Hơn tám trăm năm sau khi Sinh Mệnh Ly Cung được truyền ra, tiên đạo của Thái Huyền Giới cuối cùng cũng dần hiện ra dấu hiệu phục hưng.
Sự phục hưng ấy không chỉ nằm trong những đại điển của sáu đại tông môn. Nó bắt đầu từ những chiếu thư thu đồ được truyền khắp Đông Thổ, Nam Hoang và Bắc Hải.
Trong các phường thị từng vắng vẻ rất lâu, bảng chiêu đồ của sáu đại tông môn lại được dựng lên. Không còn hỏi xuất thân. Không còn hỏi tư chất. Cũng không bàn phẩm tính như những thời đại cũ.
Không hỏi tư chất, vì tư chất đã không do trời định.
Cũng không hỏi xuất thân vì chúng ta sẽ thành ''người nhà'', chảy chung một loại “huyết mạch”.
Còn phẩm tính lại càng không đáng để tâm.
Dù sao, một người hôm nay có tính tình ra sao, trăm năm sau hắn còn giữ lại được bao nhiêu tính tình ban đầu, vốn đã là chuyện không ai thật sự để tâm.
Vì vậy trong những năm ấy, đại điển thu đồ của sáu đại tông môn trở thành cảnh tượng hiếm thấy kể từ sau khi thiên đạo vong.
Từng đoàn tu sĩ tầng dưới, tán tu, hậu nhân thế gia suy tàn, thậm chí cả phàm nhân không chút tư chất, từ khắp nơi đổ về sơn môn của các đại tông. Bọn họ không đến để chứng minh mình là thiên tài, mà đến để lựa chọn xem bản thân muốn trở thành vị thiên tài nào.
Trên những quảng trường rộng lớn trước sơn môn, các trưởng lão của sáu đại tông môn lần lượt mở pháp đàn, giảng về những vị pháp chủ từng sáng tạo ra các thiên công pháp.
Đúng vậy. Chính là giảng về người sáng tạo pháp, không phải là giảng về pháp môn.
Có người từng lấy một kiếm chém ngang Bắc Hải, khiến ba mươi sáu tòa hải đảo chìm xuống đáy biển.
Có người khi còn ở Nguyên Anh đã nghịch phạt Hóa Thần, về sau bước vào Hợp Đạo, một mình trấn áp một vùng Nam Hoang hơn tám trăm năm.
Cũng có người xuất thân tầm thường, không tông môn, không huyết mạch, không tiên duyên, nhưng chỉ dùng ngộ tính mà từng bước đi đến đỉnh cao, cuối cùng để lại truyền thừa đủ khiến hậu nhân ngàn đời cúi đầu.
Những trưởng lão ấy nói rất chậm, cũng rất rõ ràng.
Bọn họ không che giấu việc những pháp môn ấy đều mang theo ô nhiễm.
Nhưng bọn họ cũng không cần che giấu.
Bởi điều mà những người đứng dưới pháp đàn muốn nghe vốn không phải nguy hiểm, mà là khả năng.
Thời đại này là vậy đấy. Không cần phải đuổi theo bóng lưng cường giả, cũng chẳng cần mệt tâm tìm cách vượt qua họ. Chúng ta đơn giản là.... trở thành.... chính họ.
Đối với những kẻ tư chất yếu kém mà khao khát một đời oanh oanh liệt liệt thì đây nào phải là cái gì nguy hiểm.
Đây là tấm vé nghịch thiên cải mệnh.
Là cơ hội để một người vốn không có tư cách bước lên bàn cờ, mượn lấy bóng dáng của cường giả đời trước mà chen vào thời đại mới.
Về phần đồng hóa sau đó sẽ đi đến đâu, bản ngã rốt cuộc còn lại bao nhiêu, không phải không có người nghĩ tới. Nhưng điều này quan trọng sao? Đây còn không phải có Sinh Mệnh Ly Cung sao? Luyện Hư thì sao, chỉ cần có bậc này tài năng, có bậc này tư chất, dù là Độ Kiếp, Hợp Đạo cũng không phải là không thể thử tranh giành một phen. Đây chính là những gì mà các đại tông môn quán thâu vào đầu chúng sinh.
Cũng trở thành lời dụ dỗ dịu dàng nhất mà thời đại này dành cho những kẻ không cam lòng làm phàm nhân.
Trong lúc tiên đạo mượn sức nóng của Sinh Mệnh Ly Cung mà một lần nữa mở rộng sơn môn, Tây Mạc lại vẫn chìm trong bóng tối dài đằng đẵng sau Đại Kiếp của Võ Đạo.
Trận đại kiếp năm đó không chỉ khiến vô số võ giả Ngưng Tinh mệnh đồ vỡ nát, khí huyết suy kiệt, mà còn gần như đánh gãy sống lưng của rất nhiều đạo thống võ đạo. Những mệnh đồ từng được các môn phái xem là căn cơ lập phái, những quỹ đạo tinh thần được tổ sư đời trước dùng cả đời để quan sát và hoàn thiện, chỉ sau một đêm trở thành những đống phế phẩm vô dụng.
Rất nhiều thế lực võ đạo vì vậy mà diệt vong. Rất nhiều võ giả đi lại trong đêm đen quan sát bầu trời đầy sao, cầm theo đống giấy nay đã vô dụng, từng bước sửa lại cố gắng vớt vát lại chút truyền thừa.
Nhưng tinh không mênh mông đến mức nào?
Một môn phái, một gia tộc, một vài vị võ giả già yếu còn sống sót sau đại kiếp, làm sao có thể dựa vào chút sức lực ấy mà lần nữa dựng lại toàn bộ truyền thừa?
Huống hồ lúc ấy, tiên đạo lại đang phục hưng.
Những người trẻ tuổi có tư chất, có dã tâm, có khát vọng bước lên siêu phàm, phần lớn đều quay đầu nhìn về Đông Thổ, Nam Hoang và Bắc Hải. So với một Võ Đạo ra đời không lâu đã sớm suy vị, tiền đồ mờ mịt, tiên đạo lúc này rõ ràng là một con đường sáng hơn.
Tây Mạc vì vậy mà rơi vào tình cảnh thiếu máu mới.
Các môn phái từng đứng trên đỉnh cao võ đạo lần đầu tiên cảm nhận được cảm giác bị thời đại bỏ lại phía sau. Nếu cứ ôm khư khư lấy truyền thừa, đóng cửa tự mình chắp vá, vậy có lẽ không cần tiên đạo ra tay, Võ Đạo cũng sẽ tự mục nát trong cát vàng.
Cũng chính trong hoàn cảnh ấy, những môn phái lớn của Tây Mạc cuối cùng buộc phải ngồi xuống cùng nhau.
Rất nhiều người trong số đó từng là tử địch.
Có môn phái từng vì tranh một ngọn núi mà chém giết nhau suốt mấy trăm năm.
Có gia tộc từng vì một phần mệnh đồ thất lạc mà đào mộ tổ tiên của đối phương.
Cũng có những võ giả ngồi trong cùng một điện, trên người vẫn còn vết thương do người đối diện để lại từ chục năm trước.
Nếu ở bất kỳ thời đại nào trước đó, bọn họ đều không thể thật sự tin tưởng lẫn nhau.
Nhưng thời đại này đã không còn cho bọn họ quyền lựa chọn.
Thiên Tượng Minh vì vậy mà được lập ra.
Ngày lập minh, các tông chủ, gia chủ và võ giả đứng đầu Tây Mạc cùng tụ tập dưới một đài đá giữa hoang mạc. Trên đài không đặt bài vị tổ sư của bất kỳ môn phái nào, cũng không đặt pháp khí trấn tông của bất kỳ nhà nào. Thứ được đặt ở đó chỉ là một món Kỳ Vật.
Khi nó được đặt xuống, toàn bộ đại điện tạm dựng giữa hoang mạc liền yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng cát lăn trên mặt đất.
Đó là một khối đá xám nham nhở, phảng phất dấu vết bào mòn của vô lượng năm tháng. Chính giữa khối đá khắc một hình trái tim thô kệch, vốn từng là minh chứng cho lời thề ước lứa đôi của một ngôi làng phàm tục xa xưa. Nhìn qua, nó có vẻ lạc lõng và nực cười giữa sát khí của hàng vạn võ giả. Thế nhưng, ở đây không một ai dám buông lời khinh mạn.
Bởi vì quy tắc của Kỳ Vật này vô cùng nguyên thủy và tuyệt đối. Người muốn gia nhập phải đích thân bước lên, cùng với hai đến ba vị cao tầng luân phiên túc trực, đồng loạt đặt tay lên khối đá xám và đọc rõ lời hứa hẹn đã được chuẩn bị sẵn. Khi lời thệ buông xuống, từ trong phiến đá sẽ vươn ra một sợi chỉ đỏ vô hình, xuyên thấu và đan kết linh hồn của tất cả những người đang chạm tay vào Kỳ Vật.
Dưới số lượng võ giả khổng lồ của Tây Mạc, sự kiện lập minh này đã kéo dài ròng rã gần một tháng trời không ngừng nghỉ. Suốt một tháng đó, các cao tầng hao tổn không biết bao nhiêu tâm lực, lần lượt cùng từng nhóm người lập lời thề, tự tay đan kết hàng vạn sợi chỉ liên kết.
Cho đến khi nhóm cuối cùng bước lên đài đá, cũng là toàn bộ những cao tầng cốt cán nhất của liên minh. Họ cùng nhau đặt tay lên Kỳ Vật, dõng dạc thệ ước trước sự chứng kiến và dõi theo của toàn bộ thành viên dưới đài. Khoảnh khắc ấy, mạng lưới chỉ đỏ bao trùm toàn bộ Tây Mạc chính thức khép kín.
Về sau, bất kỳ kẻ nào muốn gia nhập liên minh, đều bắt buộc phải tiến hành thệ ước trước Kỳ Vật với sự có mặt và cùng đặt tay của ít nhất hai vị cao tầng. Bằng không, kẻ đó vĩnh viễn không được tính là người trong minh hội.
Việc vi phạm thệ ước vốn dĩ không giáng xuống bất kỳ tổn hại nào lên thể xác. Thế nhưng, khoảnh khắc một ý niệm phản bội thật sự chuyển thành hành động, sợi chỉ đỏ trong linh hồn hắn liền rung lên, chính ý niệm phản bội ấy sẽ lập tức dội thẳng vào nhận thức của những người đang chia sẻ liên kết trực tiếp với người đó. Từ những điểm chạm đầu tiên này, thông qua mạng lưới tâm linh tương thông khổng lồ, sự thật sẽ nhanh chóng lan tràn ra toàn bộ minh hội như một gợn sóng lan trên mặt nước.
Không cần đến Kỳ Vật phán xét, bất kể kẻ phản đồ có lẩn trốn ở chân trời góc bể nào, qua sợi chỉ liên kết họ vẫn có thể tìm được kẻ đó. Đến lúc đó, cái chết có lẽ mới thật sự là giải thoát.
Tuy sự minh bạch đến mức cực đoan này khiến các võ giả đánh mất sự riêng tư, phải cẩn thận từng lời nói, từng cử chỉ của bản thân, nhưng cũng chính mạng lưới giao thức tàn nhẫn này lại hóa thành nền móng vững chắc nhất. Khi mọi dối trá đều không còn chỗ che giấu, họ mới có thể trao đi sự tín nhiệm tuyệt đối, an tâm tựa lưng vào nhau mà cùng vươn lên.
Từ ngày đó trở đi, các môn phái Tây Mạc dẫu vẫn giữ lại tên tuổi và truyền thừa riêng, nhưng những vách ngăn phòng bị vô hình giữa họ đã hoàn toàn sụp đổ.
Những quỹ đạo tinh không mới bắt đầu được công khai đối chiếu.
Những mệnh đồ tưởng chừng vô phương cứu vãn nay được mang ra để vạn người cùng chung tay tu bổ.
Thiên tài địa bảo vốn bị từng nhà ôm khư khư cất giấu nay được gom trọn lại, dốc toàn lực trải đường cho những cường giả có hy vọng xông phá Tiên Thiên.
Những hạt giống trẻ tuổi xuất sắc nhất không còn bị giam lỏng trong sơn môn chật hẹp, mà được tự do hành tẩu, luận bàn cùng khắp các võ phái khác.
Thiên Tượng Minh ra đời không thể lập tức vực dậy một Tây Mạc đang trên đà suy vi, cũng chẳng thể một sớm một chiều xóa sạch những ân oán đã chôn rễ qua vô số năm tháng.
Nhưng ít nhất, từ khoảnh khắc ấy trở đi, khi ngẩng đầu đối diện với một Tiên Đạo đang rực rỡ phục hưng và một tinh không đầy rẫy biến số...
Võ Đạo rốt cuộc không còn là những bóng lưng cô độc, mòn mỏi mò mẫm trong đêm đen vô tận.
Một bên hưng thịnh rực rỡ nhờ Sinh Mệnh Ly Cung.
Một bên kiên cường trong đau thương, lặng lẽ tìm lại quỹ đạo đã mất.
Hai đạo thống cùng tồn tại trên mảnh đất Thái Huyền Giới. Vận mệnh của chúng hoàn toàn trái ngược, nhưng cả hai đều chưa đến hồi kết.