày đổi dấu cành cây để trêu!”
Đám người gần đó cười rộ. Tánh không hề hối lỗi. “Họ đi ba vòng mới nhận ra. Sau đó nhớ đường rất lâu.”
Vịnh khoanh tay. “Công Tự lấy dấu đường ra đùa?”
“Chỉ đổi hai cành. Không có vực.”
“Người gùi muối mất nửa ngày.”
“Họ mắng cũng nửa ngày.”
Vịnh nhìn Hùng. “Nó biết đường. Nó cũng là lý do không nên giao đường cho người chỉ vì biết.”
Tánh cắn nốt củ luộc. “Tôi không xin dẫn.”
“Tốt,” trưởng làng nói.
“Tôi chỉ nói họ sẽ đi chậm nếu theo người khác.”
Hùng không đáp ngay. Tánh đúng là manh mối họ cần, nhưng cũng là một đứa trẻ vừa xem việc đổi dấu đường như trò vui. Sức của nó đã cứu người sáng nay; sự bốc đồng của nó suýt làm mái nhà sập lên chính những người ấy.
Thanh hỏi Tánh: “Địa nhóm lửa hiệu để làm gì?”
“Gọi người.”
“Nếu có kẻ đổi vị trí ba đốm lửa cho vui?”
“Không ai ngu thế.”
“Vì sao?”
“Người ở xa sẽ chạy sai hướng.”
“Dấu cành cũng dẫn người đi hướng khác.”
Tánh mở miệng định cãi rồi ngừng. Nó nhìn lên mỏm đá nơi khói hiệu còn vương. Trò đùa ở lối núi và ba đốm lửa cùng là dấu dẫn đường. Khác biệt không nằm ở cành hay lửa, mà ở việc ai sẽ trả giá nếu nó nói dối.
“Địa biết rồi,” nó nói, giọng nhỏ hơn.
Vịnh hỏi: “Biết gì?”
“Không đổi dấu khi có người mang hàng.”
“Chỉ khi mang hàng?”
“Khi có người đi.”
“Còn dê?”
Tánh nhìn Vịnh, nhận ra mình đang bị dồn. “Dê cũng không.”
Một vài người bật cười. Tánh đỏ tai.
Thanh không cười. “Nếu Địa dẫn đoàn chúng tôi, Địa có giữ đúng dấu không?”
“Kỷ muốn Địa dẫn đường à?”
“Kỷ hỏi Địa có làm được không.”
Nó nhìn Hùng, Vịnh rồi nhìn những người trong làng. Cái nhìn của họ vẫn lẫn biết ơn, nghi ngại và chờ đợi. Đi cùng người lạ có thể là một trò mới. Nhưng sau căn nhà sập và câu hỏi về lửa hiệu, nó hiểu câu trả lời sẽ không chỉ dùng cho mình.
“Địa làm được.”
Trưởng làng lắc đầu. “Nó nói gì cũng nhận.”
Hùng đáp: “Chúng tôi chưa nhận nó đi. Ngày mai, Tánh dẫn chúng tôi tới cột chỉ đường đầu tiên ngoài làng. Vịnh kiểm lối. Nếu nó đổi dấu, giấu nguy hiểm hoặc bỏ đoàn để chơi, nó quay về ngay.”
Tánh hỏi: “Nếu Địa đi đúng?”
“Tới cột đầu rồi tính tiếp.”
“Chỉ một cột?”
“Một cột.”
Nó nhăn mặt, rõ ràng thấy thử thách quá ngắn. “Được.”
Vịnh nói: “Sáng trước khi gà gáy lần hai.”
“Sớm thế?”
“Không đi thì thôi.”
“Đi.”
“Mang phần ăn của mình.”
“Tôi ăn ít.”
Cả làng cùng cười. Người đã thấy nó ăn ba nắm gạo cười lớn nhất.
Tánh chống chế: “Sáng nay tôi nâng nhà.”
“Ngày mai chỉ đi đường,” Vịnh nói. “Mang gấp đôi.”
Chiều xuống, người làng Đá Rền nhóm lại lửa hiệu.
Lần này không phải gọi cứu. Họ đốt một đốm dài để báo đã tìm đủ người sống, rồi hai đốm ngắn báo cần gỗ và lương trong những ngày tới. Trên các mỏm xa, từng ngọn lửa đáp lại. Ánh đỏ chuyền qua sống núi, nơi gần sáng trước, nơi xa sáng sau, nhưng cuối cùng cả thung lũng đều biết làng chưa bị bỏ một mình.
Tánh ngồi trên mỏm thấp, hai tay đã được Bách băng lại, vẫn cố dùng răng buộc nút dây vào gùi. Thanh đến ngồi cách nó một quãng.
“Bách bảo không dùng tay tối nay.”
“Địa dùng răng.”
“Nút ấy sẽ giữ được gì?”
“Giữ phần ăn ngày mai.”
“Vịnh bảo mang gấp đôi.”
“Địa buộc ba.”
Thanh nhìn cái gùi nhỏ căng phồng. “Địa định đi một cột hay đi luôn tới sông?”
Tánh không trả lời. Nó cắn đầu dây, kéo mạnh đến mức quai gùi kêu cót két.
“Mọi người sợ Địa,” nó nói bất ngờ.
Thanh nhìn lửa trên mỏm đối diện. “Một số người sợ điều họ chưa hiểu.”
“Kỷ không sợ?”
“Có.”
Tánh quay sang, không ngờ nàng đáp vậy.
“Kỷ sợ Địa nghĩ sức mạnh khiến Địa không cần nghe ai. Kỷ sợ người khác thích sức của Địa đến mức xúi Địa làm việc có thể giết Địa. Và Kỷ sợ khi họ không điều khiển được, họ sẽ gọi Địa là điềm dữ.”
Tánh cúi nhìn hai bàn tay quấn vải. “Vậy khác gì họ?”
“Kỷ nói điều mình sợ với Địa. Họ đang nói thay cho núi.”
Nó suy nghĩ một lúc lâu. “Núi không nói.”
“Sáng nay Địa nghe đất rền.”
“Đất rền là đất rền. Không gọi tên Địa.”
“Vậy nhớ câu ấy.”
Tánh nhìn những đốm lửa nối nhau trên các đỉnh. “Lửa kia cũng không gọi tên ai.”
“Nhưng nó chỉ đường.”
“Nếu có người đốt sai?”
“Thì người nhìn phải kiểm bằng khói, tiếng mõ và người từ hướng ấy tới. Một dấu không nên đứng một mình.”
Tánh bật cười. “Kỷ nói giống người mang cả kho thẻ trong đầu.”
“Nặng lắm,” Thanh nói, nghiêm mặt như thật. “Bởi vậy Kỷ mới đi chậm.”
Tánh nhìn đôi chân lấm bùn của nàng rồi cười to hơn. Tiếng cười non và giòn, làm người lính ngồi gần đó cũng phải quay đi giấu miệng. Một lúc sau nó mới lí nhí: “Địa tưởng người của Kinh không biết đùa.”
“Kỷ cũng tưởng người nhấc nổi cột nhà thì biết tự buộc gùi.” Thanh kéo đầu dây vừa tuột khỏi vai nó, thắt lại một nút. “Hóa ra cả hai đều tưởng sai.”
“Còn Địa cười giống người muốn bị bỏ lại sáng mai,” Thanh nói.
Tánh lập tức thôi cười, cúi xuống xem lại nút gùi nàng vừa thắt.
Ở dưới làng, Hùng cùng Vịnh xem con đường sang sông. Tấm bản vẽ của trưởng làng có hai bờ, hai cột mốc và hai nét chỉ luật phạt khác nhau. Một bên ghi thuyền trôi sang bờ nào thì người bờ ấy được giữ. Bên kia lại ghi vật trôi phải trả cho nơi có dấu buộc.
“Cùng một dòng nước mà hai luật,” Hùng nói.
Vịnh đáp: “Vì mỗi bờ giữ phần có lợi cho mình.”
“Cột mốc ở đâu?”
“Tánh nói có một cột chìm gần doi đá. Người lớn trong làng bảo không còn.”
Hùng nhìn lên mỏm thấp. Đứa trẻ đang ngồi cạnh Thanh, vừa dùng răng thắt nút vừa lén lấy thêm một nắm gạo bỏ vào gùi.
Nó khỏe hơn người, ham chơi và chưa biết giữ mình. Nhưng nó đã thắp được ngọn lửa khiến các làng nhìn cùng một hướng. Nó biết những đường núi không nằm trên bản vẽ và một cột mốc mà người lớn đã thôi tìm.
Sáng mai, đoàn sẽ để nó dẫn tới cột đầu tiên.
Chỉ một cột.
Ít nhất, đó là điều Hùng và Thanh cùng tin trước khi ngủ.