Chương 005: Tang Cha Giữa Lò Tắt Lửa
Khói hương nghi ngút hòa cùng làn sương sớm lành lạnh bao phủ khắp sân lò rèn Đại Hoàng. Bếp than bễ đã tắt ngấm từ đêm qua sau trận huyết chiến kinh hoàng, chỉ còn lại lớp tro xám lạnh lẽo phủ đầy trên mặt đe sắt ba mươi năm tuổi.
Gian nhà đất hoang tàn, vách liếp thủng lỗ chỗ vì gươm giáo nay được bà con làng xóm dọn dẹp sạch sẽ, dựng lên một chiếc rạp tang đơn sơ bằng tre nứa và lá cọ ngả màu vàng úa.
Lưu Thiếu Khôi quỳ bên linh cữu cha nuôi, trên đầu chít dải khăn xô trắng, vạt áo nâu bạc màu vẫn còn vương những vệt máu khô thẫm lại. Chàng hai mươi hai tuổi, đôi mắt trũng sâu vì hai đêm thức trắng, nhưng nét mặt đanh lại như một khối thép nguội vừa vớt ra khỏi nước tôi sông Hoàng Long.
Ngón tay cái của chàng theo thói quen vẫn miết nhẹ lên sống thanh đoản đao chưa mài sắc đặt ngang đầu gối, từng nhịp thở đều đặn nén chặt nỗi đau thương tột cùng vào tận đáy lòng.
Bà con xóm chài ven sông Hoàng Long, những người thợ rèn quanh vùng và đám trẻ mục đồng Thung Lau lặng lẽ nối đuôi nhau vào thắp nén hương tiễn biệt người thợ già nhân hậu. Một lão chài tóc bạc phơ bước tới, đặt lên bàn thờ một chiếc đĩa sành đựng mấy con cá bống kho tiêu thơm nức, giọng nghẹn ngào:
— Lão Đoan ơi, ba mươi năm lão rèn lưỡi cuốc, lưỡi cày cho dân làng Đại Hoàng này cày cấy hạt thóc hạt ngô. Lão rèn từng chiếc câu liêm, chiếc neo sắt cho dân chài chúng tôi vượt qua mùa nước lũ. Nay lão nằm xuống rồi, ai rèn đao rèn búa cho chúng tôi giữ bến sông đây?
Khôi dập đầu lạy tạ người già làng:
— Đội ơn bác và bà con đã sang tiễn biệt cha cháu. Lò rèn này cháu sẽ giữ, không để tro than nguội lạnh. Từng chiếc lưỡi cày, lưỡi cuốc của bà con cháu sẽ tiếp tục rèn đúc như ngày cha cháu còn sống.
Lão chài nắm lấy bàn tay chai sạn đầy vết bỏng than của Khôi, thở dài một tiếng não nề:
— Thời loạn đến rồi cháu ạ. Ngô Vương nằm xuống ở Cổ Loa, ngoài cửa sông bến đò ngày nào cũng có thuyền chiến đi qua lại. Bọn cường hào khắp nơi bắt đầu ép giá thóc, cướp đoạt sắt thép. Cháu giữ lò rèn phải cẩn trọng trăm bề, kẻo lũ gian tà lại tìm tới hại người.
Một người thợ rèn xóm bên cũng bước tới chắp tay nói:
— Chúng tôi bên xóm Thượng cũng vừa nghe tin. Bọn thảo khấu sông Đáy dạo này lộng hành dữ lắm. Khôi à, nếu thiếu than nghiến hay quặng sắt, cứ bảo một tiếng, anh em thợ rèn chúng tôi sẽ gom góp mang sang giúp cậu giữ lò.
Hoàng Long Nhi từ ngoài bến sông bước vào rạp tang. Nàng mặc bộ áo vải thô màu lam nhạt trang nhã, đầu quấn khăn trắng, tay bưng một thau nước lá bưởi thơm ngát và một cuộn vải chàm mới dệt do chính tay nàng xe tơ dệt sợi suốt đêm qua. Nàng bước tới quỳ xuống bên cạnh Khôi, nhẹ nhàng đặt cuộn vải lên quan tài lão Đoan:
— Khôi, đây là tấm vải chàm tôi vừa dệt xong tối qua để phủ quan tài cho lão Đoan. Anh uống bát nước chè xanh này đi cho ấm bụng, đừng quỳ mãi thế này kẻo kiệt sức.
Nàng đưa bát nước chè rừng bốc khói nghi ngút cho chàng. Khôi đón lấy bát nước, vị chát đắng đầu lưỡi dần chuyển sang vị ngọt hậu nơi cuống họng, làm tan đi vị đắng ngắt của nước mắt và bụi than vương trên môi.
Chàng nhìn Long Nhi, khẽ nói:
— Cảm ơn cô Long Nhi. Đêm qua nếu không có cô và bà con dưới bến tiếp ứng kịp thời, chắc lò rèn này đã thành đống tro tàn, thi hài cha tôi cũng chẳng còn nguyên vẹn.
Long Nhi khẽ lắc đầu, ánh mắt đượm vẻ kiên cường của người con gái sông nước:
— Lò rèn Đại Hoàng với bến đò là một gốc ruột thịt. Lão Đoan như người cha thứ hai của tôi, thuở nhỏ tôi chèo đò ngã nước cũng là lão Đoan cứu vớt. Việc này là bổn phận thiêng liêng của bến sông, anh đừng bận lòng. Tôi đã bảo mấy chú chài lưới chuẩn bị sẵn hai chiếc thuyền nan lớn nhất dưới bến, lát nữa đưa quan tài lão Đoan qua sông sang gò đất bồi.
Đúng lúc đó, Trần Lãng và Bùi Mộc từ ngoài bờ đê bước vào rạp tang. Lãng mang theo một bó cuốc xẻng lớn, áo chẽn đẫm mồ hôi, mặt mày đỏ gay vì giận dữ:
— Khôi! Đám thanh niên xóm Kênh Giao đã đào xong huyệt trên gò đất cao ven sông Hoàng Long rồi. Đất ở đó khô ráo, đầu gối núi Tràng An hùng vĩ, chân đạp sóng nước ngã ba sông, đúng là mảnh đất phong thủy tốt cho người thợ già an nghỉ muôn đời.
Khôi đứng dậy, chắp tay cảm tạ bạn thân:
— Làm phiền anh em xóm Kênh Giao nhiều quá. Công đức này tôi xin ghi lòng tạc dạ.
Lãng vỗ mạnh vào cán xẻng, nghiến răng ken két:
— Phiền gì mà phiền! Tao vừa cho người lặn xuống khúc sông bãi bồi tìm kiếm. Xác tên Mã Biêu trôi dạt vào rặng tre đã được vớt lên rồi, trên vai hắn trúng nhát đao chí mạng của mày. Nhưng tên sát thủ áo xám bắn nỏ lén thì biến mất không một dấu vết dưới đáy sông.
Tao thề trước hương hồn lão Đoan, sẽ tìm ra kẻ chủ mưu để băm vằn xác hắn trả thù cho lão!
Mộc chống gậy gỗ bước tới, cất giọng trầm tĩnh:
— Anh Lãng chớ nóng nảy mù quáng. Sáng nay em đã vẽ lại toàn bộ dấu vết thuyền nan của tên áo xám để lại trên bãi bùn lầy. Mạn chiếc thuyền ấy có khắc một chữ Triều rất nhỏ bọc trong vòng tròn đồng tinh xảo.
Lãng quay sang hỏi Mộc:
— Mày có chắc chắn là chữ Triều không? Hay là hoa văn thuyền buôn muối?
Mộc khẳng định chắc nịch:
— Em nhìn rõ từng nét khắc bằng mắt mình, không thể sai được.
Khôi bước vào gian lò rèn, lấy ra mũi tên đồng ba cạnh đoạt được đêm qua đặt lên mặt đe sắt. Dưới ánh sáng ban ngày soi qua kẽ liếp, chàng dùng chiếc kính phóng đại bằng đá pha lê của lão Đoan để lại, soi kỹ từng đường nét chạm khắc trên thân tên.
Khôi chỉ vào phần rãnh đuôi tên, nói với Lãng và Long Nhi:
— Các người nhìn xem cho kỹ. Mũi tên này không phải đúc bằng đồng tạp của các lò rèn địa phương, mà đúc bằng đồng đỏ pha quặng chì vùng Cổ Loa. Ở gốc ba cạnh có một con dấu móng ngựa lồng trong chữ Triều uốn lượn.
Long Nhi ghé mắt nhìn, ngạc nhiên thốt lên:
— Chữ Triều... Đó là ký hiệu của Đỗ Cảnh Thạc bên trại quyền Đỗ Động! Cha tôi trước kia từng chở một chuyến hàng cho thành Bảo Đà, trên cờ hiệu của họ có thêu con dấu y hệt thế này!
Lãng trợn tròn mắt, đấm mạnh nắm tay xuống mặt đe sắt kêu beng một tiếng:
— Đỗ Cảnh Thạc? Độc Nhĩ Đại Vương sao? Hắn cậy mình có một vạn quân trại quyền, đao pháp vô địch cõi bộ mà dám phái người về tận đất Đại Hoàng này giết hại lão Đoan à? Thật là phường súc sinh! Chúng ta phải gom thuyền sang Đỗ Động tính sổ với hắn!
Khôi trầm ngâm lắc đầu, giọng nói đanh thép và cẩn trọng lạ thường:
— Đỗ Cảnh Thạc là người thâm sâu khó lường. Hắn muốn thôn tính các lò rèn để chuẩn bị vũ khí mở rộng bờ cõi, nhưng kẻ bắn mũi tên đêm qua hành tung lại quá quỷ quyệt. Hắn bắn trúng tim cha nuôi rồi lập tức rút êm, không hề có ý định cứu Mã Biêu hay tiếp tục cướp đao.
Điều này chứng tỏ hắn muốn mượn tay Mã Biêu để thăm dò lò rèn, rồi lại diệt khẩu để che giấu tung tích thực sự của một kẻ đứng sau quyền lực hơn nữa ở triều đình Cổ Loa.
Mộc gật đầu tán đồng ý kiến của Khôi:
— Anh Khôi nói rất chí lý. Em nghe ngóng được từ các thuyền buôn xuôi ngược rằng Dương Tam Kha ở Cổ Loa đang ngầm liên kết với các hào trưởng địa phương để chia cắt bờ cõi. Hắn sợ các thợ rèn cũ của Tiên vương Ngô Quyền liên kết với con trai Tiên vương là Ngô Xương Ngập, nên muốn nhổ cỏ tận gốc.
Lãng thở dài một tiếng:
— Thời thế rối ren như tơ vò thế này, biết tin ai, ngờ ai bây giờ?
Khôi siết chặt nắm tay, ngón tay ấn mạnh vào sống thanh đoản đao chưa mài sắc:
— Món nợ máu này, ta sẽ ghi nhớ từng nét trong tim. Nhưng cha nuôi trước khi lâm chung đã dặn: người thợ rèn Đại Hoàng rèn đao để giữ đất giữ bến, không được để lòng hận thù làm hoen ố lưỡi đao. Ta sẽ tìm ra toàn bộ sự thật, vạch trần kẻ giấu mặt trước thanh thiên bạch nhật, bắt chúng phải trả giá trước công lý của non sông.
Chúng ta không vội manh động, trước hết phải đưa tang cha chu tất.
Chính ngọ đến, lễ hạ huyệt diễn ra trang nghiêm và xúc động trên gò đất bồi ven sông Hoàng Long. Dân làng Đại Hoàng xếp thành hai hàng dài dọc theo triền đê tiễn đưa linh cữu lão Đoan về nơi an nghỉ cuối cùng. Tiếng chiêng đồng vang lên từng hồi trầm đục, hòa cùng tiếng sóng nước vỗ vào bờ cát rì rào như bản trường ca vĩnh hằng của đất mẹ phù sa.
Khôi tự tay rải nắm đất đầu tiên xuống huyệt mộ cha nuôi. Chàng quỳ rạp người lạy ba lạy, trán chạm vào lớp đất phù sa màu mỡ còn nồng nàn mùi cỏ dại:
— Cha yên nghỉ nơi suối vàng. Con thề sẽ giữ lấy nghề rèn của cha, giữ lấy từng tấc đất bến sông này cho đến hơi thở cuối cùng. Con sẽ không để ngọn lửa lò rèn Đại Hoàng tàn lụi.
Long Nhi và Lãng đứng sau lưng chàng cũng cúi đầu thành kính dập đầu lạy tạ. Lãng nghẹn ngào khấn:
— Lão Đoan, cháu thề sẽ cùng Khôi bảo vệ lò rèn này! Kẻ nào dám xâm phạm, song đao của cháu sẽ không tha cho hắn!
Sau khi mộ phần được đắp cao thành một nấm mồ xanh cỏ, bà con xóm làng dần tản đi, chỉ còn lại Khôi, Lãng, Long Nhi và Mộc đứng lặng giữa làn gió chiều buốt giá.
Mặt trời bắt đầu lặn dần sau những rặng karst hùng vĩ của vùng Tràng An. Hoàng hôn buông xuống nhuộm đỏ cả một dải sông dài như một dải lụa lửa lung linh huyền ảo.
Khôi quay trở lại lò rèn hoang tàn. Chàng bước tới bên giá gỗ mít, nhấc thanh đao phôi dở dang xuống. Thanh đao dài hai thước hai tấc, sống dày đen tuyền, chưa được mài sắc và tôi nước cuối cùng.
Chàng nhặt chiếc búa rèn của cha nuôi lên, đặt thanh phôi thép lên đe sắt.
Một tiếng búa nện vang lên khô khốc và dứt khoát giữa gian nhà đất vắng lặng.
"Cành!"
Tiếng búa đầu tiên sau ngày đại tang báo hiệu ngọn lửa lò rèn Đại Hoàng đã bùng cháy trở lại, không một thế lực nào có thể dập tắt.
Nhưng ngay lúc tiếng búa vừa dứt, từ ngoài con đường đê ven sông bỗng có tiếng vó ngựa dồn dập phi nước đại tới gần, rồi dừng phắt lại trước cổng rào lò rèn.