Chương 003: Sóng Ngầm Sông Đáy
Tiếng mũi tên đồng cắm phập vào thân cột gỗ lim vẫn còn rung bần bật, làm rơi rụng những mảng bồ hóng bám lâu năm trên mái rạ lò rèn Đại Hoàng.
Lưu Thiếu Khôi lập tức rút thanh đoản đao chưa mài sắc bên hông, thân hình nghiêng xéo ba phần né tránh làn gió độc rồi lao vụt ra ngoài bờ rào dâm bụt.
Ánh trăng non mờ ảo soi rọi bóng chàng lướt nhanh trên mặt đê như một con rái cá săn mồi giữa dòng nước xiết. Nhưng ngoài rặng chuối sau vườn chỉ có gió sông Hoàng Long thổi xào xạc qua những tàu lá rách tả tơi.
Kẻ bắn nỏ đã kịp lặn sâu vào bóng tối mịt mùng của cánh đồng ngô bãi bồi ven chân sóng.
Khôi quay trở lại gian lò rèn, đưa tay gài chặt then cửa liếp bằng gỗ nghiến dày dặn. Chàng bước tới bên cột gỗ lim, đưa hai ngón tay kẹp chặt đuôi tên giật mạnh ra ngoài. Thớ gỗ lim già kêu răng rắc khi ngạnh đồng rời khỏi thân cột.
Lão Đoan đón lấy mũi tên thứ hai từ tay Khôi, ngón tay run rẩy sờ nắn phần rãnh ba cạnh sắc lẹm. Mũi tên này giống hệt mũi tên đoạt được ở bến đò hồi nửa đêm, trên thân cũng khắc một ký hiệu ngôi sao ba cánh tinh xảo.
Ở phần ngạnh tên có thoa một lớp sáp đen mỏng bốc lên mùi ngai ngái nồng nặc của thảo mộc rừng sâu.
Lão Đoan đưa mũi tên lên gần ngọn lửa bễ, ngửi nhẹ chất sáp đen rồi thở dài một tiếng nặng trĩu:
— Nhựa cây củ chi tẩm trên mũi đồng... Đây chính là thủ đoạn độc hiểm của đội nỏ ngự vệ triều đình Cổ Loa thời trước. Dương Tam Kha sau khi cướp ngôi Ngô Vương đã thanh trừng toàn bộ tướng lĩnh trung thành, chia cắt đội nỏ đồng giao cho tay chân thân tín quản lý.
Việc thứ này xuất hiện ở đất Đại Hoàng chứng tỏ triều đình đang muốn thủ tiêu toàn bộ những thợ rèn cũ từng nắm giữ bí mật đúc nỏ của Tiên vương.
Khôi ngồi xuống chiếc đòn gỗ mít kê cạnh bễ than, ánh mắt sáng rực nhìn ngọn lửa le lói đang tỏa hơi nóng âm ỉ:
— Năm xưa cha từng làm đốc công lò đúc vũ khí ở Cổ Loa sao cha?
Lão Đoan khẽ gật đầu, đưa mắt nhìn lên những thanh phôi sắt xếp ngay ngắn bên vách đất:
— Ba mươi năm trước, ta cùng hàng trăm thợ rèn giỏi nhất đất Giao Châu theo Tiên vương rèn hàng vạn mũi tên đồng, bịt sắt cọc lim cắm xuống lòng sông Bạch Đằng phá tan quân giặc Nam Hán.
Sau khi định đô ở Cổ Loa, ta chán cảnh cung đình tranh quyền đoạt vị nên trốn về vùng Đại Hoàng này mở lò rèn cuốc rèn đao cho dân cày.
Cứ ngỡ tro than lò rèn quê mùa sẽ che giấu được vết tích cũ, ai ngờ giông bão thời loạn vẫn tìm tới tận cửa bến sông này.
Trời vừa hửng sáng, sương mù trên sông Hoàng Long chưa kịp tan hết thì ngoài ngõ bỗng vang lên tiếng bước chân vội vã giẫm trên sỏi đá, kèm theo tiếng khua lộc cộc của một chiếc gậy gỗ gõ nhịp ba báo hiệu.
Cánh cửa liếp bật mở. Bước vào là Trần Lãng, chàng trai hai mươi bốn tuổi người xóm đò Kênh Giao. Lãng có vóc người vạm vỡ như một cây lim rừng, ngực nở nang, trên vai chéo chiếc khăn vải thô để lộ vết sẹo nhỏ do lửa than cháy xém từ thuở nhỏ khi cùng Khôi học nghề rèn bên đe sắt.
Bên hông y giắt một cặp song đao ngắn bọc vỏ gỗ mun láng bóng.
Đi sau lưng Lãng là Bùi Mộc, cậu thiếu niên mười bảy tuổi chân phải hơi khập khiễng vì tai nạn sập sàn thuyền thuở nhỏ, nhưng đôi mắt cậu ta sáng ngời lanh lợi, tay cầm chiếc gậy gỗ vừa đi vừa gõ nhịp xuống đất.
Lãng bước xốc vào gian lò rèn, mặt mày nghiêm nghị cất tiếng:
— Lão Đoan, Khôi! Nguy biến đến nơi rồi. Đêm qua Mã Biêu bị Khôi bẻ khớp tay, hắn không về bến Đỗ Động mà chạy thẳng tới trại đò Vạn Điểm tụ tập với đám thảo khấu sông Đáy.
Thằng Mộc vừa từ trạm tin dưới bến về báo, bọn chúng đã gom được hơn năm mươi tay đao hung hãn, chuẩn bị nửa đêm nay sẽ đổ bộ cướp sạch sắt thép và thiêu rụi cái lò rèn này để trừ hậu họa.
Mộc liền chìa ra một cuộn giấy bản thô ráp trên đó có vẽ chi tiết sơ đồ bến sông và những chiếc thuyền nan đang tập kết ở bãi ngô:
— Cháu tận mắt thấy Mã Biêu ngồi trên thuyền của tên cai đò Sáu Trĩ. Bọn chúng mang theo cả chục hũ dầu trẩu và nỏ ngắn tẩm độc. Tên áo xám bắn lén mũi tên đêm qua cũng đang ở trên chiếc thuyền chỉ huy mui kín. Hắn ngồi lau ống nỏ suốt từ canh tư đến giờ.
Lãng bước tới gần đe sắt, nắm chặt cán song đao bên hông, giọng nói đầy vẻ lo âu:
— Lão Đoan, địch đông thế mạnh, lò rèn này trơ trọi ven đê rất khó phòng thủ. Hay là dỡ bễ than, mang theo số thép tốt chuyển sang bờ Kênh Giao bên làng cháu lánh tạm vài hôm? Dân xóm đò bên đó có bảy nóc nhà thân thuộc, sẵn sàng cưu mang lão và Khôi để tránh ngọn giáo sắc của lũ giặc bến.
Lão Đoan chậm rãi đứng dậy, đưa bàn tay sần sùi vuốt ve chiếc đe sắt đã gắn bó với lão nửa đời người. Đôi mắt lão ánh lên vẻ quật cường của người thợ già:
— Lò rèn là gốc rễ của người thợ rèn, đất Đại Hoàng là nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên. Ngọn lửa trong lòng bễ này ba mươi năm qua chưa từng tắt một ngày, ta thà chết bên đe sắt chứ tuyệt đối không bỏ chạy để phường cướp bến giẫm đạp lên danh dự thợ rèn.
Đao sắt Đại Hoàng rèn ra để giữ đất, nay giặc tới trước ngõ mà chạy trốn thì còn mặt mũi nào nhìn mặt bà con bến đò.
Khôi bước lên đứng cạnh cha nuôi, thân hình vững chãi như bàn thạch, ánh mắt kiên định nhìn Lãng và Mộc:
— Cha nói rất đúng. Nếu chúng ta bỏ chạy hôm nay, ngày mai bọn chúng sẽ san phẳng cả bến đò của cô Long Nhi và cướp sạch thóc lúa xóm Kênh Giao. Chúng muốn lấy đao sắt Đại Hoàng để làm bàn đạp tranh hùng, chúng ta sẽ cho chúng nếm thử đao sắt Đại Hoàng sắc bén và cứng cỏi đến nhường nào.
Lãng nhìn Khôi, trong mắt lóe lên ngọn lửa hào khí của tuổi trẻ bến sông. Y vỗ mạnh vào vai Khôi cười vang một tiếng sảng khoái:
— Tốt lắm! Đã là anh em cùng lớn lên bên bến nước, ăn chung củ sắn hạt ngô, tao không thể để mày một mình chống giặc. Tao sẽ ở lại đây cùng sống chết với lò rèn! Cặp song đao này của tao cũng đang khát máu lũ thảo khấu đục nước béo cò.
Mộc cũng giơ cao chiếc gậy gỗ nghiến, giọng đanh lại đầy quả quyết:
— Em què chân không cầm đao xông xáo được, nhưng em biết rõ từng luồng nước ngầm, từng gốc tre quanh bãi bồi. Em sẽ trèo lên ngọn cây gạo đầu bến canh gác, hễ thuyền giặc cập bờ là dùng thanh tre đập vào mõ báo tin cho các anh chuẩn bị nghênh chiến!
Dưới sự chỉ đạo của lão Đoan, bốn người lập tức bắt tay vào việc chuẩn bị trận địa phòng thủ nghiêm ngặt trong gian lò rèn và khuôn viên bờ đê.
Khôi cùng Lãng vót hàng trăm cọc tre đực nhọn hoắt, cắm xiên dưới rãnh nước quanh hàng rào dâm bụt ven đường đê. Khôi còn gom toàn bộ số vảy sắt xám và mạt than trơn trượt rải kín khắp mặt sân đất nện trước miệng lò — nơi đây sẽ là cái bẫy hiểm hóc khiến bất kỳ kẻ nào hùng hổ xông vào cũng phải trượt chân mất đà ngã nhào.
Lão Đoan nhóm lửa bễ bốc cao ngùn ngụt, đun sôi ba vạc nước tôi đao chứa đầy tro trấu mục và nước muối đặc quánh. Đây là thứ nước tôi gia truyền vừa nóng bỏng vừa có thể làm cay xè mắt địch nếu hắt trúng mặt.
Lãng dùng song đao chặt những cành tre ngâm dẻo dai làm thành các thanh chắn ngang cửa ra vào, tạo thành thế trận hẹp hình chữ chi, buộc kẻ địch chỉ có thể tràn vào từng người một, triệt tiêu hoàn toàn ưu thế đông người của chúng.
Đến chập tối, mọi sự chuẩn bị đã hoàn tất đâu vào đấy. Long Nhi từ bến đò chèo thuyền nan sang, mang theo một nồi cơm gạo đỏ thơm phức bốc khói ngào ngạt và một đĩa cá bống kho tiêu ớt cay nồng đậm đà. Năm người ngồi quây quần bên bếp than hồng chia nhau từng bát cơm nóng hổi.
Vị ngọt bùi của hạt gạo đồng chiêm hòa cùng vị cay mặn của cá bống sông Hoàng Long khiến lòng người thêm ấm áp giữa đêm đông lạnh giá.
Long Nhi nhìn Khôi, ánh mắt nàng chan chứa vẻ lo lắng nhưng không kém phần cương nghị:
— Tôi đã dặn dò dân chài dưới bến ém sẵn hai chiếc thuyền nan ở lạch nước phía sau rặng ổi. Nếu tình thế nguy cấp, anh và lão Đoan hãy rút theo đường nước, tôi sẽ đón mọi người sang bờ an toàn bên Thung Lau.
Khôi mỉm cười, ngón tay miết nhẹ lên chuôi đoản đao chưa mài sắc bên hông:
— Cảm ơn cô Long Nhi. Nhưng đêm nay, lò rèn này sẽ là nơi chôn vùi dã tâm của lũ giặc cướp bến sông.
Canh hai trôi qua trong sự im lặng căng thẳng đến nghẹt thở. Màn đêm đen kịt như mực bao trùm khắp dòng sông Hoàng Long cuộn sóng. Gió bấc bắt đầu rít lên từng hồi dữ dội qua những rặng tre già, mang theo những hạt mưa rào mùa đông quất ràn rạt vào mái rạ lò rèn.
Mùi đất ẩm quyện với mùi than củi tạo nên một không khí ngột ngạt lạ lùng.
Bên trong gian nhà đất, ngọn đèn dầu đã được thổi tắt từ lâu, chỉ còn lại những đốm than hồng lập lòe trong lòng bễ tỏa ra hơi nóng âm ỉ le lói.
Khôi đứng nép sau cánh cửa liếp, tay nắm chặt chuôi đoản đao chưa mài sắc, từng thớ thịt trên cánh tay căng cứng, ngón tay miết chặt sống đao sẵn sàng nghênh địch. Lãng ngồi xổm ở góc tường đối diện, hai tay cầm chắc cặp song đao ngắn bọc vỏ gỗ mun, hơi thở đều đặn và êm ru như loài mãnh hổ rình mồi trong bụi rậm.
Lão Đoan ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh vạc nước tôi sôi sùng sục, tay cầm chiếc kìm sắt to bản sẵn sàng nghênh địch bằng kinh nghiệm ba mươi năm luyện thép.
Giữa màn mưa gió, từ ngọn cây gạo đầu bến cách lò rèn ba trăm bước chân, tiếng đập tre báo động dồn dập vang lên.
"Cắc! Cắc! Cắc!"
Âm thanh thanh tre gõ vào ống bương khô khốc vang lên xé toạc màn đêm tĩnh mịch, báo hiệu thuyền giặc đã cập bãi bồi ven sông.
Ngay sau đó, tiếng nước sông bì bõm cùng tiếng thở dốc của hàng chục bóng người lội qua bãi sậy bắt đầu truyền đến tai Khôi. Mùi dầu trẩu nồng nặc và mùi khói đuốc bốc lên hăng hắc theo làn gió mưa xộc thẳng vào khứu giác chàng.
Dưới ánh chớp rạch ngang bầu trời đêm giông bão, Khôi nhìn thấy hơn năm mươi bóng đen mặc áo chẽn nẹp da bò, tay lăm lăm đại đao và giáo ngắn đang từ bờ đê ùa xuống sân lò rèn. Dẫn đầu đám sát thủ là Mã Biêu, cánh tay phải của hắn đã được nẹp chặt bằng thanh gỗ và băng vải trắng, tay trái cầm một cây đoản côn bịt sắt sáng loáng.
Đi cạnh Mã Biêu là một gã đàn ông dong dỏng cao, khoác áo tơi màu xám tro, trên tay cầm cây nỏ đồng ngắn ba lẫy đen tuyền, đôi mắt hắn sắc lạnh như mắt loài chim ưng đêm.
Mã Biêu vung cây đoản côn chỉ thẳng vào cửa lò rèn, cất giọng gằn gọng đầy sát khí:
— Giết sạch lũ thợ rèn Đại Hoàng! Cướp hết sắt thép và đốt trụi cái lò này cho ta!