🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.9: Lời thề trước cửa thành

~35 phút đọc · 6862 từ · · ⚠️ Báo cáo

Vịnh đến khi cửa thành vừa mở được một cánh.
Vịnh không đi một mình. Sau lưng Vịnh là bà Nhu, bác Lẫm và người của cả bốn nhà thuyền. Hai đứa trẻ hôm trước cũng theo tới, mỗi đứa ôm một mái chèo ngắn, chen giữa đám người lớn như hai con cá nhỏ lách qua một mẻ lưới.
Lính giữ cửa đang kiểm sọt hàng. Thấy hơn hai chục người bến sông dồn tới, người đứng đầu hàng lính giơ ngang cán giáo.
“Ai có việc thì nói. Không tụ trước cửa.”
Vịnh dừng lại. “Bọn ta đến nghe lời trình đường.”
“Có thẻ gọi không?”
“Không.”
“Không thẻ thì tránh lối cho người vào chợ.”
Vịnh không tránh. Những người phía sau cũng đứng nguyên. Không ai gây tiếng, nhưng sự im lặng của họ làm dòng người mang rau, cá và củi phải tách sang hai bên.
Hùng cùng Thanh vừa từ trong thành bước ra thì nhìn thấy cảnh ấy.
Chàng gọi: “Họ đến theo lời ta.”
Người lính quay lại, nhận ra miếng thẻ công vụ bên hông Hùng liền hạ cán giáo. “Thưa Công Tự, bề tôi không nhận được lệnh cho dân bến vào.”
“Không cần vào. Việc sẽ làm ở đây.”
“Ngay trước cửa thành?”
Thanh nhìn khoảng sân đất giữa hào và cổng. Người vào thành, người ra bến, xe bò, gánh hàng đều phải qua đây. Không phải nơi yên tĩnh để đọc một bản trình. Cũng chính vì thế, nó không thuộc trọn về những người ngồi trong thành hay những người sống ngoài bến.
“Ở đây là hợp,” nàng nói.
Người lính nhìn nàng rồi nhìn Hùng. “Bề tôi phải giữ lối.”
“Cứ giữ,” Hùng đáp. “Chúng ta đứng sang bên giếng.”
Vịnh cười nhạt. “Mới tới cửa đã phải nhờ Công Tự cho đứng. Lời thề hôm nay chắc nghe hay lắm.”
Hùng định đáp, nhưng Thanh đã bước xuống bậc đất.
“Cư Vịnh nói đúng. Hôm qua chúng tôi mời Cư Vịnh tới nghe, lại không báo người giữ cửa. Lỗi ở chúng tôi.”
Người lính vội nói: “Thưa Công Thị, bề tôi chỉ làm phận sự.”
“Ta không trách người giữ cửa.” Thanh quay sang Vịnh. “Nhưng nếu Công Tự không nhận họ đến theo lời mình, Cư Vịnh và mọi người sẽ bị đuổi khỏi đây. Đó cũng là điều chúng ta phải ghi rõ: quyền được đến đối lời không thể chỉ nằm trong miệng người mời.”
Vịnh nhìn nàng lâu hơn một nhịp rồi mới nói: “Ít nhất Công Thị không giả vờ việc này đã được sắp sẵn.”
Bà Nhu chống sào xuống đất. Không hiểu bà mang chiếc sào dài từ bến lên để làm gì ngoài việc khiến lính giữ cửa phải để mắt, nhưng khi bà gõ đầu sào một tiếng, cả đám người bến sông tự tản sang khoảng đất cạnh giếng.
“Đứng chắn chợ thì người ta chửi đúng,” bà nói. “Muốn nghe lời đẹp cũng phải chừa đường cho gạo đi.”
Hai đứa trẻ ôm mái chèo chạy theo. Đứa lớn quay đầu nhìn cổng thành đến suýt vấp viên đá kê bánh xe. Đứa nhỏ túm áo kéo lại, cả hai cười khúc khích rồi lập tức im khi Vịnh liếc sang.
Trên khoảng đất cạnh giếng, một người thợ đang mài lại lưỡi dao cho lính. Bánh đá quay dưới chân, rít lên từng hồi mảnh và sắc. Người thợ thấy quan cùng dân kéo tới thì định dọn đồ, nhưng quan Khâm từ trong cổng bước ra, bảo ông cứ làm tiếp.
Quan Đào đi bên cạnh Khâm, mặt thiếu ngủ hơn mọi hôm. Ông nhìn đám đông, nhìn hai mái chèo, rồi nhìn Hùng.
“Công Tự trình đường hay mở hội bến sông?”
“Bẩm ngài, người đối lời đã đến.”
“Hai người được bảy ngày. Mới qua một ngày đã gọi đông thế này. Ta nên mừng vì việc chạy nhanh hay lo vì các người lại quên ăn?”
Thanh đáp: “Hôm qua chúng tôi có ăn.”
Quan Đào nhướng mày. “Vậy là bước tiến lớn nhất đến lúc này.”
Một vài người bật cười. Sự căng cứng trước cửa thành dịu đi đôi chút, nhưng Vịnh vẫn đứng khoanh tay. Vịnh không đến để được làm cho dễ chịu.
Quan Khâm hỏi: “Bản đường đâu?”
Bác Lẫm mở ống da mang trên lưng. Ông trải tấm bản đồ nhỏ lên một phiến đá cạnh giếng rồi buộc các thẻ lời hát dọc mép. Những mảnh tre va vào nhau trong gió sớm.
“Bốn bến chung đã được so lời,” Hùng nói. “Có hai cách đi theo mùa cạn và mùa nước. Đường đầu sẽ qua bãi Sậy, bến Gà, doi Ba Gốc và vũng Trăng Non. Từ đó mới tách vào vùng có dấu cần dò.”
Quan Khâm xem từng thẻ. “Ai nhận là đúng?”
“Bốn nhà thuyền nhận thứ tự bến. Về mực nước và sức chở của thuyền còn ba chỗ chưa cùng ý.”
“Người dẫn?”
Hùng nhìn Vịnh. “Chưa nhận lời.”
Quan Đào thở dài. “Vậy Công Tự chưa có đường. Công Tự có một bài hát, một đám người cãi nhau và một người chưa chịu đi.”
“Bài hát giữ được thứ tự tốt hơn bản đồ trong kho,” bác Lẫm nói.
Đào quay sang. “Người này là ai?”
“Bề tôi là Lẫm, giữ kho đường.”
“Lẫm đang tự nhận kho mình thua một bài hát?”
Bác Lẫm nuốt khan. Những người bến sông nhìn ông. Hôm qua, ông còn là người của kho thành tới hỏi đường họ. Sáng nay, đứng trước quan, ông phải chọn sẽ che cho sự ngay ngắn của kho hay giữ lấy điều chính tay mình đã chép.
“Bẩm ngài,” ông nói, giọng run rồi vững dần, “kho thua ở những chỗ đã cạo đường cũ mà không giữ lại vì sao cạo. Bài hát còn giữ được lời khác nhau của từng mùa.”
Quan Đào nhìn ông một lúc rồi hỏi: “Ai cho phép Lẫm buộc thẻ vào bản đồ?”
“Chưa ai.”
“Vậy Lẫm tự ý sửa vật trong kho?”
Hùng bước lên. “Bề tôi đã bảo Thiết Lẫm giữ các thẻ đối lời.”
Thanh nói gần như cùng lúc: “Bề tôi bằng lòng cách ghi ấy.”
Hai giọng chồng lên nhau. Quan Khâm ngẩng khỏi tấm bản đồ.
“Ai quyết?”
Hùng đáp: “Cả hai.”
“Ai nêu trước?”
“Thiết Lẫm tự làm,” Thanh nói. “Bề tôi thấy việc ấy phải lẽ nên cùng Công Tự Hùng giữ lại.”
“Nếu ta cho rằng không phải lẽ?”
“Xin ngài chỉ ra chỗ nào làm sai bằng cớ.”
Quan Đào hừ khẽ. “Một đêm ở bến sông mà Công Thị đã học được cách buộc người khác nói vì sao.”
“Bẩm ngài, bề tôi đang tập.”
Lần này Đào không biết nên khó chịu hay buồn cười. Ông kéo một thẻ lời hát lên xem rồi trả lại đúng chỗ cũ.
Quan Khâm quay sang Vịnh. “Vì sao Vịnh chưa nhận dẫn đường?”
“Vì chưa biết xuống thuyền rồi ai có quyền bắt thuyền đi.”
“Người được Kinh giao việc.”
Vịnh nhìn thẳng vào ông. “Nếu người ấy bảo đi vào lạch tôi biết sẽ lật thuyền thì sao?”
“Vịnh nói rõ cái nguy.”
“Họ không nghe?”
“Người ra lệnh gánh lấy.”
“Gánh sau khi người khác chết có làm người ấy sống lại không?”
Những người đứng quanh giếng im đi. Bánh đá vẫn quay. Lưỡi dao áp vào mặt đá tóe ra vài đốm sáng nhỏ, tắt trước khi chạm đất.
Quan Khâm không nổi giận. “Vậy Vịnh muốn người dẫn đường có quyền quyết mọi việc?”
“Không. Tôi không biết họ tìm dấu gì, cũng không biết dấu nào đáng đổi đường. Nhưng nước trước mũi thuyền là việc của người cầm lái.”
“Nếu Cư Vịnh lấy cớ nguy để giấu một lối nhà mình?” Hùng hỏi.
Vịnh quay sang chàng. “Đấy. Công Tự đã nghĩ ta sẽ làm thế.”
“Tôi phải nghĩ tới.”
“Vậy ta cũng phải nghĩ Công Tự sẽ lấy cớ việc Kinh để ép thuyền đi.”
“Tôi đã mời Cư Vịnh tới đây để định ranh.”
“Vì Công Tự cần người dẫn.”
Lời nói rơi xuống sắc như mảnh kim loại vừa mài. Hùng cảm thấy mọi ánh mắt hướng về mình. Chàng có thể viện bản lệnh, nói rõ quyền mình được giao, chỉ ra rằng Vịnh đang đặt nghi ngờ lên một việc chưa xảy ra. Nhưng làm vậy chỉ cho thấy điều Vịnh vừa nói là đúng: người có quyền luôn có nhiều chữ hơn để biến sự ép buộc thành lý lẽ.
Chàng nuốt câu định nói xuống, rồi hỏi: “Cư Vịnh muốn tôi làm gì cho tin?”
Vịnh chỉ vào bản thẻ Thanh đang cầm. “Bằng lời có tên người dưới đó. Đừng thề chung rằng sẽ nghe dân. Nói ai được quyết việc gì. Khi hai người không cùng ý, ai thắng?”
Thanh mở cuộn thẻ. Đêm qua, nàng và Hùng đã viết sáu điều. Nhìn dưới nắng sớm, những dòng Khoa Đẩu ngay ngắn bỗng mềm yếu hơn lúc ở trong kho.
Nàng đọc:
“Một: đoàn không dùng danh Kinh buộc người dân giao vật, mở sổ hoặc nhận điều họ không biết.”
“Hai: người dẫn đường định cách đưa đoàn qua nơi nguy.”
“Ba: người đi dò định dấu nào cần xét.”
“Bốn: mọi lời kể phải ghi gốc lời, và trả lại cách hiểu khi có thể.”
“Năm: khi không cùng ý, phải ghi cả hai.”
“Sáu: gặp lúc nguy, Công Tự Hùng quyết việc giữ người và giữ vật, xong thì ghi lại vì sao.”
Vịnh hỏi ngay: “Điều hai và điều sáu cùng tới một lúc thì nghe ai?”
Thanh chưa đáp. Đó chính là chỗ đêm qua họ đã đi vòng quanh mà chưa cắt được.
Hùng nói: “Lúc nguy cần một người quyết nhanh.”
“Vậy điều hai chỉ đúng lúc chưa nguy,” Vịnh đáp. “Mà lúc người dẫn cần quyền nhất lại là lúc nguy.”
“Nếu mỗi người cùng giành tay lái, tất cả sẽ chết.”
“Nên tay lái phải ở trong tay người biết nước.”
“Còn nếu cái nguy không từ nước? Cháy thuyền, cướp bến, sạt bờ, người trong đoàn bị thương?”
“Công Tự quyết người của mình. Ta quyết thuyền của ta.”
“Một đoàn không thể có hai lệnh!”
“Một chiếc thuyền cũng không thể có người không biết lái ra lệnh cho người cầm lái!”
Giọng họ mỗi lúc một gắt. Người quanh giếng bắt đầu chia ánh mắt về hai phía như đang xem một sợi dây bị kéo căng. Thanh muốn chen vào, nhưng nàng biết nếu chỉ tìm một câu làm cả hai dịu đi, cái nút sẽ còn nguyên dưới lớp lời đẹp.
Bà Nhu gõ sào xuống đất.
“Đưa một cái thuyền lên đây mà cãi tiếp.”
Quan Đào nhíu mày. “Già Thị nói gì?”
“Họ đang cãi về một chiếc thuyền không có ở đây. Trên đất, ai cũng lái giỏi.”
Bà gọi hai đứa trẻ. “Hai ấu, lấy dây.”
Hai đứa lập tức đặt mái chèo xuống, tháo cuộn dây nhỏ mang sau lưng. Chúng trải dây thành hình một chiếc thuyền dài trên đất, dùng bốn hòn đá đánh dấu mũi, lái và hai mạn.
Bà Nhu chỉ Hùng đứng ở giữa, Vịnh đứng sau lái, Thanh ngồi mũi. Quan Khâm không ngăn. Quan Đào lẩm bẩm rằng chưa từng xét bản đường theo cách trẻ con chơi thuyền, nhưng ông vẫn bước lại gần.
Bà Nhu nói: “Nước đẩy từ trái sang. Trước mặt có đá. Sau lưng có một người ngã gãy chân. Công Tự muốn ghé bờ cứu người. Vịnh biết ghé ngay sẽ ép mạn vào đá. Ai quyết?”
Hùng đáp: “Cư Vịnh quyết cách ghé. Ấu quyết phải cứu.”
“Nếu không thể vừa tránh đá vừa cứu ngay?”
“Ấu cần biết chậm bao lâu.”
Vịnh nói: “Một khúc sông.”
“Người gãy chân có thể chảy máu chết trước đó.”
“Ghé ngay có thể lật cả thuyền.”
Bà Nhu hỏi Thanh: “Công Thị làm gì?”
Thanh nhìn sợi dây dưới chân. “Ấu hỏi Cư Vịnh có cách nào giữ người bị thương sống qua một khúc sông, và hỏi Công Tự dựa vào đâu mà cho rằng người ấy không chờ được.”
“Không đủ lúc để hỏi dài.”
“Vậy mỗi người nói một câu ngắn nhất: cái nguy nào chắc hơn và tới trước.”
Hùng nhìn nàng. “Rồi ai quyết?”
“Người đang giữ thứ không thể trao sang tay khác. Cư Vịnh giữ thuyền. Công Tự giữ việc cứu người. Nếu hai việc không cùng làm được, người giữ thuyền quyết ngay lúc ấy; Công Tự quyết việc kế đó, khi thuyền vừa thoát.”
Vịnh hỏi: “Nếu Công T-ự vẫn ra lệnh ghé?”
“Cư Vịnh có quyền không làm, và bảo tôi ghi lệnh ấy cùng lời từ chối.”
“Chỉ ghi thôi?”
Thanh nhìn Vịnh. Nàng thấy tim mình đập trong cổ họng, nhưng vẫn nói: “Nếu Công Tự giành tay lái, tôi sẽ cản.”
Đám đông xao động. Hùng quay hẳn sang nàng.
“Bậu vừa tự cho mình quyền cản qua?”
“Không. Qua đang nói điều bản định việc đã cho phép: dừng việc khi cách làm sai nghĩa hoặc gây hại. Chỉ là đến giờ chúng ta chưa nói rõ điều ấy có dùng với nhau hay không.”
“Dừng một câu hỏi khác với cản một lệnh giữa lúc nguy.”
“Vậy bậu muốn những điều đã đòi chỉ buộc người khác, còn khi bậu cho là gấp thì mọi giới hạn đều biến mất?”
Hùng cảm thấy máu nóng dồn lên mặt. “Qua muốn đoàn sống!”
“Qua cũng muốn.”
“Nhưng bậu vừa nói sẽ cản người gánh việc giữ cả đoàn.”
“Nếu người ấy đang làm điều hại cả đoàn.”
“Dựa vào mắt của bậu?”
“Dựa vào lời người biết việc mà bậu bỏ qua.”
Hai người nhìn nhau. Khoảng đất cạnh giếng, đám đông và cả tiếng bánh đá như lùi ra xa. Từ khi gặp nhau, họ đã không cùng ý nhiều lần, nhưng phần lớn vẫn có một việc bên ngoài để cùng chống lại: dấu sai, sổ thiếu, câu hỏi của quan. Lần này, điều phải cắt nằm giữa chính hai người.
Hùng nói chậm hơn: “Bậu vẫn nghĩ cuối cùng qua sẽ dùng chức được giao để ép người khác theo lời kết của mình.”
Thanh không né. “Có.”
Một tiếng ấy đau hơn là nếu nàng tìm cách làm nhẹ. Hùng thấy cổ mình nghẹn lại, phải một lúc mới nói tiếp được.
“Vậy vì sao bậu còn nhận đi cùng qua?”
“Vì bậu biết tự sửa khi thấy mình sai.”
“Đó không phải câu trả lời cho việc bậu không tin qua.”
“Tin một người không có nghĩa trao cho người ấy quyền không bị cản.”
Hùng siết bàn tay rồi buông ra. “Bậu muốn đi bên cạnh để canh qua?”
Thanh nghe nỗi đau bị giấu dưới câu hỏi. Nàng có thể đáp bằng lý lẽ. Nhưng mấy ngày qua đã dạy nàng rằng lý lẽ dùng để thắng thường để lại người đối diện đứng một mình.
“Một phần,” nàng nói. “Và qua muốn bậu canh qua.”
Hùng im lặng.
Thanh tiếp, giọng thấp hẳn xuống: “Qua biết mình có thể bám vào lời người kể chỉ vì sợ làm họ đau; có thể giữ mọi bản khác nhau đến mức không dám bỏ điều sai. Qua cũng có thể dựa vào danh nhà giữ cái biết, khiến người ta tưởng cách chép của mình lúc nào cũng ngay thẳng. Khi qua làm thế, bậu phải chỉ ra.”
Nàng nhìn thẳng chàng.
“Nếu qua chỉ cần một người luôn tin mình, qua không cần đi cùng bậu.”
Cơn nóng trong Hùng chưa mất. Nhưng giữa nó mở ra một khoảng khác: nàng không đặt chàng vào chỗ kẻ có thể phản bội còn mình đứng ngoài mọi nghi ngờ. Nàng đã đặt cả tên mình vào cùng một lưỡi cắt.
Chàng hỏi: “Vậy khi chúng ta không cùng ý về lời kết, ai có lời cuối?”
“Không ai.”
“Kinh sẽ không nhận một bản trình không có lời kết.”
“Có lời kết, nhưng ghi rõ nó thuộc phần nào.” Thanh nhặt hai mái chèo trẻ con để dưới đất, đặt chéo nhau. “Bậu xét hình dấu và mối nối: dấu nào nối được với dấu nào, điều ngờ nào cắt nghĩa được nhiều bằng cớ hơn, đường nào cần đi để thử. Qua xét đường lời: lời từ ai, qua mấy đời, bản chép đổi ở đâu, ai được lợi khi một nghĩa được giữ hay bị xóa.”
Nàng tách hai mái chèo ra, đặt song song.
“Mỗi người có quyền kết trong phần của mình. Nhưng trước khi trình, người kia phải soát xem lời kết ấy có bước sang phần không thuộc mình không.”
Hùng nhìn hai mái chèo. “Nếu mối nối chỉ đúng khi một lời truyền bị coi là sai?”
“Bậu đưa bằng cớ. Qua soát cách lời ấy truyền tới chúng ta. Nếu vẫn không cùng ý, ghi cả hai lối hiểu và tìm việc có thể bác một trong hai.”
“Nếu không còn ngày giờ để thử?”
“Ghi mình chắc đến đâu. Đừng biến chỗ thiếu ngày giờ thành cái chắc giả.”
Quan Khâm lên tiếng lần đầu sau một lúc lâu: “Chia quyền như vậy có thể khiến hai người đi chậm.”
Hùng đáp: “Bẩm ngài, đi nhanh theo một lời kết sai có thể khiến cả đoàn mất nhiều tháng quay lại.”
Thanh nói: “Và khiến nơi sau không còn ai chịu mở lời.”
Quan Đào gõ đầu ngón tay lên cuộn thẻ. “Nghe rất đẹp. Nhưng hai người vẫn chưa gỡ được lúc nguy.”
Vịnh bước vào giữa sợi dây hình thuyền. “Có rồi. Người giữ việc gì quyết phần thuộc việc ấy. Người cầm lái quyết thuyền đi thế nào. Công Tự quyết đoàn cần cứu gì, giữ gì, bỏ gì. Công Thị ghi ai đã nói gì và có quyền dừng việc lấy lời, lấy vật. Không ai được mượn phần mình để cướp phần người khác.”
Hùng hỏi: “Nếu phần việc chồng lên nhau?”
“Nói điều mình sợ mất nhất. Người kia cũng nói. Chọn cách không làm mất tất cả.”
“Không phải lúc nào cũng rõ.”
“Thì không có lời thề nào làm nước sông đứng yên cho Công Tự.”
Bà Nhu cười khùng khục. “Con bé nói được một câu nghe như người từng lật thuyền.”
Vịnh cau mặt. “Tôi chưa lật.”
“Vì mày biết sợ.”
Người thợ mài dao nhấc lưỡi kim loại khỏi bánh đá. Âm thanh rít kéo dài bỗng dừng, để lại một khoảng yên lạ lẫm. Ông nhìn sống dao, lật mặt, rồi áp lại vào đá ở một góc khác.
Hùng nhìn động tác ấy. Một lưỡi sắc không thành bởi cứ ép mãi một mặt. Nó phải được lật, phải chịu đá mài ở cả hai bên; lệch một chút là mép dao quằn, sắc đó mà gãy đó.
“Tôi bằng lòng chia quyền xét như Công Thị nói,” chàng nói. “Tôi xét hình dấu và mối nối. Công Thị xét đường lời. Cả hai soát chéo cho nhau. Với đường đi, người dẫn quyết việc lái thuyền và có quyền từ chối lối thấy không yên. Tôi quyết chỗ đoàn cần tới và việc giữ người, giữ thẻ, giữ lương. Nếu hai phần vướng nhau, phải nói rõ cái nguy trước mắt, chọn cách không làm mất cả đoàn.”
Thanh hỏi: “Còn quyền cản?”
Hùng nhìn nàng. Câu này chàng nói chậm, như tự cắt vào phần của mình. “Mỗi người có quyền đòi dừng một lệnh khi chỉ ra được cái nguy rõ ràng mà người quyết chưa xét. Dừng để xét, không phải dừng mãi. Nghe đủ rồi, người giữ phần việc quyết và ghi tên mình.”
“Nếu cái nguy là thứ không lấy lại được?”
“Người trực tiếp giữ mạng người hoặc giữ thuyền có quyền từ chối.”
Vịnh hỏi: “Công Tự có đặt tay vào mái chèo của ta không?”
“Không, trừ khi Cư Vịnh không còn cầm được và bảo tôi cầm.”
“Có lấy đường nhà thuyền làm đường của đình Kinh rồi cấm bọn ta sửa?”
“Không. Kho giữ bản đối lời. Bến giữ một bản. Mỗi lần sửa phải giữ lời cũ và ghi vì sao đổi.”
“Có gọi ta là kẻ chống lệnh nếu ta từ chối một lạch nguy?”
“Không, nếu Cư Vịnh nói rõ cái nguy. Nếu tôi cho rằng Cư Vịnh giấu đường, tôi sẽ ghi điều ngờ ấy và tìm người thử lại; không giành lái.”
Vịnh quay sang Thanh. “Còn Công Thị?”
“Tôi sẽ không chép sự im lặng thành bằng lòng. Không đổi lời Cư Vịnh cho vừa lời kết. Nhưng Cư Vịnh cũng phải chịu để tên mình đứng dưới điều đã nói, kể cả khi điều ấy bị chỉ ra là sai.”
“Ta chịu.”
Quan Khâm đưa tay. “Bút.”
Thanh trao bút cho ông. Khâm không viết. Ông đặt nó vào tay Hùng.
“Hai người tự viết. Đây không phải lời Lạc hầu ban xuống.”
Hùng nhìn cuộn thẻ sáu điều cũ. Rồi chàng lấy một thẻ trắng.
“Viết hai bản,” Thanh nói.
“Một cho kho, một cho bến?”
“Không. Một bản bậu viết, một bản qua viết. Nếu câu chữ khác nhau, sửa trước khi thề.”
Quan Đào khẽ bật cười. “Cuối cùng Công Thị cũng tìm được cách kéo buổi trình qua bữa trưa.”
“Bẩm ngài, bề tôi sẽ cố xong trước khi ngài phải nhắc lần thứ ba.”
Họ ngồi hai bên phiến đá, mỗi người một thẻ. Thanh duỗi cái chân đau sang một bên; Hùng tì khuỷu tay bên vai lành lên đá. Không ai nhìn bản của người kia. Hùng viết nhanh hơn, nét rộng và đậm. Thanh viết chậm, dừng ở từng chữ chỉ việc: hỏi, quyết, dừng, từ chối, ghi, trả lời.
Đám đông ban đầu còn thì thầm, sau cũng im. Chỉ còn tiếng chợ qua cổng, tiếng đá mài và tiếng bút sột soạt trên tre.
Khi viết xong, họ đổi thẻ.
Hùng đọc bản của Thanh trước. Nàng viết: “Không mang lời giải có sẵn đặt lên dân.”
Chàng viết: “Không buộc lời chứng hầu việc cho điều ngờ chưa được thử.”
Ý gần nhau nhưng không trùng. Hùng thích câu của mình vì rõ việc dò xét. Thanh giữ câu của nàng vì nó gồm cả cách họ đối với người không có sổ hay lời chứng.
“Giữ cả hai,” Vịnh nói. “Một câu ngăn đầu các người. Một câu ngăn tay các người.”
Hùng ngước nhìn Vịnh. “Cư Vịnh bắt đầu quyết chữ từ khi nào?”
“Từ lúc chữ định quyết đường của ta.”
Thanh che một nụ cười bằng cách cúi xuống chấm mực.
Hai bản còn khác ở một chỗ. Hùng viết “người giữ phần việc có lời cuối”. Thanh viết “người chịu cái giá trước nhất có quyền từ chối”.
Họ cãi tới khi bà Nhu giật lấy một thẻ trắng, dù không ai mời. Bà bảo Thanh viết theo lời mình:
“Người giữ việc quyết cách làm. Người gánh phần thiệt không bị buộc im.”
Quan Đào hỏi: “Nếu người gánh phần thiệt là cả đoàn?”
“Thì cả đoàn phải biết trước điều có thể mất,” bà đáp. “Không cần ai cũng cầm lái. Nhưng không được bị chở vào chỗ chết trong khi tưởng đang đi chợ.”
Hùng thêm: “Trước mỗi chặng nguy, phải nói rõ chỗ cần tới, điều đã biết và cái nguy người dẫn lường trước. Người trong đoàn được quyền xin rời trước khi vào chặng, trừ khi đang giữ việc không thể tự ý bỏ.”
Vịnh nhìn chàng. Lần đầu từ sáng, vẻ đề phòng trong mắt Vịnh bớt đi một ít.
“Câu ấy dùng được.”
Khi hai bản đã trùng từng chữ, Thanh dùng dây buộc chúng với bản đường. Bác Lẫm chép một bản thứ ba cho kho đường. Vịnh bảo một đứa trẻ chép bản thứ tư để mang về bến. Đứa lớn cầm bút bằng cả bàn tay, viết chậm đến mức quan Đào phải quay đi xem người thợ mài dao ba lần. Không ai giục nó.
Đứa trẻ viết sai dấu Khoa Đẩu ở chữ “từ chối”. Nó hoảng hốt nhìn Thanh.
“Cạo đi được không?”
Thanh nhìn vết mực còn ướt. “Được. Nhưng đừng cạo mất cả thớ tre.”
“Nếu vẫn còn dấu?”
“Thì người sau biết ấu đã sửa.”
Đứa trẻ cẩn thận dùng sống dao nhỏ cạo một lớp mỏng. Vết chữ sai vẫn còn bóng mờ dưới chữ mới. Bác Lẫm nhìn nó rất lâu, như nhìn thấy trong một vết sửa nhỏ điều kho đường đã quên suốt nhiều năm.
• • •
Mặt trời lên khỏi mái cổng khi lời thề được đọc.
Không có đàn lễ, không trống, không hương. Chỉ có phiến đá cạnh giếng, bụi đường bám chân và dòng người vẫn đi qua cổng thành. Quan Khâm cùng quan Đào đứng chứng. Người bến sông đứng một phía, lính giữ cửa đứng một phía. Giữa họ là tấm bản đồ có những mép thẻ tre lay trong gió.
Hùng đọc trước:
“Ta, Hùng, Khảo Tri Sứ, nhận việc dò xét những dấu của cái biết còn sống ngoài sổ thẻ của thành. Ta không mang lời giải có sẵn đặt lên dân; không buộc lời chứng hầu việc cho điều ngờ chưa được thử. Ta gánh việc xét hình dấu và mối nối, chọn điều cần thử, và nói rõ cái giá của mỗi lệnh thuộc phần mình.”
Chàng dừng lại, nhìn Vịnh rồi nhìn những người phía sau Vịnh.
“Ta không giành quyền của người giữ đường, không biến sự im lặng thành thuận theo, không xóa lời bác khỏi bản trình. Khi bị chỉ ra một cái nguy rõ ràng, ta phải dừng đủ để xét. Nếu vẫn quyết, tên ta phải đứng dưới lệnh ấy.”
Thanh đọc tiếp:
“Ta, Thanh, Điển Tri Sứ, nhận việc giữ đường lời và vật chứng. Ta không sửa lời người khác cho vừa điều mình muốn tin; không giữ mọi bản khác nhau như nhau chỉ vì sợ phải chọn. Ta phải ghi người nói trong vai nào, lời qua bao nhiêu người, đã đổi ở đâu, và ai gánh phần thiệt nếu một nghĩa được dùng.”
Nàng quay sang Hùng.
“Ta có quyền soát lời kết của Công Tự Hùng, và chịu để Công Tự soát lời kết của ta. Khi chỗ không cùng ý chưa gỡ được, hai người giữ cả hai lối hiểu, ghi mình chắc đến đâu và tìm bằng cớ có thể bác. Không ai được lặng lẽ biến phần việc của mình thành quyền nói thay người kia.”
Vịnh đặt tay lên mái chèo.
“Ta, Vịnh, nhận dẫn đoàn qua đường nước ta biết. Ta không giấu cái nguy để giữ lợi cho nhà thuyền; không đổi đường vì thù riêng; không dùng nỗi sợ của người không biết nước để buộc họ phải dựa vào mình. Ta quyết việc lái thuyền và có quyền từ chối lối ta xét là không yên, nhưng phải nói rõ điều ta thấy.”
Vịnh hít một hơi.
“Ta chịu để lời mình bị thử lại. Nếu sai, tên ta vẫn ở dưới lời sai.”
Bà Nhu hỏi lớn: “Người đi cùng có được biết mình sắp vào đâu không?”
Cả ba đáp: “Có.”
“Người gánh phần thiệt có bị buộc im không?”
“Không.”
“Đường đổi thì bản cũ có bị cạo mất không?”
“Không.”
“Vậy đủ để bắt đầu. Chưa đủ để đi hết.”
Quan Khâm cầm từng bản xem dấu tên. Ông không đóng ấn vua lên lời thề. Thay vào đó, ông viết tên mình ở hàng người chứng. Quan Đào đứng bên cạnh hồi lâu rồi cũng cầm bút.
“Ta đặt tên không phải vì tin ba người sẽ giữ được mọi câu,” ông nói. “Ta đặt tên để khi các người phá một câu, có người biết phải hỏi từ đâu.”
Người lính giữ cửa ban nãy bước tới. “Bề tôi có được ghi một lời không?”
Quan Đào nhìn anh. “Người giữ cửa thì cứ nói.”
“Sáng nay dân bến đến theo lời mời nhưng không có thẻ. Nếu lần sau người đối lời bị chặn, họ phải làm sao?”
Thanh đáp: “Trên thẻ gọi đối lời phải ghi tên hoặc dấu của người được mời. Một bản gửi trước cho cửa, một bản do người ấy giữ.”
Hùng thêm: “Nếu không kịp gửi, người mời phải ra nhận như hôm nay, và việc bị chậm tính vào người mời, không phải lỗi người đến.”
Người lính cúi đầu. “Bề tôi xin nhận bản ấy khi có.”
Vịnh nhìn anh rồi nhìn Hùng. “Lời thề bắt đầu có việc để làm rồi đấy.”
“Tôi mong lần sau nó làm việc trước khi Cư Vịnh phải đứng chắn cửa.”
“Ta không chắn. Ta chỉ đứng ở nơi các người buộc phải nhìn thấy.”
“Khác nhau sao?”
“Đường không biết trên da bò có vẽ nó hay không,” Thanh nói.
Hùng quay sang nàng. Nàng đã trả lại chính câu nói từ hôm qua, nhưng lần này khóe môi không giấu cười.
“Bậu nhớ lời người khác rất lâu.”
“Việc của qua mà.”
• • •
Sau khi đám đông tan, Hùng và Thanh ở lại dưới bóng cổng để chia người, lương và vật mang theo.
Vịnh nhận dẫn tới vũng Trăng Non. Từ đó, Vịnh sẽ quyết có đi tiếp vào nhánh sông nhỏ hay tìm người vùng ấy thay. Bác Lẫm không đi; ông phải ở lại sửa cách giữ sổ đường. Bà Nhu càng không đi. Bà tuyên bố chân mình chỉ còn đủ sức đá những người hát sai nhịp ở bến.
Hai đứa trẻ nằng nặc xin theo. Nghe chúng hứa có thể chèo, nấu cơm, buộc dây và không cãi nhau, Vịnh hỏi:
“Sáng nay ai làm rơi cuộn dây xuống giếng?”
Đứa lớn chỉ đứa nhỏ. Đứa nhỏ chỉ ngược lại đứa lớn.
“Ở nhà.”
Cả hai tiu nghỉu ôm mái chèo. Bà Nhu kéo chúng đi, miệng mắng rằng chưa biết giữ một cuộn dây đã đòi giữ mạng người. Nhưng qua được mấy bước, bà quay lại bảo Vịnh mang cho chúng một viên đá ở bến đầu tiên. Hai đứa lập tức sáng mặt, cãi nhau xem viên đá phải tròn hay có vân đỏ.
Quan Khâm giao thêm bốn người: hai lính đi giữ đoàn, một người coi lương và một người biết chữa thương. Quan Đào cắt bớt một xe chở đồ Hùng đã tính mang.
“Đường nước nhỏ không nuôi nổi thói quen mang cả căn phòng theo Công Tự.”
“Tôi chỉ mang đồ đo, thẻ chép, lương, dây và vật đổi.”
“Ba hòm thẻ chép?”
“Một hòm thẻ trắng, một hòm bản đối lời, một hòm…”
Thanh ngắt lời: “Một hòm là đủ. Bản đối lời chia vào ống chống nước. Thẻ trắng chỉ lấy một nửa.”
Hùng quay sang. “Chúng ta có thể đi cả năm.”
“Chúng ta đang sửa soạn chặng đầu, không dọn nhà khỏi thành.”
Quan Đào vuốt râu, vẻ hài lòng hiện rõ đến mức Hùng khó chịu.
“Qua chịu một hòm,” chàng nói. “Nhưng thêm da bọc.”
“Được.”
“Hai túi mực.”
“Một túi mực, mang thêm thứ để pha.”
“Hai.”
“Một túi rưỡi.”
Hùng nhìn nàng. “Bậu định đong nửa túi thế nào?”
“Qua định xem bậu có biết nhượng hay chỉ biết chia đôi chữ.”
Vịnh đang kiểm dây gần đó bật cười thành tiếng. Hùng thở dài.
“Hai túi nhỏ.”
“Được.”
Rạ từ phía nam chạy tới lúc ấy, tóc vẫn còn mùi khói. Cậu cúi người trước Thanh, thở chưa ra hơi.
“Thưa Công Thị, Già Thị Sên nhắn: lò lớn chưa nguội tới ruột. Mở sớm thì gió làm nứt nốt những gì còn. Già Thị sẽ mở trước mặt cả phường; ba phiến còn hay mất, phường cũng gửi tin theo trạm.”
Thanh đứng yên một nhịp. Nàng đã mong biết trước khi đi, mong đến mức đêm nào cũng nghĩ tới cái lỗ xem lửa ấy.
“Nhờ Rạ thưa lại với Già Thị: cứ mở tại lò, đừng mang đi đâu. Ta chờ được.”
Rạ gật, toan chạy, rồi quay lại nói thêm, mắt sáng lên: “Dọi đang dạy tôi nghe nhịp nóng. Tôi mới phân biệt được hai nhịp thôi.”
“Hai nhịp là hơn ta rồi.”
Cậu cười, chạy đi. Hùng nhìn theo, rồi nhìn Thanh. Nàng không nói gì, chỉ buộc lại miệng túi mực chặt hơn cần thiết.
Quan Khâm đưa cho họ một thẻ niêm. “Hai ngày nữa, rời thành trước khi chợ mở. Đoàn đi theo dòng nước nhỏ phía nam tới bãi Sậy. Gửi bản lược tại trạm đầu tiên tới được sau quãng mười ngày.”
Hùng nhận thẻ. “Bề tôi lĩnh việc.”
Thanh cũng cúi người. “Bề tôi lĩnh việc.”
Quan Khâm đã quay đi, lại dừng bước. Ông nói với Hùng, không ngoái hẳn lại: “Còn câu Công Tự hỏi ta hôm trước. Chiều nay đến kho, mang tên xóm.”
“Dạ.” Hùng cúi đầu. Chàng đã sợ ông quên.
Khi hai quan đã đi, khoảng đất cạnh giếng chỉ còn những vết chân, một ít mùn tre và vòng dây hình chiếc thuyền chưa ai cuộn lại. Người thợ mài dao thử lưỡi kim loại lên một sợi cỏ. Sợi cỏ đứt gọn, nhưng ông vẫn lắc đầu, lật sang mặt kia mài thêm.
Hùng cúi nhặt sợi dây. Thanh giữ đầu bên kia. Họ cuộn từ hai phía, mỗi người đi dần về giữa.
“Lúc nãy bậu nói thật chứ?” chàng hỏi.
“Điều nào?”
“Bậu nhận đi cùng một phần để canh qua.”
Thanh không tránh mắt. “Thật.”
“Và để qua canh bậu?”
“Qua dùng chữ soát.”
“Nghe dễ chịu hơn.”
“Nhưng không nhẹ hơn.”
Hai người đã cuộn tới gần nhau. Giữa họ còn một đoạn dây bị thắt nút từ lúc làm thuyền giả. Hùng kéo thử. Nút càng siết.
Thanh đặt tay lên. “Đừng giật.”
“Qua biết gỡ nút.”
“Bậu vừa cho thấy điều ngược lại.”
Nàng nới một vòng dây, Hùng giữ phần còn lại khỏi siết. Không ai gỡ được nếu chỉ kéo về phía mình. Một lúc sau, nút bung.
Hùng nói: “Qua không thích việc bậu nghĩ qua có thể lạm quyền.”
“Qua cũng không thích nghĩ thế.”
“Nhưng bậu vẫn nghĩ.”
“Ừ.” Thanh cuộn nốt đoạn dây. “Có lẽ sau này qua sẽ bớt nghĩ. Có lẽ sẽ có lúc bậu cho thấy qua nghĩ đúng. Lời thề không được viết cho ngày chúng ta đang dễ chịu với nhau.”
Hùng nhìn vết mực trên ngón tay nàng, rồi nhìn thẻ lời thề buộc cạnh bản đường.
“Qua cũng chưa tin bậu sẽ bỏ được một lời kể khi nó không còn đứng vững.”
Thanh khựng lại rất nhẹ.
“Vậy bậu nhớ nói khi thấy.”
“Qua sẽ nói.”
“Qua có thể sẽ giận.”
“Qua biết.”
“Bậu chưa thấy qua giận thật đâu.”
Hùng đưa cuộn dây đã gỡ xong cho nàng. “Qua bắt đầu thấy chuyến đi nguy ở chỗ nào rồi.”
Thanh muốn giữ vẻ nghiêm, nhưng không được. Tiếng cười bật ra trong lúc nàng quay đi, làm câu đáp sắc sẵn trên môi tan mất.
Ở phía bến, Vịnh gọi họ xuống thử thuyền trước khi nước đổi. Ngoài cửa thành, con đường đất dẫn tới dòng sông đã đông người, nhưng giữa những dấu chân vẫn còn một dải hẹp chưa bị giẫm.
• • •
Chiều ấy, Hùng đến kho lương một mình.
Dọc chân tường kho thứ ba, người coi kho cũ đang đi cùng một người giữ thẻ, chỉ từng chỗ: đây ẩm mùa mưa trước, đây thay gỗ hai lần, đây đá lạnh hơn cả. Tội của ông đã định thế nào, Hùng không hỏi. Thấy chàng, ông dừng lại, cúi người. Trên mặt ông không còn vẻ trơn tru của buổi sớm hôm nào. Hùng gật đầu đáp, và thấy mừng vì ông vẫn còn được hỏi.
Quan Khâm đã ngồi sẵn giữa những giá thẻ, trước mặt là một bó thẻ cũ đến mức dây buộc đã đổi màu. Ông không nhắc lại câu hỏi. Ông chỉ hỏi: “Xóm nào?”
“Khu nhà bờ bắc, dưới dốc kho. Nhà thứ bảy tính từ đầu lối đá.”
Ông lần từng thẻ, môi mấp máy đọc thầm. Hùng đứng chờ, nghe tim mình đập như buổi đứng giữa điện.
“Có phần,” cuối cùng ông nói.
Hùng thở ra. Nhưng quan Khâm chưa đặt thẻ xuống.
“Thóc phát lúc đói chia theo bếp. Bờ bắc có mười một bếp trong sổ, lập từ năm đói trước, đã hơn chục năm.” Ông xoay thẻ về phía Hùng. “Bếp thứ bảy đứng tên một người đàn ông. Người giữ thẻ trước ta đã chấm bên cạnh một dấu: không ai ra nhận.”
“Vì sao không ai nhận?”
“Vì khi phát, kho gọi tên trên thẻ. Người ấy chết rồi thì không ai bước ra. Thóc không có người nhận lại quay về chum.” Giọng ông mỏi như mọi khi, nhưng lần này cái mỏi quay vào chính ông. “Không ai lấy của họ. Cũng không ai đưa tới tay họ.”
Hùng nhìn hàng chữ. Một dấu chấm nhỏ, ngay ngắn, đúng phép. Cổ chàng khô lại. “Còn bao nhiêu bếp như thế?”
“Ta chưa đếm.” Quan Khâm im một lúc. “Giờ thì phải đếm.”
Ông không cạo tên cũ. Ông lấy một thẻ trắng, viết rồi buộc vào bên dưới: bếp thứ bảy bờ bắc, người đứng tên đã mất; người đang giữ bếp tự nói tên; kho ghi lại, có người trong xóm đối lời. Chỗ để tên, ông bỏ trống.
“Kho không biết bờ bắc bây giờ có bao nhiêu bếp, ai đứng bếp. Người biết là họ.” Ông đặt thẻ vào tay Hùng. “Công Tự hứa thì Công Tự mang đi. Mai ta cho người giữ thẻ xuống chép cả xóm.”
“Thưa Lạc hầu, tôi xin nhận.”
Trời chưa tối khi Hùng xuống tới bờ bắc. Người đàn bà đang quét tro ngoài sân, quanh vệt rêu hình lưỡi liềm giờ đã không còn bị che. Thấy chàng, bà dựng chổi, không mời vào cũng không chắn cửa.
“Ấu hỏi được rồi,” Hùng nói.
Chàng không tô cho câu trả lời đẹp hơn. Chàng kể đúng như quan Khâm đã kể: có phần, phần ấy đứng tên một người đã mất, và hơn chục năm nay mỗi lần gọi tên lại quay về chum mà không ai hay.
Bà nghe hết, mặt không đổi. Chỉ có bàn tay trên cán chổi siết lại.
“Tên ấy là của người đã cùng dựng cái bếp này.” Bà nhìn tấm thẻ còn trống. “Bấy nhiêu năm, gọi một người nằm dưới đất ra nhận thóc.”
“Giờ thẻ chờ tên Già Thị. Mai người giữ thẻ của kho sẽ xuống, chép cả xóm, có người trong xóm đứng đối lời.”
“Rồi năm đói có thóc thật không?”
“Ấu không hứa thay kho được.” Hùng nhìn thẳng vào bà. “Ấu chỉ hứa điều Ấu đã thấy tận mắt: tên cũ không bị cạo, tên mới có chỗ để ghi.”
Bà nhìn chàng rất lâu, như buổi sáng mưa bụi hôm nào. Rồi bà nói tên mình. Hùng viết, đọc lại cho bà nghe, và bà gật.
“Công Tự hỏi chậm,” bà nói. “Nhưng có hỏi.”
Trước khi rời xóm, chàng còn ghé nhà lão Cẩn, lấy que vẽ lên nền đất cho lão xem dấu thứ ba nằm nghiêng theo dòng. Lão ngồi xổm nhìn hình vẽ đến khi trời tối hẳn, không nói gì, chỉ lấy ngón tay tô lại nét ấy hai lần.
Rồi lão mở túi áo ngực, lấy ra một mẩu vải buộc túm. Bên trong là hạt trấu đỏ, màu đã bạc đi một ít.
“Công Tự gửi, tôi vẫn giữ.”
Hùng nhìn hạt trấu nhỏ nằm giữa những ngón tay lệch. Cổ chàng nghẹn lại.
“Già Tự cứ giữ giúp Ấu. Ấu còn phải quay về mà hỏi dấu thứ ba dùng vào việc gì.”
Lão Cẩn khép bàn tay lại, gật một cái. Lần này lão cười thật.
Hùng leo dốc trở về. Lần đầu sau hơn nửa tháng, chàng đi ngang kho lương mà không thấy mình còn nợ nó một câu.
• • •
Hai ngày nữa, họ sẽ rời nơi này.
Không ai trong họ biết con đường sẽ kéo dài mấy năm trời. Lúc ấy, điều họ có chỉ là bốn bến, một người dẫn chưa hoàn toàn tin họ, hai bản lời thề gốc giống từng chữ và một lẽ chung vừa được mài sắc đủ để cắt mối rối trước mắt.
Lưỡi sắc ấy chưa dùng để chống kẻ thù.
Nó được đặt giữa những người sắp đồng hành, để mỗi người biết quyền của mình dừng ở đâu trước khi bước qua cửa thành.

💬 Bình luận (0)