Chương 006: Dấu Vết Mũi Tên Ba Cạnh
Tiếng vó ngựa dồn dập vừa dừng lại trước sân lò rèn Đại Hoàng, một tráng đinh mặc áo giáp da bò đính đinh đồng sáng loáng liền nhảy phắt xuống ngựa. Hắn thở hổn hển, trên vai mang theo một chiếc túi da bọc kín, sải bước tiến thẳng vào gian nhà đất. Con chiến mã màu nâu sẫm của hắn đứng ngoài cổng rào, mũi phì phì hơi trắng giữa làn sương đông mờ ảo buốt giá.
Khôi dừng tay búa, đứng thẳng người nhìn vị khách lạ phương xa. Chàng nhận ra trên tấm giáp ngực của người này có thêu hình ngọn sóng ba tầng màu lam thẫm — phù hiệu đặc trưng của đoàn thuyền buôn muối Bố Hải Khẩu thuộc quyền cai quản của sứ quân Trần Lãm bên cửa biển Kỳ Bố.
Tráng đinh chắp tay chào Khôi một cách vô cùng kính cẩn:
— Xin kính chào huynh đài! Xin hỏi đây có phải là lò rèn Đại Hoàng lừng danh của lão Đoan tiền bối không?
Khôi đáp lời điềm đạm, giọng nói trầm hùng:
— Đúng là lò rèn Đại Hoàng, nhưng cha tôi đã tạ thế hôm qua sau một trận tập kích của giặc sông. Tôi là Lưu Thiếu Khôi, con nuôi kiêm người kế nghiệp lò rèn. Tráng sĩ từ cửa biển Bố Hải Khẩu lặn lội tới đây có việc gì khẩn cấp?
Tráng đinh nghe tin lão Đoan qua đời liền lộ vẻ bàng hoàng đau xót, vội vàng cúi đầu mặc niệm trước di ảnh một lát rồi cởi chiếc túi da lấy ra một thanh đao gãy đôi đặt lên mặt đe sắt:
— Thật là một tổn thất to lớn cho giang sơn khi một bậc danh sư đúc kiếm ngã xuống! Tôi là Đỗ Dự, cai quản đội tuần tiêu Bố Hải Khẩu dưới trướng Trần Minh Công.
Chúa công của tôi nghe danh lò rèn Đại Hoàng có phương pháp tôi thép bằng nước sông Hoàng Long vô cùng dẻo dai, chém đá không mẻ, nên sai tôi mang thanh bảo đao gia truyền bị gãy này tới nhờ lão Đoan rèn lại, đồng thời muốn đặt hàng trăm thanh trường đao cho thủy binh cửa biển Kỳ Bố chuẩn bị phòng thủ.
Khôi đón lấy hai khúc đao gãy, đưa lên mắt ngắm nghía cẩn thận dưới ánh lửa bễ vừa nhen nhóm. Chàng dùng ngón tay gõ nhẹ vào thân thép, lắng nghe âm thanh vang lên thanh thoát.
Đỗ Dự nói thêm:
— Thanh đao này là bảo vật truyền đời của dòng họ Trần bên bến Kỳ Bố. Trong một trận giáp chiến với thủy tặc ngoài cửa Đại Ác, đao chém trúng mạn thuyền bọc sắt của giặc mà gãy làm đôi. Chúa công tôi tiếc nuối vô cùng, dặn nếu hàn gắn được thì sẽ hậu tạ xứng đáng.
Khôi nhìn kỹ mặt cắt của thanh bảo đao gãy, ngón tay miết nhẹ lên thớ thép ánh lên sắc xanh biếc như cánh cà cuống:
— Đây là loại thép vân mây khai thác từ quặng sắt ven biển Đông, độ cứng rất cao nhưng sống đao người thợ trước tôi quá già lửa nên khi va chạm với binh khí nặng liền gãy ngang khúc giữa. Muốn hàn gắn lại thanh đao này phải dùng than củi nghiến nấu chảy phôi thép mềm đệm vào sống đao, sau đó tôi bằng nước suối lạnh pha tro trấu để lấy lại độ dẻo dai.
Tay nghề của người thợ đúc ban đầu tuy khéo léo nhưng chưa hiểu hết tính nết của quặng sắt biển sâu.
Đỗ Dự nghe Khôi phân tích rành rọt từng thớ thép và khuyết điểm của thanh đao liền hết sức khâm phục, tấm tắc ngợi khen:
— Thiếu hiệp quả thực am hiểu sâu sắc nghề rèn của phụ thân! Lời thiếu hiệp nói y hệt lời các lão thợ già bên Kỳ Bố. Trần Minh Công chúa công của tôi là người trọng nghĩa khinh tài, vùng Bố Hải Khẩu muối trắng mênh mông, kho thóc đầy ắp nhưng rất thiếu thợ rèn binh khí giỏi.
Nếu thiếu hiệp đồng ý cùng gia quyến sang Bố Hải Khẩu, chúa công sẵn sàng phong chức Đốc công và cấp cho trăm mẫu ruộng muối màu mỡ.
Khôi khẽ lắc đầu, đặt hai khúc đao lên đe sắt một cách dứt khoát:
— Đa tạ thịnh tình của Trần Minh Công. Nhưng tôi đã thề trước mộ cha nuôi, sẽ ở lại đất Đại Hoàng giữ lấy lò rèn tổ truyền và bến nước quê hương. Thanh bảo đao này tôi sẽ rèn lại cho ngài trong vòng ba ngày, đảm bảo sắc bén và dẻo dai hơn xưa gấp bội phần.
Lúc đó, Trần Lãng và Bùi Mộc từ ngoài bến đò bước vào xưởng rèn. Mộc cầm trên tay bức vẽ chi tiết dấu vết thuyền nan của kẻ áo xám:
— Khôi, em vừa từ bến đò Hoàng Long về. Chị Long Nhi báo rằng chiếc thuyền nan chở kẻ bắn nỏ đêm đó không xuôi về Đỗ Động như chúng ta phỏng đoán ban đầu, mà rẽ vào cửa sông Đáy hướng thẳng về phía thành Tây Phù Liệt của Nguyễn Siêu!
Đỗ Dự nghe thấy cái tên Tây Phù Liệt liền biến sắc mặt, giọng trầm xuống:
— Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt ư? Hắn đang nắm giữ một vạn quân cấm vệ cũ của Cổ Loa, nổi tiếng là tay kiêu hùng tàn bạo nhất châu thổ. Hắn đang ngầm thâu tóm toàn bộ nỏ đồng và đao kiếm khắp các bến sông để chuẩn bị xưng hùng tranh bá đấy!
Lãng vỗ mạnh vào cặp song đao bên hông, gằn giọng:
— Hóa ra kẻ đứng sau mũi tên ba cạnh độc hiểm là Nguyễn Siêu! Hắn ỷ vào một vạn quân mà dám coi trời bằng vung à?
Đỗ Dự tiếp lời:
— Nguyễn Siêu đóng quân ở Tây Phù Liệt, thế lực bành trướng rất mạnh. Nghe đồn hắn có lò đúc binh khí riêng nhưng phép tôi thép không bằng lò Đại Hoàng, nên luôn dòm ngó các thợ giỏi để bắt cóc hoặc t-rừ khử.
Khôi trầm ngâm:
— Hắn muốn độc chiếm nguồn binh khí để khống chế toàn bộ ngã ba sông Hồng.
Khôi rút mũi tên đồng ba cạnh đoạt được từ đêm trước ra đưa cho Đỗ Dự xem xét:
— Bác Đỗ Dự, ngài thường đi lại khắp các cửa sông buôn muối, ngài có nhận ra vết khắc hình ngôi sao ba cánh trên thân tên này không?
Đỗ Dự cầm mũi tên lên soi dưới ánh lửa bễ, đôi lông mày nhíu chặt lại đầy vẻ kinh ngạc:
— Đây đúng là tên nỏ của đội Tiễn Thủ Tinh Anh dưới quyền Nguyễn Siêu! Đội quân này chuyên dùng loại nỏ ngắn ba lẫy bắn đồng thời ba mũi tên tẩm độc củ chi, có thể bắn xuyên giáp da ở cự ly năm mươi bước chân. Kẻ bắn nỏ đêm đó chắc chắn là Sử Hành Giả — thủ lĩnh đội tiễn thủ ngầm của Nguyễn Siêu.
Tên này hành tung xuất quỷ nhập thần, chuyên đi ám sát các tướng lĩnh và thợ giỏi không chịu quy phục.
Khôi nghe vậy liền hiểu rõ toàn bộ cục diện phức tạp:
— Ra là thế. Nguyễn Siêu muốn chiếm lò rèn Đại Hoàng để trang bị cho đội quân tinh nhuệ của hắn, nhưng sợ Đỗ Cảnh Thạc bên Đỗ Động và Kiều Công Hãn bên Phong Châu phát hiện nên mượn tay tên thảo khấu Mã Biêu thăm dò, sau đó cho Sử Hành Giả ra tay tiêu diệt nhân chứng để bịt đầu mối.
Lãng sốt sắng bước tới bên Khôi:
— Khôi, chúng ta phải làm gì bây giờ? Nguyễn Siêu có một vạn quân, chúng ta chỉ có bốn người bên bến đò này, lấy gì chống cự nếu hắn mang đại quân tới?
Khôi nhìn vào ngọn lửa bễ đang bùng cháy rực rỡ, ánh mắt chàng đanh lại như thép tôi:
— Hắn có một vạn quân nhưng sông Hoàng Long có thế hiểm của sông Hoàng Long. Chúng ta không dại gì đánh nhau với hắn trên đồng bằng mở, mà phải dùng địa hình sông nước, bẫy ngầm bãi bồi và nghệ thuật nghề rèn để bảo vệ bến sông. Việc trước mắt là rèn lại thanh đao dang dở này và củng cố toàn bộ thuyền đò bến nước.
Chàng quay sang Đỗ Dự:
— Bác Đỗ Dự, tôi sẽ rèn lại thanh đao cho ngài thật hoàn hảo. Đổi lại, tôi muốn Bố Hải Khẩu cung cấp cho chúng tôi năm thuyền muối hột và hai mươi bao quặng sắt tốt từ vùng mỏ ven biển để trang bị cho dân làng Đại Hoàng.
Đỗ Dự vui mừng bắt chặt tay Khôi:
— Thành giao! Bố Hải Khẩu chúng tôi luôn coi lò rèn Đại Hoàng là bằng hữu sinh tử! Tôi sẽ cho người chở muối và quặng sắt tới bến ngay đêm nay! Dân vùng biển chúng tôi luôn trọng chữ tín hơn vàng bạc!
Mộc nói thêm:
— Em sẽ vẽ lại toàn bộ sơ đồ các khúc sông cạn từ bến Đại Hoàng ra cửa Đáy để các bác lái thuyền muối tránh bị mắc cạn.
Lãng cũng hào hứng:
— Xóm Kênh Giao chúng tao sẽ cử thêm mười trai tráng giỏi lặn sông ra tuần tra mép nước bảo vệ đoàn thuyền buôn.
Đêm ấy, sau khi Đỗ Dự nghỉ lại trạm đò bên bến sông, Khôi bắt tay vào việc rèn lại thanh đao phôi dở dang của mình.
Tiếng búa đe vang lên cành cạch đều đặn giữa đêm đông thanh vắng. Chàng dùng loại tro than gỗ nghiến lâu năm tôi thanh thép ba lần trong nước sông Hoàng Long lúc con nước triều bắt đầu rút ra biển. Mỗi lần thanh thép nóng đỏ nhúng vào nước lạnh, tiếng xèo xèo vang lên bốc ra làn khói trắng mang theo vị nồng của khoáng chất phù sa.
Sau khi tôi thép hoàn tất, Khôi dùng mũi đục bằng đá ngọc bích khắc lên chuôi đao một vạch khía sâu hoắm đầu tiên.
Đó là vạch khía tượng trưng cho lời thề giữ bến và món nợ máu của lão Đoan.
Chàng cầm thanh đao phôi bước ra sân rèn, đứng trước một súc gỗ lim già dày ba gang tay kê sát bờ đê. Chàng hít một hơi thật sâu, đôi chân bấm chặt xuống nền đất nện, vận uy lực từ eo hông truyền thẳng qua cánh tay phải.
"Vút!"
Thanh đao vung lên tạo thành một vệt sáng bạc xé toạc màn đêm.
"Phập!"
Lưỡi đao chém ngọt lịm xuyên qua súc gỗ lim già mà không hề phát ra một tiếng động chát chúa nào. Súc gỗ nứt đôi rơi xuống đất phẳng lì như mặt nước phẳng lặng, còn lưỡi đao trên tay Khôi vẫn sáng loáng không hề có một vết mẻ nhỏ.
Khôi khẽ thở phào, tra đao vào vỏ da cá nhám. Chàng ngước mắt nhìn lên bầu trời đêm đầy sao, lòng thầm nhủ:
— Cha ơi, thanh đao của con đã thành hình một phần. Con sẽ tiếp tục rèn nó qua phong ba bão táp của non sông. Con sẽ không phụ lòng cha đã dạy dỗ.
Chàng quay nhìn sang gian nhà thờ cha nuôi, nơi nén hương trầm vẫn còn đỏ le lói trong đêm tối.
Nhưng đúng lúc chàng vừa quay lưng toan bước vào nhà thì từ phía bến đò Hoàng Long, tiếng tù và báo động dồn dập vang lên xé toạc màn đêm.
"Rúc! Rúc! Rúc!"
Tiếng kêu cứu thất thanh của Long Nhi truyền qua mặt nước gió buốt:
— Cướp bến! Có thuyền dầu trẩu phóng hỏa! Khôi ơi cứu bến đò với! Lũ giặc đang đổ dầu đốt thuyền muối! Cứu đoàn thuyền với!