Mưa đến trước giờ mở cửa thành.
Không phải trận mưa lớn. Nó chỉ rơi dày, xiên và lạnh, đủ để biến nền đất đã bị giẫm cứng thành một lớp bùn trơn trên mặt. Nước theo rãnh đá chảy qua sân, luồn dưới các bánh xe, nhỏ đều từ đầu những cây giáo dựng bên cổng.
Hùng đứng dưới mái hiên, nhìn đoàn xe đã xếp hàng từ lúc trời còn tối.
Chàng đã xin ba hòm thẻ. Thanh cắt còn một. Nàng cũng cắt số mực còn hai túi nhỏ. Vịnh bỏ lại một cuộn dây mà Vịnh cho là đã mục. Sau tất cả những lần bớt ấy, đồ mang theo vẫn chất đầy hai xe bò và một chiếc thuyền bụng rộng đang đợi ở dòng nước ngoài thành.
Trước đoàn có hai người cầm cờ lệnh. Sau họ là bốn lính, dù quan Khâm chỉ giao hai người đi hết chặng. Hai người còn lại sẽ đưa đoàn tới bến đầu. Một chiếc trống nhỏ được buộc trên xe trước, phủ da tránh mưa. Người coi lễ nói khi cửa mở sẽ đánh ba tiếng để dân tránh đường.
Vịnh đứng ngoài mưa, nhìn tất cả bằng vẻ mặt của người thấy ai đó đem giường ngủ lên thuyền đánh cá.
“Công Tự bảo chúng ta đi dò đường hay đi rước dâu?”
Hùng không quay lại. “Nghi trượng do người coi lễ sắp.”
“Cờ có chống được thuyền mắc cạn không?”
“Không.”
“Trống có kéo xe khỏi bùn không?”
“Có thể gọi người tới kéo.”
Vịnh hừ một tiếng. “Gọi bằng miệng nhẹ hơn.”
Hùng không cãi. Sáng nay chàng dậy trước cả tiếng trống canh. Trước cửa phòng có một gói lá nhỏ ai đặt từ lúc nào, bên trong là thứ cao xoa vai mùi hăng, không lời nhắn, chỉ buộc bằng kiểu nút chàng đã thấy một lần trên bốn tấm thẻ giữa điện. Chàng cất nó vào đáy gùi. Dì chàng không thể ra tận cổng mà tiễn một người cháu, và chàng cũng không muốn bà phải ra.
Cha mẹ chàng đã tiễn từ tối qua, ở nhà. Mẹ chàng quấn thêm một lớp vải dầu quanh túi thuốc, quấn rồi lại tháo ra quấn lại. Cha chàng, người cả đời không giữ chức gì và vốn ngại đứng giữa cờ trống, chỉ hỏi một câu: “Đi rồi, Ấu định nghe ai?” Chàng đáp chưa biết. Ông gật đầu, như thể đó đúng là câu ông muốn nghe.
Thanh từ dãy nhà bên kia sân đi tới. Nàng mặc áo đi đường màu nâu sẫm, vạt gọn trên mắt cá, ngoài khoác một tấm lá đan chống mưa. Cha nàng đi bên cạnh, tự tay ôm ống thẻ nhỏ bọc da.
Ông không nói nhiều. Đến trước Hùng, ông trao ống thẻ cho Thanh chứ không giao qua chàng.
“Bên trong có bản lời thề, tên những người đã cho lời và mười thẻ trắng đã sấy dầu. Không để chung với mực.”
Thanh nhận bằng hai tay. “Ấu nhớ.”
Ông nhìn dây đeo trên vai nàng, kéo nút lên cao thêm một chút để ống thẻ không đập vào hông khi đi. Động tác quen thuộc như những năm nàng còn nhỏ mang bảng học ra sân. Thanh đứng yên cho ông sửa. Cổ nàng nghẹn lại, và nàng mừng vì mưa đang làm ướt mặt mọi người.
“Đường xa không giống phòng chép,” ông nói.
“Quân đã dặn.”
“Quân biết. Người sắp đi thường nghe mọi lời dặn thành tiếng gió.”
Thanh muốn nói mình sẽ cẩn thận, nhưng lời ấy nhỏ quá so với quãng đường chưa biết. Nàng chỉ đáp: “Ấu sẽ gửi bản lược ở trạm đầu tiên tới được sau mỗi quãng mười ngày.”
“Gửi cả điều chưa tìm thấy.”
“Dạ.”
Ông gật đầu. Khi quay sang Hùng, vẻ mặt đã trở lại điềm tĩnh của người giữ chức phận.
“Công Tự.”
“Thưa Thiết.”
“Ta không nhờ Công Tự giữ Ấu của ta khỏi mọi cái nguy. Lời nhờ ấy không ai làm được.”
Hùng chờ.
“Ta chỉ nhờ: khi Ấu nói có điều chưa đủ bằng cớ, Công Tự đừng lấy cái gấp mà biến nó thành đã đủ. Và khi Công Tự nói phải đi, hãy cho Ấu biết cái giá trước lúc bước.”
“Tôi xin nhớ.”
“Đừng xin. Cứ làm.”
Hùng cúi người. Chàng thấy hai câu ấy nặng hơn cả chiếc gùi sắp đeo lên vai.
Mưa chảy từ mép mái thành một tấm rèm mỏng. Cha Thanh nhìn con gái thêm một lần, như muốn khắc vào trí nhớ dáng nàng đang đứng nguyên vẹn dưới mái hiên. Rồi ông quay đi trước khi sự chần chừ của một người cha có thể thành sợi dây níu chân người con.
Thanh nhìn theo đến khi ông khuất sau dãy cột.
Hùng nói khẽ: “Bậu có thể đi tiễn thêm một đoạn.”
“Không. Nếu đi, Quân sẽ lại tìm một nút dây cần sửa.”
Nàng cúi xem ống thẻ. Nút buộc ông vừa chỉnh chắc đến mức không thể xê dịch.
“Và qua sẽ để Quân sửa,” nàng nói, giọng nhỏ hẳn đi.
Hùng không nói thêm. Chàng chỉ đứng dịch sang nửa bước, chắn bớt luồng gió tạt mưa vào phía nàng.
Một bóng nhỏ lách qua hàng lính. Miên, tóc ướt bết vào trán, chạy tới dúi vào tay Thanh một nắm dây đủ màu.
“Già Thị Mộc bảo Mậu mang ra. Mỗi kiểu nút một sợi, có cả nút chân gò.” Con bé thở, rồi nói thêm, nghiêm trang như người lớn: “Đường xa, Kỷ buộc nút cho đỡ sốt ruột.”
Thanh quỳ một gối xuống cho ngang tầm nó, mặc cái gối đau. Mắt nàng cay xè.
“Kỷ sẽ buộc. Mỗi ngày một nút.”
“Già Thị còn dặn: gặp nút lạ thì đừng tháo vội.”
“Kỷ nhớ.” Nàng vuốt mớ tóc ướt của con bé. “Mậu về thưa với Già Thị, Kỷ chưa quên cách hong hạt đâu.”
Miên gật, chạy đi, giữa đường còn ngoái lại hai lần. Thanh giắt nắm dây vào trong áo, sát ống thẻ.
Ở phía cổng, người coi lễ hô mở đường. Chiếc trống được dỡ lớp da phủ. Người cầm dùi mới giơ tay thì từ ngoài thành vang lên một tiếng gỗ gãy rất lớn.
Sau đó là tiếng người la.
Vịnh chạy trước tất cả.
• • •
Chiếc cầu qua con lạch nhỏ ngoài hào thành đã gãy một nhịp giữa.
Hai cây dầm lâu năm không chịu nổi nước dồn cùng sức nặng của một xe chở chum. Bánh trước xe sụp xuống khoảng trống, thùng xe nghiêng gần nửa. Ba chiếc chum lăn khỏi ổ rơm, một chiếc rơi xuống lạch vỡ tan, hai chiếc mắc lại ở mép cầu. Con bò kéo xe trượt chân, dây ách siết vào cổ, mắt trợn trắng vì hoảng.
Người đánh xe bám dây cương, vừa kéo vừa gào. Mấy người bên bờ muốn xông lên nhưng sợ nhịp cầu còn lại gãy tiếp.
Vịnh quăng tấm áo mưa, trườn sát mặt cầu.
“Đừng kéo đầu nó! Cắt dây bên trái!”
Người đánh xe không nghe rõ trong mưa. Hùng lao tới mép cầu.
“Lính đâu, giữ dầm!”
Hai lính đặt giáo xuống, nằm ép người lên phần ván còn chắc. Vịnh bò tới chỗ con bò, một tay nắm ách, tay kia rút dao cắt dây. Con vật giãy dữ, móng sau đập vào gỗ.
Thanh thấy chiếc xe trượt thêm một gang. Tim nàng thắt lại. Nàng quay phắt về phía đoàn, quên cả cái gối đau.
“Tháo dây ở xe chúng ta! Nối thành vòng!”
Người coi lương vội mở nút. Một lính định đem dây tới Hùng, nhưng Thanh chặn lại.
“Buộc vào trục sau xe. Kéo xe, không kéo người.”
“Công Thị biết xe sẽ chịu không?”
“Không. Hỏi người đánh xe!”
Người đàn ông trên cầu nghe gọi, nhìn qua rồi hét: “Trục gỗ lim! Chịu được!”
Thanh bảo mọi người móc dây. Người đi chợ quanh đó cùng nhập vào. Mười người kéo, chân trượt trên bùn. Chiếc xe nhích lùi. Vịnh cắt đứt dây ách bên trái, con bò đổ nghiêng nhưng không bị kéo xuống lạch.
Hùng bò ra thêm một đoạn. Ván dưới đầu gối kêu răng rắc.
Vịnh quát: “Công Tự đứng lại!”
“Con vật mắc chân!”
“Ta thấy.”
“Tôi tới được!”
“Ván trước mặt Công Tự rỗng ruột.”
Mọi thớ thịt trong người Hùng đều muốn lao tiếp. Con bò rống lên ngay trước mặt, chỉ cách hai sải tay. Trên bờ, Thanh đã buông đầu dây, một chân bước xuống mép cầu, miệng mở ra mà chưa kịp thành tiếng.
Hùng dừng.
Cách mũi tay chàng không xa, nước mưa đọng trên một vết nứt đen chạy dọc thớ gỗ. Chàng không nhìn thấy phần mục bên trong, nhưng Vịnh nhìn cách tấm ván võng dưới sức nặng. Mồ hôi lạnh túa ra dọc sống lưng chàng, lẫn vào nước mưa.
“Cần gì?” chàng hỏi, giọng khàn đi.
“Đẩy cho ta cây sào.”
Hùng không tranh. Chàng lấy cây sào một người dưới bờ đưa tới, đẩy dọc mặt cầu. Vịnh luồn sào dưới dây ách, dùng nó nhấc phần dây khỏi chân bò rồi hét mọi người kéo.
Chiếc xe lùi được nửa thân. Con bò vùng lên, trượt về phía bờ và ngã vật xuống bùn. Người đánh xe ôm lấy cổ nó. Hai chiếc chum mắc mép cầu rơi tiếp; một chiếc vỡ, chiếc kia chìm xuống dòng nước đục.
Nhưng không người nào rơi theo.
Thanh rút chân khỏi mép cầu. Đến lúc ấy nàng mới thấy hai tay mình run, và đầu gối đau buốt vì vừa chạy.
Khi Vịnh bò trở lại bờ, cánh tay Vịnh rớm máu vì bị dằm gỗ cứa. Hùng đưa tay kéo. Vịnh nắm lấy, vừa đứng vững đã chỉ vào vết nứt.
“Lúc nãy nếu Công Tự bước thêm một bước, lời thề hôm kia đã có việc đầu tiên để ghi.”
Hùng thở gấp. “Tôi đã dừng.”
“Sau khi ta quát.”
“Và hỏi Cư Vịnh cần gì.”
Vịnh nhìn chàng rồi gật một cái. “Được. Ghi đúng thế.”
Thanh đã lấy thẻ ra. Mưa tạt lên mặt da bọc, nàng phải quay lưng che cho mực. Nét đầu tiên run đến mức nàng phải dừng bút, hít một hơi rồi mới viết tiếp.
Hùng nói: “Bậu thật sự ghi ngay bây giờ?”
“Chúng ta thề trước khi đi. Chúng ta soát từ lúc bắt đầu.” Nàng không ngẩng lên. “Và qua đã bước một chân xuống cầu rồi đấy. Bậu nhớ lấy.”
Hùng nhìn vệt bùn trên ống quần nàng. Chàng không cười được.
“Qua nhớ.” Rồi chàng nói thêm, cho đủ: “Ghi cả việc Cư Vịnh tự lao lên cầu trước khi nói cho ai biết.”
Vịnh quay phắt lại. “Ta biết cầu.”
“Cư Vịnh biết ván, không biết xe sẽ trượt thế nào.”
“Nếu chờ bàn xong, con bò đã xuống nước!”
Thanh đưa bút cho Vịnh. “Vậy Cư Vịnh nói vì sao. Tôi ghi.”
Người đánh xe ngồi dưới bùn, một tay vuốt mõm bò, bỗng bật cười khàn. “Mấy người cứu xong rồi mới bắt đầu cãi ai cứu sai à?”
Vịnh chống tay lên đầu gối, thở ra. Hùng cũng cười, dù ngực còn đau vì vừa nín hơi quá lâu.
“Không,” chàng nói. “Chúng tôi đang tập cách sống đủ lâu để còn cãi lần sau.”
• • •
Cầu không thể sửa trong buổi sáng.
Nhịp giữa đã mục quá nửa. Người giữ cầu cho biết muốn thay phải chặt dầm mới, kéo từ kho gỗ phía tây và chờ nước lạch hạ. Xe có thể vòng lên cầu đá phía bắc, nhưng mất một ngày. Thuyền bụng rộng của đoàn nằm ở phía bên kia cầu; nghi trượng và hai xe đồ không thể qua.
Quan coi cửa bảo nên hoãn chuyến đi.
“Mưa chưa dứt. Đường vòng lầy. Công Tự có lệnh rời thành, nhưng lệnh không ghi phải rời hôm nay.”
Người coi lễ lập tức tán thành. Ông sai lính phủ lại chiếc trống rồi nói cờ gặp mưa dễ lem màu, đi ngày khác sẽ trang nghiêm hơn.
Vịnh đang rửa vết thương dưới mái lều gần cầu. Nghe vậy, Vịnh chỉ nhếch môi.
Hùng nhìn dòng người bị chặn hai bên. Những người mang hàng nhỏ đã bắt đầu lội qua một dải đá phía hạ lưu. Dân gánh rau xắn quần, chuyền sọt cho nhau. Một đoàn vận tải khoảng mười hai người dừng gần bờ, tháo hàng khỏi xe rồi buộc lên những bè nứa thấp. Không ai đợi cầu được sửa.
Thanh cũng nhìn họ. “Đó là đoàn từ đâu?”
Người giữ cầu đáp: “Họ đi theo lạch nam, mang gạo, muối và đồ đổi xuống các bến. Đường của họ không dùng xe lớn.”
“Có qua bãi Sậy không?”
“Có, nếu nước không dâng thêm.”
Hùng quay sang Vịnh. “Đi cùng họ được không?”
“Người đi được. Đồ thì không.”
“Bớt đồ.”
Người coi lương giật mình. “Thưa Công Tự, lương đã tính đủ mười ngày đến trạm. Bớt nữa, nếu chậm…”
“Không bớt lương. Bỏ xe, chia đồ lên bè và vai.”
Người coi lễ bước tới. “Còn cờ lệnh, trống cùng vật nghi lễ?”
“Để lại.”
Ông tưởng mình nghe nhầm. “Đoàn mang lệnh Kinh rời thành mà không cờ, không trống?”
“Bản lệnh ở trong ống.”
“Dân ven đường nhìn vào đâu để biết đây là người làm việc công?”
Thanh đáp: “Nhìn thẻ lệnh khi cần. Không cần bắt mọi người tránh đường từ xa.”
“Công Thị, nghi trượng không chỉ để phô. Nó giữ trật tự, ngăn kẻ giả danh.”
“Vậy cử một người mang cờ nhỏ.” Hùng chỉ lá cờ hiệu gắn ở xe đầu. “Không trống, không hai cờ lớn, không lính đưa tới bến.”
Vịnh buộc mảnh vải quanh cánh tay. “Cờ nhỏ cũng vướng khi chui qua sậy.”
“Cuộn lại khi xuống thuyền.”
“Nếu đã cuộn, nó khác gì một tấm vải?”
“Khác ở dấu thêu.”
“Cá dưới nước chắc kính sợ lắm.”
Người coi lễ đỏ mặt. Hùng nhìn Vịnh. “Chúng ta đi qua đất có người, không chỉ qua nước.”
Thanh bước vào giữa trước khi hai người mài lời nhau thêm. “Giữ một cờ nhỏ vì đó là dấu của việc công. Không dùng nó để ép mở đường. Ghi vào bản lược: nghi trượng lớn để lại vì cầu gãy và vì đường lạch không hợp.”
Hùng gật. Vịnh kéo nút băng bằng răng. “Miễn đừng dựng trên thuyền của ta.”
“Đoàn có thuyền khác.”
“Qua cầu rồi hãy tìm.”
Việc bỏ nghi trượng lan qua đoàn nhanh hơn nước mưa. Hai lính đưa đường quay về thành. Người coi lễ đứng dưới cờ lớn, gương mặt như vừa chứng kiến một nghi thức bị chôn sống. Chiếc trống chưa đánh tiếng nào được đưa trở lại kho.
Hùng nhìn theo chiếc trống một thoáng. Từ nhỏ, mỗi lần ra khỏi thành chàng đều đi sau tiếng trống ấy. Chàng chưa từng thử xem không có nó thì người ta nhìn mình bằng mắt nào.
Chiếc thuyền bụng rộng cũng được giao lại cho người coi cửa. Tuy đã nằm bên kia cầu, thân thuyền quá bè để theo lạch nam; cố mang theo chỉ khiến đoàn mắc lại ở những đoạn nước hẹp.
Khó hơn là chọn thứ phải bỏ trong hai xe đồ.
Hùng giữ đồ đo, dây chia khoảng, hòm thẻ, thuốc, lương, vật đổi và hai tấm da che mưa. Người coi lương giữ nồi, muối, dao, đá lửa. Thanh bỏ một giá chép gấp và hơn nửa số thẻ trắng. Người chữa thương tên Bách nhất quyết giữ cối đá nhỏ để nghiền thuốc, dù ai cũng bảo nó nặng.
“Tới lúc có người sốt, các người sẽ không muốn ta nghiền vỏ cây bằng răng,” Bách nói.
Không ai tranh nữa.
Vịnh bỏ ba chiếc ghế thấp, một mái che riêng cho Hùng và bộ bát đồng người coi lễ sắp sẵn.
Hùng giữ lại chiếc bàn cân nước bằng gỗ.
Vịnh cầm lên, xoay qua xoay lại. “Cái này chỉ phương?”
“Dùng mặt nước làm chuẩn để so độ nghiêng của từng đoạn đường.”
“Trên lạch nhỏ, nhìn nước chảy là biết thấp cao.”
“Khi cần so giữa các vùng, mắt Cư Vịnh không để lại số.”
“Số của Công Tự có đẩy bè không?”
“Không. Nhưng nó giúp người sau biết một lạch đã đổi bao nhiêu.”
Vịnh trả lại. “Vậy tự mang.”
Hùng buộc nó vào gùi của mình.
Thanh nhìn chàng nhấc thử. Nàng thấy chàng xốc gùi bằng bên vai lành, rồi mới chịu để dây hằn sang bên kia. “Nặng không?”
“Không.”
“Bậu nói dối dở hơn người bến.”
“Qua mang được.”
“Qua không hỏi bậu có mang được không. Qua hỏi nó có nặng không.”
Hùng im một nhịp. “Nặng.”
“Vậy khi mệt phải nói.”
“Bậu định ghi cả lúc qua mỏi vai?”
“Nếu vì sĩ diện mà bậu ngã xuống lạch, có.”
Vịnh nghe thấy, bật cười. “Ta bắt đầu thích việc hai người soát nhau.”
Hùng siết lại dây gùi. “Tôi bắt đầu hiểu vì sao Già Thị Nhu chỉ đúng Cư Vịnh.”
• • •
Đoàn vận tải không muốn nhận họ.
Người đứng đầu đoàn là một người đàn bà thấp, chắc người, tên Sắn. Bà nhìn thẻ lệnh Hùng đưa, đọc được dấu ấn nhưng không đọc hết chữ. Bà trả lại bằng hai ngón tay.
“Việc công thì đi đường cái.”
Hùng chỉ cây cầu gãy. “Đường cái đang nằm dưới lạch.”
“Thì chờ vớt lên.”
“Chúng tôi xin đi cùng tới bãi Sậy. Không lấy chỗ để hàng của mọi người. Đoàn tự mang đồ.”
Bà Sắn nhìn bảy người, rồi nhìn đống đồ đã bớt còn một hòm, sáu gùi và hai bó dài.
“Người trong thành nói tự mang tới khi bùn ngập mắt cá. Sau đó chân họ đau, đồ họ thành việc của dân.”
Vịnh nói: “Tôi chịu phần đường nước. Nếu ai trong đoàn này đẩy gùi sang người đi cùng Cư Sắn, Cư Sắn cứ quăng xuống lạch.”
Bà Sắn nhận ra người quen. “Vịnh nhà Tràm?”
“Không còn ai ở bến gọi tôi đủ cả nhà.”
“Nghe nói Vịnh dẫn đường chỉ cho người trả gấp đôi.”
“Nghe ai?”
“Người từng trả gấp đôi.”
Hai người nhìn nhau rồi cùng bật cười. Sự quen biết giữa dân đi đường không cần thân thiết; chỉ cần mỗi người từng nghe một chuyện đủ xấu về người kia mà vẫn chịu đứng chung.
Bà Sắn quay sang Hùng. “Đi cùng được. Nhưng có ba điều. Không đánh trống. Không gọi người của ta bỏ hàng để hầu việc. Tới chỗ phải chọn ai qua trước, hàng dễ hỏng qua trước, chức tước qua sau.”
Hùng đáp: “Tôi chịu.”
Thanh lấy thẻ. “Xin Cư Sắn nói tên và mình giữ việc gì, để tôi ghi.”
“Ghi làm gì?”
“Để ba điều này không biến thành lời do chúng tôi tự nghĩ rồi nhận là của dân vận tải.”
Bà Sắn nhìn nàng từ đầu đến chân. “Ghi Sắn, người gom chuyến. Đừng ghi chủ đoàn. Những người kia không phải người của ta; họ góp hàng, góp sức rồi cùng đi.”
Thanh sửa ngay nét vừa viết.
“Công Thị thật sự cạo chữ trước mặt người nói?”
“Nếu tôi viết sai.”
“Người trong thành thường đợi quay lưng mới sửa lời bọn ta.”
“Vì vậy Cư Sắn sẽ giữ một bản.”
Bà Sắn nheo mắt, dường như chưa tin nhưng cũng không hỏi thêm. Bà vẫy tay cho người trong đoàn dời hai gùi muối, chừa một khoảng dưới tấm da che chung.
“Mực để vào đây. Ướt áo còn phơi được, ướt chữ lại đổ cho trời.”
Thanh cảm ơn. Một người đàn ông trẻ trong đoàn ghé tai bà Sắn hỏi nhỏ nhưng đủ cho mọi người nghe:
“Nếu họ đi chậm thì sao?”
“Bỏ lại.”
“Có cờ lệnh đấy.”
“Cờ tự đi được thì cho nó theo.”
• • •
Họ qua lạch không bằng cầu.
Đoàn vận tải dùng ba bè nứa thấp, kéo trên một sợi dây căng chéo dòng. Hàng được chia thành từng lượt. Người đứng hai bờ ghì dây, người trên bè dùng sào giữ mũi khỏi xoay. Nước chỉ cao ngang đùi ở mép nhưng giữa dòng chảy xiết, mang theo cành cây và bọt đất.
Theo lời bà Sắn, hai sọt rau cùng các túi hạt giống qua trước. Kế đến là muối, mực, thuốc và thẻ. Người qua sau.
Hùng đứng bờ, nhìn hòm thẻ trôi trên bè đầu tiên. Bàn tay chàng nắm lại lúc nào không hay.
“Nếu dây đứt, mọi bản chép của chúng ta…”
Thanh ngắt: “Đã chia trong ba ống chống nước. Hòm không còn giữ tất cả.”
“Bản đường?”
“Một bản trong ống của qua, một bản ở Cư Vịnh, một bản ở kho đường.”
“Lời thề?”
“Hai bản gốc theo đoàn. Hai bản chép ở kho đường và bến.”
Hùng gật đầu. Hôm trước, chàng vẫn muốn một hòm bản đối lời riêng vì nghĩ giữ chung sẽ dễ soát. Bây giờ nhìn bè chao giữa dòng, chàng hiểu sự ngay ngắn ấy chỉ cần một sợi dây đứt là mất sạch.
“Bậu đúng khi chia bản.”
Thanh quay sang như muốn chắc mình không nghe nhầm. “Bậu có cần qua ghi câu ấy không?”
“Không.”
“Tiếc thật. Đây có thể là vật chứng hiếm.”
Hùng cười, rồi bước xuống nước khi tới lượt. Dòng lạnh quất vào chân. Chiếc bàn cân nước trên lưng kéo gùi lệch sang một bên. Chàng cố giữ thẳng, được ba bước thì bàn chân lún vào bùn.
Người trẻ lúc nãy đứng trên bè chìa sào. Hùng nắm lấy, thoát chân ra.
“Cảm ơn.”
“Công Tự tự mang được mà.”
Giọng người ấy không ác, chỉ nhắc lại điều Hùng đã nói quá sớm. Chàng không chống chế.
“Tôi mang được. Nhưng vừa rồi tôi cần Can giúp.”
Người trẻ nhướng mày rồi kéo mạnh hơn. “Ít ra Công Tự học nhanh.”
Ở bờ bên kia, Vịnh nghe thấy, cười đến mức suýt buông dây.
Thanh qua lượt sau. Giữa dòng, nước xô ngang đầu gối đau làm nàng khuỵu một nhịp. Nàng cắn môi, bám dây, không kêu. Hùng đã lên bờ, lội ngược xuống ba bước, chìa tay. Nàng nhìn bàn tay ấy, rồi nắm lấy.
“Qua tự đi được,” nàng nói khi đã đứng trên đất.
“Qua không hỏi bậu có tự đi được không.”
Thanh ngẩn ra, rồi bật cười giữa lúc răng còn va vào nhau vì lạnh.
Khi lượt cuối qua xong, người coi lễ vẫn đứng bên bờ cũ cùng cờ lớn, trống và hai xe đồ bị bỏ lại. Ông cúi người hành lễ. Hùng đáp lại từ bên kia dòng nước.
Không tiếng trống nào tiễn họ.
Chỉ có tiếng dây chão rít qua cọc, tiếng người gọi nhau giữ bè và tiếng mưa lộp bộp trên những tấm lá đan.
Cửa thành lùi sau màn nước. Thanh ngoái lại một lần. Giữa những mái ngói mờ dần, nàng không còn phân biệt được mái nào là mái nhà mình. Bàn tay nàng tự tìm tới cái nút trên dây ống thẻ.
• • •
Con đường men theo lạch hẹp đến mức có lúc không đủ cho hai người đi cạnh nhau.
Nó không có cọc chỉ hướng, không có tên trên bản đồ. Chỗ nào bờ cao, người ta đi trên rễ cây. Chỗ nào đất lở, dấu chân dồn xuống mép nước. Có đoạn đường biến mất dưới một ruộng lúa mới cấy, đoàn phải bước lên bờ ruộng theo đúng những hòn đất chủ ruộng đã đặt sẵn, tránh giẫm mầm non.
Bà Sắn đi đầu trên đất. Vịnh đổi chỗ liên tục, lúc xem nước, lúc quay lại xem đồ. Hùng muốn đo khoảng cách, nhưng mỗi lần dừng lấy dây chia, đoàn phía trước lại kéo xa.
Sau lần thứ ba, bà Sắn hỏi: “Công Tự định đo đường hay đi đường?”
“Cả hai.”
“Vậy chân đi, miệng đếm. Đừng giăng dây giữa lối khiến người sau vấp.”
Hùng thử đếm bước. Mặt đất không đều làm số sai. Vịnh thấy chàng cau mày, bèn chỉ những nút buộc nhỏ trên dây gùi của người vận tải.
“Mỗi lần qua một đoạn nghỉ, họ chuyển nút.”
“Đoạn nghỉ dài ngắn khác nhau.”
“Nhưng gắn với sức người và sức mang. Công Tự muốn biết đường dài bao nhiêu hay muốn biết một người mang gạo đi được bao lâu?”
Câu hỏi khiến chàng cất dây chia vào gùi.
“Cả hai,” chàng nói. “Nhưng hôm nay ghi sức người trước.”
Vịnh gật. “Đó mới là thứ đoàn này đo được.”
Thanh đi sau họ một đoạn, vừa bước vừa hỏi người vận tải về các nút dây. Nàng không hỏi cùng lúc. Mỗi người trả lời riêng: một người nói nút đánh theo chặng nghỉ, người khác bảo theo nơi có nước uống, người thứ ba nói chỉ là dấu của người đóng hàng.
Đến trưa, họ dừng dưới một cụm cây gạo ven lạch. Mưa đã nhẹ, chỉ còn nước từ lá lớn nhỏ xuống vai. Bà Sắn cho mở các gói cơm. Không ai bày riêng phần cho Hùng hay Thanh. Ai mang gì ăn nấy, rồi đổi cá khô lấy muối vừng, đổi một quả chua lấy miếng cơm nếp.
Hùng đặt bàn cân nước xuống đất, xoa vai.
Thanh đưa chàng nửa củ luộc. “Nặng không?”
“Nặng.”
“Tốt.”
“Bậu vui vì qua đau vai?”
“Qua vui vì bậu trả lời đúng câu hỏi.”
Vịnh ngồi đối diện, dùng răng kéo một sợi dằm khỏi tay. “Hai người cứ thế này suốt đường chắc người dẫn đường chết vì mệt trước.”
Hùng nhìn Vịnh. “Ai nói sẽ đi lâu?”
“Không ai. Ta chỉ nói đường trước mặt còn dài.”
“Cư Vịnh nói như thể đã biết.”
Vịnh khựng lại, rồi ném sợi dằm xuống đất. “Ở bến, người ta nói đi tìm thứ không biết ở đâu thì mấy mùa cũng còn ít.”
Thanh không ghi. Nàng nhận ra có những câu là cách người ta nói về sự xa xôi, không phải lời đoán trước.
Một người trong đoàn vận tải mở kiện hàng để xem nước có thấm không. Bên trong là những bó dao gặt bọc rơm. Mỗi bó được buộc bằng một nút lạ: dây vòng hai lần quanh thân, xuyên ngược qua chính nó rồi thắt lệch sang trái.
Hùng nhìn thấy nhưng chưa nói. Ở gùi muối bên cạnh cũng có một nút tương tự, nhỏ hơn. Một túi hạt giống dưới tấm da che dùng sợi lạt khác, vẫn kết thúc bằng vòng lệch trái ấy.
Miếng củ trong miệng chàng bỗng nhạt đi. Chàng đứng dậy, đi quanh chỗ nghỉ, cố bước cho chậm. Một, hai, ba. Đến kiện thứ bảy thì tim chàng đã đập như lúc bò trên ván cầu. Bảy kiện hàng mang cùng một kiểu nút. Chúng không thuộc cùng một người, không chứa cùng một thứ và dây buộc cũng khác nhau.
“Bậu,” chàng gọi, giọng thấp mà gấp.
Thanh đang nói với một người đàn bà vận tải về các trạm nước. Nàng giơ một ngón tay, xin chàng chờ hết câu rồi mới tới.
“Có gì?”
Hùng chỉ ba kiện gần nhất. “Cùng một kiểu nút. Hai vòng, xuyên ngược, lệch trái. Không phải tình cờ.”
Thanh không cúi xem ngay. Nắm dây trong áo như ấm lên. Gặp nút lạ thì đừng tháo vội. “Bậu đã hỏi ai chưa?”
“Chưa.” Chàng phải nén mới nói được câu sau. “Đường lời là phần của bậu.”
Nàng nhìn chàng một thoáng. Nàng thấy hai bàn tay chàng đang nắm vào nhau cho khỏi chạm vào dây, và hiểu chàng muốn tự hỏi đến mức nào. Đây là lần đầu họ dùng sự phân chia đã thề không phải để tranh quyền, mà để trao câu hỏi đúng lúc.
Thanh hỏi bà Sắn trước. Bà nói nút ấy có từ lúc nhận hàng ở bến trên, dùng để biết kiện chưa bị mở. Người trẻ bảo đó là kiểu buộc của dân vùng đồi. Người mang hạt giống nói mình không biết, hàng được đổi qua ba tay. Người có bó dao gặt nói nút lệch giúp mở nhanh bằng một tay.
Vịnh sờ từng dây. “Mở nhanh chỉ là một phần. Nút này nếu ướt sẽ siết ở vòng ngoài, không ép vào hàng bên trong.”
Hùng hỏi: “Cư Vịnh từng thấy chưa?”
“Một lần trên bè gỗ từ thượng lạch. Không nhớ người buộc.”
Thanh ghi gốc từng lời. “Bảy kiện này đến từ đâu?”
Bà Sắn gọi chủ từng món. Câu trả lời khác nhau: dao gặt từ một lò đổi ở bến Gà; muối qua tay người buôn ở doi Ba Gốc; hạt giống từ một người đàn bà không nói quê; cuộn vải thô được đổi ở chợ nổi mùa trước.
Tên nơi khác nhau, nhưng khi Thanh hỏi người trao hàng đến từ hướng nào, tất cả đều chỉ lên cùng một nhánh lạch phía đông nam.
Thanh ngừng bút. Lần này chính nàng thấy gáy mình lạnh đi.
Hùng lấy bốn thẻ dấu ban đầu, đặt cạnh kiểu nút. Nó không giống hẳn dấu nào. Tuy vậy, cách hai vòng ôm lấy một mối rồi tách lệch khiến chàng nhớ tới những nét xiên như chân chim trên cán muỗng giữ giống: hai nét chung gốc mà không khép thành vòng.
“Có thể cùng một lối đánh dấu,” chàng nói.
Thanh hỏi: “Hay chỉ cùng cách buộc cho tiện?”
“Bảy thứ hàng, nhiều người giữ, cùng một hướng đến. Ít nhất đủ để hỏi tiếp.”
“Chưa đủ nói nó dính tới bốn dấu.”
“Qua không nói đã dính.”
“Bậu vừa đặt thẻ cạnh nó.”
“Để so hình.”
Thanh nhìn cách các thẻ nằm trên rơm. Người khác đi qua có thể dễ dàng hiểu chúng đã được ghép thành một lời kết.
Hùng nhìn theo mắt nàng. Má chàng nóng lên. Chàng tách các thẻ ra. “Được. Chỉ ghi điều ngờ về hình, chưa nối gốc.”
Bà Sắn nhai miếng cơm, nhìn hai người làm việc. “Các người đi tìm ai?”
“Chưa biết,” Thanh đáp.
“Tìm nơi nào?”
“Một vùng có nhiều dấu riêng nhau cùng chỉ tới.”
Bà Sắn chỉ bảy nút dây. “Thứ này có tính là dấu không?”
Hùng nói: “Có thể.”
Thanh nói: “Nếu biết ai buộc và vì sao.”
Bà Sắn cười. “Một người thấy nút. Một người hỏi tay. Hai người mà đi riêng chắc mỗi người chỉ tìm được nửa sợi dây.”
Vịnh bẻ miếng cá khô. “Hôm kia họ thề sẽ không lấy nửa của mình gọi là cả.”
“Thề trước khi đi à?”
“Trước cửa thành.”
“Đi được nửa ngày còn nhớ, vậy cũng khá.”
• • •
Buổi chiều, trời tạnh.
Ánh nắng đầu tiên lọt qua mây, chiếu lên những giọt nước bám trên ruộng lúa. Cả cánh đồng sáng lên như được rắc những mảnh kim loại nhỏ. Con đường bớt trơn nhưng nặng mùi bùn, mùi lá bị giẫm và mùi mồ hôi từ những tấm áo chưa khô.
Đoàn đi sâu vào lạch nam. Nhà cửa thưa dần. Không còn bức tường thành sau lưng, cũng chưa thấy ranh giới của châu nào trước mặt. Chỉ có các dấu người để lại: một cọc chống ở chỗ bờ lở, một nhánh cây bẻ thấp báo tổ ong, ba viên đá xếp cạnh vũng sâu.
Hùng hỏi tên con đường.
Bà Sắn đáp: “Đường lạch.”
“Lạch nào?”
“Lạch này.”
“Trong sổ cần một tên để phân biệt.”
“Đi từ bãi Sậy thì gọi đường lên thành. Đi từ thành thì gọi đường xuống bãi. Người gánh muối gọi đường muối. Người mang giống gọi đường giống.”
“Vậy nó không có tên chung?”
“Có người đi thì có đường. Cần gì tên chung?”
Thanh viết câu ấy rồi hỏi: “Nếu phải báo người khác tới tìm, Cư Sắn nói thế nào?”
“Nói qua cầu gãy, theo lạch nhỏ, thấy cây gạo ba thân thì nghỉ, tới cọc cong thì rẽ. Người cần đi sẽ hiểu.”
Hùng nhìn những gì hiện ra quanh họ. Trên bản đồ, đường phải có một nét và một tên. Ở đây, nó sống bằng chuỗi việc làm, vật mốc và trí nhớ của người dùng. Đặt tên có thể giúp người xa tìm tới; cũng có thể làm người ta tưởng một lối sống chỉ là một vạch cố định.
“Tạm ghi đường lạch nam,” chàng nói.
Thanh hỏi: “Tạm đến khi nào?”
“Đến khi biết người đi đường này muốn gọi nó là gì.”
Bà Sắn nghe được, nhún vai. “Có khi đi hết đời vẫn mỗi người gọi một kiểu.”
“Vậy ghi nhiều tên.”
“Sổ của Công Tự sẽ nặng.”
Hùng sửa lại dây gùi đang hằn vai. “Tôi đang biết điều đó.”
Gần tối, họ tới một bãi đất cao cạnh khúc lạch uốn. Đoàn vận tải dừng lại. Người gom củi, người dựng tấm che, người xem chân vì đỉa. Không ai chờ Hùng phân việc.
Chàng đứng không mất một lúc, tay thừa ra. Rồi chàng cầm hai bầu, cùng hai lính đi lấy nước. Thanh giúp mở túi gạo. Vịnh xem lại bè cho chặng sáng mai. Bách dùng chiếc cối đá mà mọi người từng muốn bỏ để nghiền lá đắp lên cánh tay Vịnh và bàn chân một người vận tải bị rách.
“Đấy,” Bách nói, vừa giã vừa nhìn Hùng. “Cối không tự đẩy bè, nhưng người đau chân cũng không tự đi.”
“Tôi chưa bảo bỏ cối.”
“Công Tự đã nhìn nó ba lần.”
“Tôi nhìn vì nó nặng.”
“Vật được việc thường nặng. Cái khó là biết ai gánh và khi nào đáng gánh.”
Vịnh xuýt xoa khi thuốc chạm vết cứa. “Hôm nay ai cũng thích dạy Công Tự.”
Hùng đặt bầu nước xuống. “Ngày đầu đã thế, tôi e quãng đường tới sẽ rất dài.”
Vịnh ngẩng lên. “Giờ Công Tự mới biết sợ đường dài?”
Thanh đang vo gạo bên lạch quay lại. “Ít ra lần này bậu cũng chịu nói thật.”
Hùng bật cười, đưa tay xoa bên vai đang đau. Bà Sắn từ bên bếp hỏi vọng sang:
“Đường dài gì?”
“Không gì cả,” Hùng đáp.
“Người trong thành nói chuyện như gà mắc tóc.”
Tiếng cười nổi quanh bãi. Hùng cũng phải cười theo. Họ mới rời thành nửa ngày, vậy mà quãng đường trước mặt đã rộng hơn mọi nét trên bản đường.
Thanh không ghi điều ấy. Nàng chỉ nhớ.
Sau bữa tối, Hùng và Thanh soát lại ngày đầu tiên.
Họ ghi cầu gãy, việc bỏ nghi trượng, việc chia bản đường thành ba nơi, ba điều bà Sắn đặt ra để đi cùng đoàn vận tải và lần đầu lời thề được dùng. Hùng ghi kiểu nút dây lặp trên bảy kiện. Thanh ghi năm lời giải khác nhau, nhưng chưa lời nào đến từ người tận mắt thấy việc buộc.
“Ngày mai hỏi ở bãi Sậy,” Hùng nói.
“Hỏi riêng người đóng hàng và người dùng nút. Không đưa bốn thẻ ra trước.”
“Qua chịu.”
“Nếu ba gốc lời riêng nhau cùng chỉ nhánh đông nam?”
“Đổi hướng dò đầu tiên về phía ấy, miễn Cư Vịnh nhận là đường đi được.”
Vịnh đang ngồi cách đó không xa, vá lại một đoạn dây bè. “Ta nghe thấy.”
“Cư Vịnh nghĩ sao?”
“Tới vũng Trăng Non, có hai nhánh. Nhánh đông nam hẹp hơn, nhưng hàng buộc kiểu ấy thường xuống theo lối đó. Nếu nước giữ mức này, đi được.”
Hùng nhìn Thanh. “Vậy mai hỏi gốc nút. Chưa đổi hướng cho tới khi đủ ba gốc lời.”
Thanh buộc thẻ ngày đầu vào bản đường. “Được.”
Chàng đưa tay xoa vai, rồi nhớ ra gói lá dưới đáy gùi. Chàng mở nó dưới ánh lửa. Mùi cao hăng lên. Thanh nhìn kiểu nút trên gói lá, nhận ra, và không hỏi gì.
“Bậu quay lưng lại,” nàng nói. “Tự xoa không tới đâu.”
Hùng ngần ngừ một nhịp rồi đưa gói cao cho nàng. Bàn tay nàng lạnh vì vừa vo gạo, miết lên chỗ vai đau vừa đủ mạnh. Không ai nói gì. Ở bên kia bếp, Vịnh quay mặt đi, vá dây chăm chú hơn mức sợi dây cần.
Lửa bếp nhỏ dần. Trong bóng tối, những kiện hàng nằm thành một dãy dưới tấm che. Bảy nút dây lệch trái giống nhau chỉ hiện khi ánh lửa lay tới, rồi lại mất.
Chúng không phải cổ vật. Không ai thờ chúng. Chúng nằm trên muối, hạt giống, dao gặt và vải thô; bị những bàn tay bình thường siết, kéo, tháo rồi buộc lại qua bao bến.
Nhưng chính vì thế, chúng đã đi xa hơn một lời được giữ trong kho.
Ở phía sau, Phong Thành không còn nhìn thấy. Phía trước, châu thứ nhất chưa có hình dạng trong trí họ. Giữa hai nơi là một con đường không có tên chung, được giữ bằng cọc cong, cây gạo ba thân, sức vai người vận tải và những nút dây lặp lại trên hàng hóa.
Trước khi nằm, Thanh rút một sợi trong nắm dây Miên mang tới, buộc nút thứ nhất: kiểu vòng ngược của dòng chân gò. Nàng buộc hỏng một lần rồi mới được.
Hùng nằm xuống tấm chiếu mỏng, vai còn ấm mùi cao. Thanh ngủ với ống thẻ buộc sát người, mấy ngón tay vẫn đặt trên cái nút cha nàng đã sửa. Vịnh đặt mái chèo bên tay. Không ai còn cờ lớn hay tiếng trống để báo mình đang tới.
Ngày mai, họ sẽ theo dấu những nút dây về phía châu đầu tiên.
Và lần đầu bước vào một vùng đất lạ, họ sẽ không đến như đoàn người mang sẵn câu trả lời từ trong thành.