Đầu hạ ở thành Thanh Hà tìm đến nhanh hơn dự tính của Nam khá nhiều. Mới hồi cuối tháng trước, gió sớm thổi qua bờ tường đá xanh vẫn còn đủ mát lành để hắn thảnh thơi ngả lưng trên chiếc ghế mây đặt dưới mái hiên mà nhấp từng ngụm trà nóng. Vậy mà vừa bước sang đầu tháng này, mặt trời mới nhích qua khỏi giờ Thìn đã bắt đầu đổ những vạt nắng vàng rực và hầm hập hơi nóng trượt sâu vào tận thềm gạch gian chính.
Để tránh cái oi bức dội xuống từ mái ngói vào buổi trưa, Ciel đã chủ động chuyển phần lớn các công đoạn hàn cắt kim loại và gia công cơ khí nặng trong xưởng sang khung giờ sáng sớm. Mina cũng mở rương gỗ trong kho vải, lấy ra mấy tấm rèm gai dệt thưa cất kỹ từ cuối thu năm ngoái để đem mắc dọc hành lang hướng tây nhằm cản bớt sức nóng hầm hập.
Chocobo gần như từ bỏ hẳn thói quen đứng phơi nắng rỉa lông giữa khoảng sân rộng sau giờ ngọ, cứ ăn trưa xong là lại lạch bạch chạy ra nằm duỗi dài dưới bóng râm mát rượi của tán cây hòe cổ thụ sát vách nhà kho. Ngay cả cậu nhóc A Thạch vốn dẻo dai là thế mà mỗi bận dắt con ngựa Đại Hoàng chạy việc ngoài phố về tới cổng viện cũng phải tạt ngay vào hiên bếp, bưng gáo múc liền một bát nước vối để nguội uống cạn một hơi rồi mới kịp thở dốc báo cáo xem mình vừa đi những đâu.
Nam cũng chẳng chịu ngồi yên chịu trận trước sức nóng đầu mùa nên cứ mỗi khắc trôi qua, hắn lại lẳng lặng nắm hai tay vịn kéo chiếc ghế mây dịch lùi từ mép hiên vào sâu thêm một đoạn sát chân cột gỗ lim. Mina vừa buộc xong mối dây treo tấm rèm che nắng ở đầu hồi, lúc bước xuống sân thấy cảnh đó liền đứng chống nạnh nhìn hắn từ đầu đến chân.
“Anh đang tính chuyển nhà vào trong cột luôn đấy à?”
“Tôi đang dịch chuyển vị trí tác chiến theo địa hình thực tế.”
Nam điềm nhiên đặt chén trà vừa vơi một nửa xuống mặt đôn gỗ, nheo mắt nghiêm túc quan sát đường cắt của bóng nắng trên nền gạch rồi nói tiếp:
“Cứ đà này thì chưa tới chính ngọ, vạt bóng râm của mái hiên sẽ còn lùi sâu vào trong thêm cả thước nữa.”
“Thế thì anh đứng dậy sang bên xưởng phụ Ciel khiêng hộ cái thùng linh kiện sắt vào góc trong đi, bên dưới mái xưởng mát lắm.”
Nghe tới chuyện khuân vác nặng nhọc giữa buổi sáng oi nồng, Nam lập tức thả người nằm bẹp xuống mặt ghế mây, kéo vạt áo che ngang trán rồi đáp gọn lỏn:
“Tôi phải nằm cố thủ ở đây để canh chừng đường rút của bóng râm cho cả viện.”
Mina bật cười thành tiếng trước lý sự cùn của gã chủ viện lười biếng, cũng chẳng buồn đôi co thêm với hắn làm gì cho tốn hơi. Đúng lúc cô định quay vào gian bếp lấy bình nước mát thì từ phía bàn trực ngoài gian cổng, Hứa An đã cầm cuốn sổ bìa dày bước ra hiên, tay kia giơ cây bút bi mực đen lên vẫy gọi:
“Nam huynh, huynh qua bên bàn cổng rà lại bảng tổng kết các khoản thu của tháng trước giúp đệ một lát.”
Nam vẫn nhắm hờ hai mắt dưới bóng râm của mái ngói, lười nhác hỏi vọng sang:
“Để sang sáng mai lúc trời mát xem luôn một thể được không đệ? Giữa trưa nắng gắt thế này nhìn vào mấy dãy con số dễ hoa mắt lắm.”
Hứa An dừng bước ngay dưới bậc thềm đá, giọng đều đặn nhưng không chừa đường thoái thác:
“Mấy vị khách thương bên phố Nam đã thanh toán dứt điểm tiền công từ chiều hôm qua rồi. Trong sổ còn đúng hai khoản tạm ứng trước đó do chính tay huynh ký nhận mà chưa đối chiếu lại chứng từ gốc, nếu cứ dây dưa chờ sang ngày mai thì đệ không tài nào khóa sổ tháng cũ để lập bảng cân đối mới được.”
Nghe nhắc tới chuyện tiền bạc đã thu về tận két mà chưa khớp giấy tờ, Nam lập tức chống tay ngồi bật dậy khỏi chiếc ghế mây. Hắn vốn ngại cảnh phải ngồi cộng sổ tính tiền giữa trưa hè oi ả, nhưng lại càng ghét chuyện một khoản bạc trắng đã nằm trong tay mình mà cứ phải treo lơ lửng ngoài danh mục thu chi chỉ vì thiếu một nét bút xác nhận.
“Đưa cuốn sổ đây cho huynh.”
Nam xỏ dép bước qua khoảng sân gạch sang phía bàn làm việc nơi đầu hồi gian cổng, chọn chỗ có ánh sáng tán xạ vừa đủ rõ mà không bị nắng chiếu chói mắt để mở cuốn sổ cái ra xem. Trên vách gỗ cạnh bàn trực, tờ lịch giấy của tháng trước đã được Hứa An tháo xuống gấp gọn cất vào ngăn kéo lưu trữ.
Tờ lịch mới tinh của tháng đầu hạ vừa được ghim lên bảng gỗ chưa đầy mười ngày, vậy mà trên các ô vuông kẻ sẵn đã thấy nét bút bi mực đen thanh mảnh ghi chú khá nhiều lịch trình công việc. Nhánh phía trên có lịch huấn luyện và tuần tra ngoại vi của Ronan, ngay bên dưới là một chuyến giao nhận giấy tờ đường dài mà A Thạch phải cưỡi ngựa Đại Hoàng đi sang trấn lân cận vào giữa tuần. Ở góc phải có đánh dấu hai ngày cố định trong tuần để Shiroma sang Lương y quán ở khu Đông thị phụ Lương đại phu phân loại thảo dược, kèm theo một buổi chiều Ciel hẹn với trận pháp sư Ngô Thành sang kiểm tra lại cụm trận văn tản nhiệt dưới kho lạnh.
Riêng phần tên của Harpe trong nửa đầu tháng này vẫn được để trống các chuyến đi xa, bởi vị chỉ huy tóc bạc còn đang chờ những tập báo cáo tổng hợp từ chỗ trưởng lão Tạ Vân của Lạc Hà tông gửi xuống về các dấu hiệu dị thường ở dãy núi phía bắc. Hứa An không rút tờ lịch công tác xuống mà lật sẵn trang tổng kết ngân quỹ trong cuốn sổ thu chi, đẩy thẳng đến trước mặt Nam.
Nam cúi đầu nhìn lướt qua các cột số liệu được kẻ thẳng tắp bằng thước gỗ, ánh mắt dừng ngay ở dòng tổng thu nằm dưới cùng của trang giấy.
“Tháng vừa rồi viện mình thu về khá thế này cơ à?”
Hứa An bấm nhẹ đầu bút bi, gật đầu xác nhận:
“Vâng, tổng thu thực tế cao hơn tháng trước gần hai thành rưỡi đấy huynh.”
“Là nhờ khoản tiền thù lao bên Lạc Hà tông thanh toán cho chuyến khảo sát tuyến núi phía bắc dạo nọ hả?”
“Không phải đâu huynh, chuyến đi thực địa phía bắc đợt trước chủ yếu là phối hợp kiểm tra hiện trường nên khoản phụ cấp đi đường vừa đủ bù vào tiền hao mòn vật tư thôi.”
“À, ra thế.”
Nam đưa ngón tay dò ngược lên từng dòng ghi chép chi tiết ở nửa trên trang sổ mới nhận ra nguồn thu chủ lực của viện Tây Sơn trong tháng qua đều chảy về từ những mối công việc hết sức bình thường. Từ các hợp đồng hộ tống hàng hóa ngắn ngày quanh vùng phụ cận thành Thanh Hà, tiền công sửa chữa nông cụ và gia cố đồ gia dụng lặt vặt, cho tới những mối khách quen cũ sau khi hài lòng với cách làm việc sòng phẳng của viện đã tự nguyện giới thiệu thêm bạn buôn mới tìm tới.
Khoản thu lớn nhất trong danh sách đến từ một vị thương nhân buôn lụa và trà khô ở bến sông, người đã thuê nhân sự của Tây Sơn đứng ra bảo vệ liên tiếp hai chuyến xe hàng đi qua đoạn đèo dốc nhiều sơn tặc. Bên cạnh đó, việc Ciel phối hợp cùng trận pháp sư Ngô Thành thiết kế và lắp đặt thành công một hệ thống ròng rọc trợ lực kết hợp chốt hãm cơ khí cho dãy kho lương thực ở khu phố Nam cũng mang về một khoản tiền chia công rất khá sau khi trừ đi chi phí sắt thép.
Từng khoản lẻ nếu đem tách rời ra thì chẳng có món nào lớn tới mức khiến Nam cảm thấy mình sắp phát tài, nhưng khi được bàn tay tỉ mỉ của Hứa An gom góp và cộng dồn lại trên cùng một mặt giấy, con số tổng kết ở cuối trang đã mang một dáng vẻ vững vàng khác hẳn cái thời cả bọn mới dọn về khu xưởng nhuộm cũ kỹ này mấy năm về trước. Đợi Nam xem xong cột tiền vào, Hứa An mới đưa đầu bút bi chỉ sang trang bên cạnh ghi danh mục chi tiêu.
Nhờ tiết trời đã bước hẳn sang mùa hạ nên khoản tiền mua than đá sưởi ấm trong viện giảm xuống gần như bằng không, bù lại chi phí đong gạo, mua thịt tươi và rau củ hàng ngày cho gian bếp của Mina lại nhích lên đôi chút vì quân số ăn ở trong nhà giờ đã đông đúc hơn xưa. Khoản chi mua sắm vật tư kim khí và linh kiện dự phòng cho xưởng của Ciel cũng chỉ tăng nhẹ trong ngưỡng cho phép, còn tiền thuốc men sơ cứu nhờ có vườn dược thảo nhỏ và tay nghề của Shiroma nên chẳng tốn kém thêm mấy đồng.
Khi ánh mắt Nam trượt xuống gần cuối bảng kê chi phí sinh hoạt, hắn bỗng chững lại trước một dòng chữ được Hứa An kẻ khung riêng biệt ngay dưới mục lương thực.
“Đệ tách hẳn một dòng chi tiêu riêng cho khẩu phần ăn của Chocobo thật đấy à?”
Hứa An nhìn cuốn sổ, đáp gọn như lẽ đương nhiên:
“Đệ phải tách riêng ra như vậy để còn theo dõi định mức tiêu thụ thực tế trong tháng đầu tiên.”
“Theo dõi kỹ thế để làm gì?”
“Để sang đầu tháng sau đệ biết đường tính toán khối lượng hạt ngũ cốc và trái cây tươi cần đặt mua sỉ ở chợ đầu mối, tránh cảnh mua lẻ từng rổ ngoài sạp vừa đắt đỏ lại vừa thiếu hụt bất ngờ.”
Nam ngẫm nghĩ vài giây, nhớ lại sức ăn đáng nể của chú chim vàng khổng lồ mỗi bận chạy nhảy ngoài sân về liền gật gù tán đồng:
“Cách tính đó hợp lý đấy, cứ giữ nguyên dòng này đi.”
Thấy Nam không có ý kiến gì về bảng cân đối thu chi thường nhật, Hứa An mới lật tiếp sang một trang giấy dày nằm ở phần phụ lục phía cuối sổ. Trên mặt giấy trắng tinh không còn những danh mục mua muối, đong gạo hay trả tiền rèn sắt vụn vặt, mà chỉ vỏn vẹn bốn hàng chữ lớn được viết bằng nét bút bi đen nhánh rõ ràng gồm Sinh hoạt, Xưởng, Dự phòng và Mua đất.
Ánh mắt của Nam dừng lại khá lâu ở hai chữ nằm tại dòng cuối cùng.
“Đệ vẫn chưa gạch bỏ cái mục tích lũy mua đất này đi à?”
“Đệ chưa từng có ý định bỏ mục đó đâu huynh.”
“Nhưng lão chủ cũ của khu xưởng Tây Sơn thông qua chỗ Chương lão bản vẫn đang lừng chừng nghe ngóng, hai bên đã chốt được mức giá chuyển nhượng cuối cùng đâu.”
“Chuyện giá cả chưa ngã ngũ thì đệ biết rồi.”
“Thế đệ lập riêng một mục ngân quỹ nằm im trên giấy từ bây giờ để làm gì?”
Hứa An đặt cây bút bi xuống cạnh mép thước, đẩy tờ giấy nháp ghi tỷ lệ phân bổ phần trăm tiền dư hàng tháng sang trước mặt Nam rồi điềm tĩnh giải thích:
“Đệ phải tách bạch khoản tiền này ra khỏi két chi tiêu chung ngay từ bây giờ. Nếu cứ để gộp toàn bộ tiền lãi hàng tháng nằm chung trong một hòm, hễ tháng nào thấy viện thu về khấm khá một chút là huynh sẽ có cảm giác ngân quỹ đang rủng rỉnh, rồi lại tiện tay gật đầu chi tiêu vào đủ thứ việc phát sinh khác ngay.”
Nam hơi nheo mắt nhìn cậu quản sự trẻ tuổi đang ngồi đối diện mình.
“Nghe giọng điệu này thì hình như đệ đang bóng gió chê huynh là kẻ vung tay tiêu hoang đấy phỏng?”
“Đệ không nói huynh tiêu xài hoang phí cho bản thân.”
“Nhưng câu chữ của đệ vừa thốt ra thì nghe giống hệt thế còn gì.”
Hứa An khẽ thở ra một hơi, ngón tay gõ nhịp lên những dòng chi phí phát sinh của mấy tháng trước:
“Bản thân Nam huynh ăn mặc rất giản dị, chẳng mấy khi tiêu đồng nào vào những thú vui xa xỉ ngoài phố. Có điều hễ Ciel tỷ vừa mở miệng nói cần mua thêm phôi đồng đỏ hay đá mài tinh cho xưởng cơ khí là huynh liền móc tiền túi ra chi ngay, đến lúc Lão Tề bên xưởng rèn bảo cần thay lại dãy bản lề sắt hay gia cố khung kèo kho hàng huynh cũng gật đầu trả đủ, rồi khi Lương đại phu nhắc mùa nắng nóng nên trữ thêm thuốc giải nhiệt và bông băng sạch huynh cũng bảo đệ xuất tiền đi mua liền. Nếu toàn bộ số bạc kiếm được cứ nằm chung một chỗ như thế, phần tiền tích cóp để mua đứt mảnh đất Tây Sơn này sẽ mãi mãi bị rút lẹm đi mà chẳng bao giờ gom thành một khoản rõ ràng được.”
Nam há miệng định cãi lại đôi câu, song nghĩ đi nghĩ lại một hồi đành ngậm miệng ngồi im. Điều khiến hắn cảm thấy vừa buồn cười vừa hơi bực mình là từng chữ Hứa An vừa phân tích đều trúng phóc thói quen chi tiêu của hắn suốt hơn một năm qua.
“Thế tháng này đệ định trích sang mục mua đất bao nhiêu bạc?”
Hứa An đưa đầu bút chỉ vào một con số vừa phải nằm ở góc dưới tờ giấy nháp. Khoản tiền trích lập của tháng đầu tiên không quá lớn để làm xáo trộn nhịp sống trong nhà, và nếu đem đặt cạnh cái giá ước tính để mua đứt toàn bộ khuôn viên đất đai rộng lớn của khu viện Tây Sơn thì quãng đường phía trước vẫn còn xa lắc. Thế nhưng nếu cứ đều đặn mỗi tháng gạt riêng ra một phần tiền lãi cất vào ngăn khóa độc lập như thế này, chỉ cần sau một năm nhìn lại thì con số nằm trong két sắt chắc chắn sẽ mang một sức nặng khác hẳn.
Nam nhìn kỹ con số trên mặt giấy, cẩn thận hỏi lại từng khoản mục:
“Nếu trích phần này ra riêng thì quỹ dự phòng khẩn cấp của viện có bị hụt đi không?”
“Quỹ dự phòng cho các tình huống bất trắc đệ vẫn giữ nguyên định mức an toàn như cũ.”
“Huynh dặn trước là dù có muốn mua đất đến mấy cũng không được phép rút cạn quỹ dự phòng ra để gom vào đấy đâu nhé.”
“Nguyên tắc an toàn đó đệ nắm rõ từ lâu rồi mà.”
“Còn ngân sách vận hành xưởng cơ khí của Ciel thì sao?”
“Khoản vật tư định kỳ của xưởng đã có cột ngân sách riêng, không đụng chạm gì tới phần trích lập này cả.”
“Thế tiền đi chợ nấu ăn hàng ngày của cả nhà?”
Lần này Hứa An không trả lời bằng lời nữa mà chỉ ngước mắt lên nhìn thẳng vào mặt Nam với vẻ mặt hết sức bất lực. Nam bắt gặp ánh mắt ấy thì tự khắc ho nhẹ một tiếng, thu tay về rồi gật đầu:
“Được rồi, cứ làm theo phương án của đệ đi.”
Nhận được cái gật đầu thông qua của chủ viện, Hứa An liền cầm cây bút bi mực đen điền con số chính thức vào cột thứ tư trên trang sổ phụ lục rồi ký nháy bên dưới mà không hỏi han thêm lời nào. Nam chống cằm nhìn bốn dòng chữ ngắn gọn nằm song song trên trang giấy trắng, trong lòng bỗng dâng lên một cảm giác vừa xa lạ vừa ấm áp rất khó gọi thành tên.
Ba năm về trước, lúc mới chân ướt chân ráo cùng Mina và Ciel xoay xở từng đồng tiền lẻ trong căn nhà trọ chật hẹp ở nội thành Thanh Hà, trong đầu hắn chưa bao giờ tồn tại khái niệm lập quỹ mua đất. Hai năm trước, mỗi khi cuối tháng gom góp được chút tiền dư dả sau khi trả tiền thuê mặt bằng, suy nghĩ xa xôi nhất của hắn cũng chỉ dừng lại ở việc cả nhà sẽ có được vài tháng ăn ngon mặc ấm mà không phải lo chạy gạo từng bữa. Một năm trước, khuôn viên xưởng Tây Sơn vẫn còn ngổn ngang cả tá hạng mục xuống cấp cần phải chắp vá từ mái ngói, vách tường cho tới rãnh thoát nước sau kho.
Vậy mà đến đầu mùa hạ năm nay, cậu quản sự phụ trách bàn cổng đã bắt đầu chủ động mở một danh mục tài chính dài hạn chỉ để gom tiền mua đứt mảnh đất nơi cả đại gia đình đang sinh sống. Giao dịch mua bán dù chưa diễn ra và cũng chẳng ai dám khẳng định chính xác đến tháng nào năm nào két sắt mới tích đủ số bạc cần thiết, nhưng ngay từ khoảnh khắc dòng chữ Mua đất được viết xuống trang sổ cái, ước muốn biến khu viện thuê mướn này thành mái nhà vĩnh viễn đã chính thức có tên gọi và hình hài cụ thể.
Nam nhận ra chính sự thay đổi âm thầm trong tâm thế của mọi người ở Tây Sơn còn đáng giá hơn bản thân con số nằm trên mặt giấy kia rất nhiều. Hắn vươn vai đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu bên bàn cổng, còn Hứa An đã bắt đầu thu dọn các tập hóa đơn rời cho vào cặp bìa cứng.
“Còn giấy tờ nào cần huynh ký nữa không?”
“Xong hết phần của tháng trước rồi huynh.”
“Đệ chắc là không còn ai phản đối chuyện tách quỹ này nữa chứ?”
“Trong viện này ngoài huynh ra thì chẳng ai thắc mắc chuyện để dành tiền mua nhà cả.”
Hứa An điềm nhiên gật đầu xác nhận. Nam xoay người bước ra khỏi hiên cổng được chừng ba bước, chợt nhớ ra một điều liền ngoái đầu dặn với lại:
“Nhưng nhớ là nếu tháng nào công việc ít đi mà tổng thu sụt giảm thì đệ đừng có cố ép tăng khoản trích mua đất đấy nhé.”
“Chuyện linh hoạt theo doanh thu thực tế đệ biết rồi.”
“Với lại nếu bên chỗ Chương lão bản có đánh tiếng giục...”
“Đệ biết cách ứng phó mà Nam huynh.”
Nam đứng sững lại giữa sân nắng, trân trối nhìn cậu thanh niên đang thản nhiên cúi đầu đóng nắp bút bi bên bàn làm việc. Hắn vừa quay lưng bước tiếp về phía chiếc ghế mây dưới hiên gian chính vừa tự hỏi từ bao giờ mà một gã chủ viện như mình lại biến thành kẻ lải nhải tới mức bị cấp dưới cắt lời ngay trước mặt như thế.
Lượt quay Gacha thứ bốn mươi gõ cửa viện Tây Sơn vào đúng bốn ngày sau cuộc đối chiếu sổ sách ấy. Buổi sáng hôm đó trùng hợp thế nào mà cả Hứa An lẫn A Thạch đều có việc bận phải rời viện từ sớm tinh mơ. A Thạch đánh xe ngựa chở mấy kiện giấy bản mới đóng gói vào giao cho các tiệm văn phòng phẩm trong nội thành Thanh Hà, còn Hứa An thì mang theo thước dây đi cùng Lão Tề ra xem xét lại dải đất trống nằm sát bờ rào phía sau khu xưởng rèn để tính phương án mở rộng rãnh thoát nước mùa mưa.
Ronan và Harpe đã đeo vũ khí lên đường đi rà soát tuyến đường mòn ngoại vi từ lúc sương sớm còn chưa tan, trong khi Shiroma cũng xách giỏ mây sang Lương y quán ở Đông thị để phụ Lương đại phu phơi mẻ dược thảo mới thu mua. Khắp khuôn viên rộng lớn của viện Tây Sơn vào giờ Thìn chỉ còn lại đúng nhóm thành viên cốt cán nắm rõ bí mật về hệ thống Gacha, tạo nên một khung cảnh vắng vẻ lý tưởng tới mức Nam không khỏi cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng.
Khi luồng rung động quen thuộc báo hiệu vòng quay định kỳ chuẩn bị khởi phát dâng lên trong tâm thức, Nam đang ngồi lau lại bộ ấm chén sứ trên chiếc bàn gỗ giữa gian chính. Vừa trông thấy bóng Mina bê rổ vải khô bước qua ngưỡng cửa gỗ, hắn liền ngẩng đầu gọi ngay:
“Bà Mina này.”
Chỉ cần nhìn thoáng qua vẻ mặt tập trung của Nam, Mina đã lập tức hiểu ra chuyện gì sắp sửa diễn ra nên đặt nhanh rổ vải xuống ghế trường kỷ rồi hỏi khẽ:
“Tới giờ quay lượt mới rồi đấy à?”
“Ừ, vừa mới báo hiệu xong.”
Mina nhanh nhẹn bước ra hiên sau gọi Ciel và Zero đang kiểm tra mạch nạp điện trong xưởng cơ khí sang gian chính, còn Soma lúc ấy đang đứng tập vung thanh katana Osafune dưới bóng râm sau sân cũng lập tức tra kiếm vào vỏ rồi sải bước đi vào nhà. Chú chim vàng Chocobo đang nằm rỉa lông dưới gốc cây hòe thấy mọi người bỗng dưng tập trung đông đủ trong gian khách cũng tò mò chạy lạch bạch tới bậc thềm, thò cái đầu tròn xoe lông vàng óng qua khung cửa sổ nhìn vào trong. Bản thân Chocobo vốn là sinh vật đồng hành vừa được hệ thống Gacha đưa thẳng tới viện Tây Sơn ở lượt quay cuối tháng trước, thế nên Nam cũng chẳng việc gì phải đóng cửa giấu giếm chú chim cảnh tượng sắp diễn ra.
Ngay khi luồng ánh sáng trắng dịu dàng của vòng quay thứ bốn mươi lóe lên giữa khoảng không trên mặt bàn lớn rồi nhanh chóng tan biến vào hư vô, ba chiếc thùng giấy cứng cáp đã nằm ngay ngắn trên mặt gỗ lim bóng loáng. Ở chính giữa là một chiếc hộp vuông vức bọc bìa cứng in hình minh họa sắc nét, nằm kề bên cạnh là hai thùng giấy carton dáng dẹt có kích thước lớn hơn đôi chút.
Nam thở phào một hơi nhẹ nhõm khi thấy lần này không có thêm vị khách bộ hành hay sinh vật sống nào bất ngờ rơi xuống giữa nhà, rồi mới vươn tay bóc lớp băng keo niêm phong để mở nắp chiếc hộp đầu tiên ra. Nằm gọn gàng giữa khuôn xốp trắng chống va đập là một thiết bị hình hộp chữ nhật có lớp vỏ nhựa nhám màu trắng sữa rất thanh lịch, kích cỡ tổng thể chỉ nhỉnh hơn một cuốn từ điển bìa cứng đôi chút. Mặt trước của thân máy có một khe hẹp chạy ngang dùng để đẩy giấy ra, phía trên là màn hình tinh thể lỏng cỡ nhỏ kèm cụm phím điều hướng, bên hông bố trí khay nạp giấy ảnh, nút bấm nguồn và hàng cổng cắm cáp truyền dữ liệu.
Khi nhấc lớp khuôn xốp phía trên lên, Nam thấy tầng đáy hộp xếp đầy đủ bộ dây nguồn chuyển đổi điện áp, ba sợi cáp nối chuẩn đầu cắm khác nhau, vài cuộn băng mực nhiệt dự phòng và một tập sách hướng dẫn sử dụng in nhiều thứ tiếng. Nam cúi đầu ngắm nghía ký hiệu in chìm trên mặt vỏ nhựa trắng một lúc rồi buột miệng đọc lên:
“Lần này quay trúng một chiếc máy in ảnh cầm tay.”
Mina bước sát lại cạnh mép bàn, nghiêng đầu nhìn món thiết bị nhỏ nhắn nằm gọn trong lòng bàn tay của Nam với vẻ tò mò:
“Máy dùng để in ảnh chụp ra giấy ấy hả ?”
Nam nhấc nhẹ thân máy trắng sữa lên khỏi khuôn xốp để ước lượng trọng lượng rồi gật đầu:
“Ừ, chính là loại máy in ảnh nhiệt cỡ nhỏ dùng cho gia đình.”
Trong lúc hai người còn đang ngắm thân máy chính, Ciel đã nhanh tay mở tiếp hai chiếc thùng giấy carton dáng dẹt đặt ở bên cạnh để kiểm tra danh mục vật tư đi kèm. Một thùng bên trái xếp chật kín những xấp giấy ảnh dày dặn được bọc kỹ trong túi nilon bạc chống ẩm, còn thùng bên phải chứa các hộp băng mực in nhiệt đồng bộ theo đúng định mức tiêu hao của từng lô giấy.
Cùng lúc đó, dòng thông báo tổng kết quen thuộc của hệ thống cũng hiện rõ trong tâm thức của Nam:
【Lượt quay thứ 40 hoàn tất. Phần thưởng: Máy in ảnh mini ×1, Giấy ảnh ×500, vật tư đi kèm.】
Nam nhìn con số hiện lên trên bảng thông báo rồi đọc lớn cho cả nhóm cùng nghe:
“Tổng cộng có năm trăm tờ giấy ảnh tất cả.”
Mina đưa tay chạm nhẹ vào một gói giấy bọc túi bạc, quay sang hỏi Nam:
“Năm trăm tờ giấy in ảnh thì có tính là nhiều không?”
“Dùng trong phạm vi người nhà mình thì cũng thuộc diện khá dồi dào đấy.”
“Thế nếu cả viện mình cứ mang ra bấm in thoải mái thì liệu có dùng hết sạch chỗ giấy này được không nhỉ?”
Nam lập tức quay phắt đầu sang nhìn thẳng vào mắt Mina, giọng cảnh giác thấy rõ:
“Câu hỏi vừa rồi của bà nghe cực kỳ nguy hiểm cho tuổi thọ của thùng vật tư này đấy nhé.”
Soma đứng khoanh tay tựa lưng vào cột nhà bên cạnh không nhịn được phải bật cười thành tiếng trước vẻ mặt giữ của của ông chủ viện. Riêng Ciel thì chẳng mảy may bận tâm tới màn đấu khẩu quen thuộc giữa hai người kia, bởi cô bé đã rút ngay cuốn sổ tay thông số kỹ thuật từ dưới đáy hộp ra và chăm chú lật đọc từng trang sơ đồ cấu tạo.
Nam liếc nhìn những dòng chữ in nhỏ li ti trên trang giấy bóng, cẩn thận hỏi Ciel:
“Bà đọc hiểu hết thông số vận hành của mẫu máy in này chứ Ciel?”
“Các chỉ số nguồn áp và giao thức truyền hình ảnh đều ghi rất rõ ràng, tôi đọc hiểu hết được.”
“Thế bà có cần phải vác tua vít ra tháo tung vỏ máy để kiểm tra linh kiện bên trong trước khi cắm điện không đấy?”
“Cấu trúc máy in nhiệt đóng kín nguyên khối thế này thì không cần tháo mở làm gì đâu.”
Nam lập tức thở phào một hơi dài nhẹ nhõm, cảm thấy câu trả lời ngắn gọn của cô kỹ sư trưởng chính là tin tốt lành nhất trong buổi sáng hôm nay. Ciel mang bộ đổi nguồn điện một chiều đã được cô tinh chỉnh sẵn từ nguồn năng lượng E-Crystal ở xưởng sang cắm thử vào cổng nguồn sau lưng máy, vừa ấn nhẹ nút khởi động thì đèn báo xanh đã sáng lên kèm theo màn hình tinh thể lỏng nhỏ xíu hiện dòng chữ chờ kết nối.
Thế nhưng ngay khi chiếc máy in ảnh khởi động trơn tru trên mặt bàn, một vấn đề hết sức thực tế lập tức bày ra trước mắt khiến cả năm người cùng đứng ngẩn ra nhìn nhau. Máy in và giấy in đã sẵn sàng cả rồi, nhưng nguồn dữ liệu hình ảnh để đưa vào máy thì lấy ở đâu ra bây giờ?
Nam chầm chậm quay đầu nhìn về phía cánh cửa thông sang khu xưởng cơ khí của Ciel, và gần như cùng một khoảnh khắc ấy, Ciel cũng ngẩng phắt đầu lên nói gọn một chữ:
“Chiếc máy ảnh.”
Cả nhóm lập tức nhớ ngay tới chiếc máy ảnh kỹ thuật số từng xuất hiện trong lượt quay Gacha thứ mười sáu hồi cả bọn mới dọn về khu xưởng Tây Sơn chưa lâu. Món thiết bị ghi hình ấy chưa từng bị vất xó phủ bụi trong tủ khóa như những món đồ ít dùng khác, bởi suốt mấy năm chung sống vừa qua, Ciel và Mina vẫn thỉnh thoảng mang nó ra bấm chụp lại những khoảnh khắc sinh hoạt thường ngày của đại gia đình.
Trong chiếc thẻ nhớ dung lượng lớn gắn bên trong thân máy ảnh vẫn còn lưu giữ hàng trăm bức hình chụp rải rác qua từng mùa mưa nắng ở thành Thanh Hà, từ những bức ảnh chụp tiến độ cải tạo xưởng cơ khí, những tấm hình cả nhà quây quần bên mâm cỗ đêm giao thừa, cho tới những buổi chiều đi dạo ngoại thành mà cậu nhóc A Thạch cứ nằng nặc bắt mọi người đứng xếp hàng lại chỉ vì thấy ráng chiều phía sau lưng quá đẹp. Bên cạnh một số bức ảnh chụp mẫu linh kiện phục vụ công việc nghiên cứu của Ciel, trong máy còn có cả những tấm hình chụp lén chẳng mang ý nghĩa nghệ thuật gì ngoài việc ghi lại cảnh Soma đang há miệng ngoạm một miếng bánh bao lớn.
Gần đây nhất chính là bức ảnh chụp chung giữa cô bé pháp sư trắng Shiroma và chú chim vàng Chocobo ngoài bãi cỏ sân sau vào dịp cuối tháng trước. Ciel vội vàng sải bước về phòng làm việc của mình trong xưởng, chỉ một lát sau đã cầm chiếc máy ảnh kỹ thuật số màu bạc quay trở lại gian chính và đặt xuống bên cạnh chiếc máy in trắng.
Cô bé lần lượt rút từng sợi cáp truyền dữ liệu trong bộ phụ kiện đi kèm ra để ướm thử vào cổng xuất hình ảnh bên hông máy chụp. Sợi cáp đầu tiên có chân cắm hơi rộng nên không khớp ngàm, sợi cáp thứ hai vừa cắm vào thì màn hình vẫn im lìm không nhận tín hiệu, phải đến khi Ciel lấy sợi cáp thứ ba có đầu nối dẹt mạ đồng cắm kịch vào ổ giao tiếp thì trên màn hình nhỏ của chiếc máy in mới lập tức nhảy lên biểu tượng hai thiết bị đã thông mạch kết nối.
Động tác trên tay Ciel hơi chững lại vì hồi hộp, còn Nam đứng sát bên cạnh cũng bất giác nín thở hỏi khẽ:
“Nhận diện được thẻ nhớ trong máy ảnh rồi hả bà?”
“Giao thức truyền ảnh trực tiếp đã khớp rồi, có vẻ là in thẳng từ máy ảnh sang được luôn đấy.”
Nghe Ciel xác nhận, cả Soma lẫn Mina đều không hẹn mà cùng dịch bước chân tiến lại sát mép bàn hơn để nhìn cho rõ. Chú chim vàng Chocobo thấy mọi người chụm đầu vào nhau cũng háo hức rướn cái cổ dài chen thẳng chiếc mỏ lớn vào khoảng trống hẹp giữa vai Nam và Mina.
Nam đành phải giơ bàn tay đẩy nhẹ cái đầu phủ đầy lông tơ mềm mượt của chú chim dịch ra ngoài một chút rồi bật cười dặn:
“Màn hình hiển thị bé bằng hai ngón tay thế này thì cậu có rướn cổ chen vào giữa cũng chẳng nhìn thấy cái gì đâu.”
“Kweh.”
Chocobo kêu lên một tiếng ngắn gọn nghe như đang phàn nàn, nhưng vẫn ngoan ngoãn lùi lại nửa bước để đứng ngó qua vai Mina. Ciel ấn phím điều hướng trên mặt máy in để mở danh mục thư mục lưu trữ trong thẻ nhớ, và chỉ sau vài giây tải dữ liệu, một dải các ô hình thu nhỏ đã lần lượt hiện lên trên mặt màn hình tinh thể lỏng sáng rõ.
Nam cúi người nhìn vào những bức ảnh đầu tiên nằm ở tận cùng danh sách lưu trữ mà bỗng dưng đứng lặng đi mất mấy giây. Thứ khiến hắn ngẩn người ra như vậy là bởi chính hắn cũng gần như đã quên khuất rằng chiếc thẻ nhớ nhỏ xíu kia vẫn còn giữ lại nguyên vẹn từng ấy lát cắt thời gian kể từ những ngày đầu tiên của viện Tây Sơn.
Trong những bức hình mang số thứ tự đầu tiên ấy, khuôn viên xưởng Tây Sơn hiện lên với dáng vẻ ngổn ngang và hoang sơ khác xa cơ ngơi khang trang hiện tại. Khoảng sân gạch ngoài kia hồi đó còn trống trải và mọc đầy cỏ dại ở các khe đá, phần mái ngói phía sau nhà kho vẫn còn lỗ chỗ những mảng dột chưa kịp đảo lại ngói mới, còn khu xưởng cơ khí của Ciel chỉ mới có độc một chiếc bàn gỗ kê tạm dưới mái hiên chứ chưa có hệ thống thông gió hay dàn đèn chiếu sáng như bây giờ.
Lướt qua mấy bức ảnh chụp cảnh sửa sang vách tường đất cũ kỹ, ngón tay Ciel dừng lại ở một khung hình chụp trước hiên gian bếp vào một buổi sáng mùa thu cách đây đã khá lâu. Trong bức ảnh được một ai đó bấm máy hơi nghiêng góc, Mina đang đứng bên chậu nước với mái tóc dài chỉ kịp búi vội bằng một chiếc trâm gỗ, Soma ngồi xổm trên bậc cửa đá phía xa còn Zero thì đứng khoanh tay dưới bóng cây ngoài sân.
Kế ngay sau tấm ảnh lệch khung ấy là một bức hình khác mà Nam nhìn mãi cũng chẳng nhớ nổi là do Ciel hay chính tay mình đã lén bấm chụp. Trong khung hình ngập nắng sớm, Soma đang đứng ngay phía sau lưng Mina với hai tay bê một chiếc rổ tre đựng đầy rau xanh, còn Mina thì đang quay nửa khuôn mặt lại phía sau như thể đang tận tình chỉ bảo cậu thanh niên cách nhặt bớt lá sâu. Bố cục của bức ảnh trông hết sức đời thường và tự nhiên vì cả hai nhân vật chính đều đang mải làm việc chứ chẳng ai hay biết có ống kính máy ảnh đang hướng về phía mình.
Mina vừa nhìn thấy bức ảnh thu nhỏ ấy hiện lên trên màn hình đã khẽ chớp mắt ngạc nhiên:
“Tấm hình này được chụp từ bao giờ mà tôi chẳng nhớ chút nào thế nhỉ?”
Nam chống tay lên mặt bàn, nheo mắt nhìn kỹ màu vách tường gỗ phía sau lưng hai người trong ảnh rồi đáp:
“Nhìn cái bếp lò cũ chưa xây ống khói phụ kia thì chắc chắn là chụp từ hồi mới dọn về viện được vài tháng thôi.”
Soma đứng bên cạnh nhìn vào màn hình cũng bất giác mỉm cười, gật đầu phụ họa:
“Tôi vẫn còn nhớ buổi sáng hôm đó đấy.”
Mina nghiêng đầu quay sang nhìn cậu thanh niên tóc trắng với ánh mắt hiếu kỳ:
“Anh nhớ được chuyện gì từ tấm hình chụp lén này cơ chứ?”
“Anh nhớ hôm ấy em bắt anh phải ngồi xổm trước hiên bếp để nhặt sạch lại cả một rổ rau cải lớn.”
“Em bắt anh ngồi nhặt lại là tại vì lúc xách rổ từ ngoài giếng nước vào, anh bất cẩn làm đổ tung tóe cả rổ rau ra nền gạch còn gì.”
“Hôm đó là do viên gạch lát thềm bị cập kênh nên anh mới trượt chân làm đổ, chứ anh đâu có cố ý làm rơi rổ rau đâu.”
“Dù không cố ý thì người làm đổ vẫn phải tự tay ngồi nhặt sạch lại từng cọng rau để rửa chứ sao nữa.”
Soma nghe Mina lý sự thì chỉ biết bật cười lắc đầu chịu thua, không cãi thêm câu nào nữa. Nam đứng nhìn nét cười tự nhiên trên gương mặt của hai người trong khung hình cũ, chẳng cần suy nghĩ lâu liền đưa ngón tay chỉ thẳng vào nút xác nhận trên mặt máy in:
“Quyết định chọn bức này làm tấm ảnh in thử đầu tiên đi.”
Mina thấy ngón tay Nam đưa xuống gần mặt phím điều khiển thì vội vàng lên tiếng ngăn lại:
“Khoan đã nào, chọn tấm khác nghiêm túc hơn đi chứ!”
Thế nhưng tiếng gọi của Mina vừa dứt thì ngón tay trỏ của Nam đã dứt khoát ấn xuống phím thực thi lệnh in mất rồi. Từ bên trong thân máy trắng sữa lập tức vang lên tiếng môtơ cuộn giấy rì rì rất êm tai, tiếp đó một tờ giấy ảnh trắng bóng từ từ trồi ra khỏi khe hẹp phía trước rồi lại được trục lăn kéo ngược vào trong.
Quá trình in nhiệt thăng hoa không lập tức cho ra ngay một bức hình hoàn chỉnh trong một lượt chạy giấy, mà cứ mỗi lần tờ giấy trượt qua trượt lại qua khe máy là một lớp màu vàng, tiếp đến là lớp màu hồng cánh sen rồi lớp màu xanh lam lại lần lượt được phủ chồng lên nhau với độ chính xác rất cao. Cả năm con người từng đối mặt với không biết bao nhiêu trận chiến sinh tử và những cơ cấu trận pháp phức tạp lúc này lại đứng im phăng phắc vây quanh chiếc bàn gỗ, chăm chú dõi theo từng nhịp giấy chạy ra chạy vào với vẻ căng thẳng chẳng khác nào đang giám sát Ciel vận hành thử một lò phản ứng năng lượng cỡ lớn.
Chú chim vàng Chocobo thấy tờ giấy có màu sắc sặc sỡ cứ thò ra thụt vào trước mặt thì ngứa ngáy định cúi đầu dùng mỏ mổ thử một cái xem sao. Mina đứng ngay bên cạnh kịp thời phát hiện ra ý đồ ấy liền vòng tay ôm lấy cổ chú chim kéo lùi lại phía sau, khẽ vỗ nhẹ lên chiếc mỏ vàng:
“Đừng có lấy mỏ mổ vào đấy nhé Chocobo, hỏng mất tấm ảnh bây giờ.”
“Kweh.”
Sau lượt phủ lớp màng bảo vệ trong suốt cuối cùng, chiếc máy in phát ra một tiếng tạch nhẹ rồi đẩy hẳn tấm ảnh đã hoàn thiện nằm im trên khay đỡ phía trước. Nam cẩn thận cầm hai mép tờ giấy ảnh nhấc lên đưa ra trước ánh sáng tự nhiên chiếu qua khung cửa sổ để quan sát.
Kích thước của bản in chỉ nhỉnh hơn tấm danh thiếp đôi chút nên đương nhiên không thể rộng rãi bằng những tấm ảnh rửa ngoài tiệm rửa ảnh chuyên nghiệp ở thế giới cũ, nhưng bù lại từng đường nét khuôn mặt, sắc nắng vàng ấm áp trên vạt áo của Mina cho tới màu xanh non của rổ rau trên tay Soma đều hiện lên vô cùng sắc sảo và sống động. Phía sau lưng hai người họ là khoảng sân gạch cũ kỹ của khu xưởng Tây Sơn thuở ban đầu, tất cả đều nằm gọn trên một mặt giấy dày dặn láng mịn.
Mina đứng bên cạnh nhìn tấm ảnh trên tay Nam mà nhất thời không nói nên lời, ngay cả Soma vốn hay trêu đùa cũng im lặng ngắm nhìn khung cảnh quen thuộc của mấy năm về trước. Nam ngắm nghía thêm một thoáng rồi xoay ngang tấm ảnh, đưa tận tay cho Mina:
“Tấm đầu tiên này thuộc về bà đấy.”
Mina đón lấy mảnh giấy ảnh còn vương chút hơi ấm dịu nhẹ từ đầu in nhiệt, cúi đầu ngắm nhìn hình ảnh của chính mình và Soma chăm chú hơn hẳn lúc nãy xem qua màn hình tinh thể lỏng. Khoảnh khắc nhìn thấy những ngón tay của Mina nâng niu mép giấy, Nam lập tức nhận ra sự khác biệt lớn nhất giữa một tệp dữ liệu kỹ thuật số và một bức ảnh được in ra đời thực.
Khi còn nằm trong thẻ nhớ của máy chụp ảnh, mọi kỷ niệm thực chất vẫn chỉ là những tín hiệu điện tử vô hình bị khóa chặt sau lớp vỏ kim loại, hễ muốn xem lại là bắt buộc phải còn pin, phải bật nguồn máy rồi bấm tìm từng thư mục. Thế nhưng khi đã bước ra khỏi khe máy in để hóa thành một tấm ảnh bằng giấy hữu hình như thế này, người ta có thể trực tiếp cầm nó trong lòng bàn tay, đặt lên góc bàn làm việc, kẹp lên vách tường gỗ hay cất gọn vào túi áo ngực để lấy ra ngắm bất cứ lúc nào mà chẳng cần phụ thuộc vào bất kỳ nguồn điện hay máy móc nào nữa.
Mina lật nhẹ tấm ảnh sang xem mặt giấy trắng phía sau rồi ngẩng lên hỏi Ciel:
“Màu sắc trên loại giấy ảnh này có giữ được lâu dài theo năm tháng không hả Ciel?”
Ciel cầm tờ thông số kỹ thuật của nhà sản xuất lên xem lại rồi thành thật đáp:
“Trong điều kiện khí hậu và độ ẩm ở Đại Càn thì tôi cũng chưa dám khẳng định chính xác là giữ được bao nhiêu năm.”
“Thế mặt giấy in xong có bị lem màu nếu chẳng may dính nước mưa không?”
“Bề mặt ảnh vừa chạy qua máy đã được ép một lớp màng nhựa mỏng chống thấm nhẹ nên nếu chỉ vương vài giọt nước rồi lau khô ngay thì không sao, nhưng ngâm nước lâu thì cốt giấy bên trong vẫn sẽ bị hỏng.”
“Còn nếu đem treo ở chỗ có ánh nắng mặt trời chiếu vào thì sao?”
“Nếu để phơi trực tiếp dưới nắng gắt từ ngày này qua tháng khác thì các hạt màu nhiệt chắc chắn sẽ bị bạc dần đi đấy.”
Mina gật đầu ghi nhớ từng lưu ý bảo quản ấy rồi cẩn thận cầm tấm ảnh đi thẳng vào phía phòng riêng của mình ở dãy nhà trong, cũng chẳng nói cho ai biết là cô định cất vào hộp hay bày ở góc nào. Soma đứng nhìn theo bóng lưng Mina khuất sau tấm rèm vải, đợi cô đi khuất rồi mới quay sang hỏi Nam với vẻ mặt hơi ngơ ngác:
“Thế còn phần của tôi thì sao, nhân vật chính đứng bê rổ rau trong hình không được chia một bản lưu niệm à?”
Nam quay đầu sang nhìn cậu thanh niên tóc trắng, nhướng mày hỏi lại:
“Cậu cũng muốn giữ một tấm ảnh mình đang bị bắt đứng nhặt rau thật đấy hả?”
Soma ngập ngừng đúng hai giây rồi gật đầu dứt khoát:
“Muốn chứ, anh in cho tôi một tấm đi.”
Nam không nhịn được phải bật cười thành tiếng trước sự thành thật của cậu bạn, ngón tay lập tức ấn vào nút in lặp lại trên mặt máy:
“Được rồi, để tôi bấm máy in thêm một bản nữa cho cậu.”
Vậy là ngay trong buổi sáng thử máy đầu tiên, đại gia đình Tây Sơn đã hào phóng tiêu tốn liền hai tờ giấy ảnh quý giá cho cùng một khung hình đời thường, mà bản thân gã chủ viện vốn nổi tiếng chi li tính toán như Nam lại chẳng thốt ra nửa lời tiếc rẻ.
Sau khi Soma cầm tấm ảnh còn ấm nóng của mình vui vẻ cất vào sổ tay, Ciel tiếp tục bấm phím lướt qua danh sách tệp tin và dừng lại ở bức ảnh thứ ba được chọn trong ngày hôm đó, một khung hình có mặt cả Ciel lẫn Zero. Nếu xét theo những tiêu chuẩn thẩm mỹ thông thường thì đây khó lòng được gọi là một bức ảnh chân dung đẹp đẽ hay chỉn chu, bởi nó được chụp hết sức ngẫu hứng bên trong gian xưởng cơ khí sau một buổi chiều cả hai vừa hoàn tất việc kiểm tra vài thứ.
Trong bức hình ấy, Ciel đang cúi thấp đầu chăm chú kiểm tra một linh kiện kim loại nhỏ nằm trong lòng bàn tay bọc găng của Zero, còn bản thân Zero cũng đang hướng ánh mắt nhìn xuống món đồ trên tay chứ chẳng ai ngẩng lên nhìn vào ống kính máy ảnh. Cloppe lúc đó đang lơ lửng ngay bên bờ vai giáp đỏ của Zero nên khi lên hình chỉ hiện ra như một đốm sáng xanh lam dịu nhẹ, phía sau lưng hai người là chiếc bàn nguội bày la liệt dây đồng, phôi gỗ, mỏ hàn cùng đủ thứ dụng cụ cơ khí chưa kịp thu dọn.
Ciel vừa nhìn thấy hình thu nhỏ của bức ảnh ấy hiện lên trên màn hình tinh thể lỏng đã vội vàng định bấm nút lướt qua sang tệp khác:
“Tấm ảnh chụp lúc xưởng đang bừa bộn thế này thì không cần phải in ra đâu.”
Thế nhưng cô bé còn chưa kịp ấn phím chuyển trang thì bàn tay của Nam đã nhanh như chớp vươn tới bấm thẳng vào nút xác nhận lệnh in. Ciel giật mình quay phắt đầu sang nhìn hắn với đôi mắt xanh mở to:
“Anh vừa bấm cái gì thế hả?”
“Tôi bấm in ra để giữ thế cân bằng quân số trong nhà.”
“In ảnh thì có liên quan gì tới chuyện cân bằng quân số cơ chứ?”
“Thì bên kia Mina với Soma đã có một tấm chụp chung rồi, bên này đương nhiên cũng phải có một tấm của bà với Zero mới công bằng chứ sao.”
“Hai chuyện đó chẳng có chút liên hệ logic nào với nhau cả!”
Đúng lúc Ciel đang đỏ mặt định đưa tay ấn nút hủy lệnh trên máy in, Zero đứng khoanh tay ngay bên cạnh cô bé bỗng điềm nhiên lên tiếng:
“Cứ để máy in ra đi.”
Ciel ngẩn người quay sang nhìn, còn Zero vẫn giữ nguyên ánh mắt trầm tĩnh dõi theo tờ giấy trắng đang bắt đầu trượt qua khe nhiệt của chiếc máy in mini rồi nói thêm một câu ngắn gọn:
“Có một tấm để giữ lại cũng tốt.”
Nghe câu nói tuy kiệm lời nhưng hết sức dứt khoát của Zero, Ciel lập tức mím môi im lặng không phản đối nữa, chỉ có hai vành tai nhỏ ẩn sau mái tóc vàng là hơi ửng hồng lên dưới nắng sớm. Nam đứng bên cạnh phải vội vàng quay mặt đi chỗ khác và cắn chặt môi dưới để nhịn cười, bởi hắn thừa hiểu nếu mình mà dám phát ra tiếng cười trêu chọc vào đúng lúc này thì kiểu gì cũng bị cô kỹ sư trưởng thẳng cổ đuổi ra khỏi cửa xưởng cơ khí suốt cả tuần lễ.
Chỉ chưa đầy một phút sau, trục lăn của chiếc máy in đã đẩy tấm ảnh thứ ba hoàn thiện ra khay đỡ phía trước. Nam cầm mép giấy nhấc lên rồi lịch sự đưa sang cho Zero xem trước. Vị chiến binh tóc vàng đón lấy tấm ảnh nhỏ bằng hai ngón tay, trên gương mặt góc cạnh vốn ít biểu lộ cảm xúc không có phản ứng gì ồn ào mà chỉ lặng lẽ cúi nhìn hình bóng của Ciel cùng đốm sáng Cloppe bên vai mình lâu hơn thường lệ một chút, sau đó mới nhẹ nhàng chuyển tấm ảnh sang cho cô bé đứng bên cạnh.
Ciel cầm tấm ảnh trên tay, ngắm nghía một hồi rồi khẽ lẩm bẩm chê một câu lấy lệ:
“Góc máy này chụp nghiêng trông bố cục xấu thật đấy.”
Nam đứng dựa lưng vào mép bàn, thuận miệng trêu một câu:
“Tại lúc người ta bấm máy thì bà cứ mải cúi đầu nhìn cái linh kiện sắt chứ có chịu ngẩng lên nhìn ống kính đâu.”
“Thì chính vì chưa kịp chuẩn bị tư thế nên nhìn lên ảnh mới thấy lộn xộn thế này.”
“Nếu bà chê tấm cũ chưa ưng ý thì giờ hai người cứ đứng ra hiên nắng ngoài kia đi, tôi cầm máy ảnh bấm lại cho một tấm mới thật nghiêm chỉnh.”
Ciel nghe vậy liền vội vàng lắc đầu nguầy nguậy:
“Thôi không cần phải bày vẽ chụp lại đâu, tốn thời gian làm việc lắm.”
Ai ngờ cô bé vừa dứt lời thì Zero đứng bên cạnh lại khẽ nghiêng đầu nhìn cô, giọng trầm ổn vang lên rất tự nhiên:
“Lúc nào rảnh việc trong xưởng thì chụp thêm một tấm mới cũng được.”
Ciel lập tức quay đầu nhìn Zero mà quên cả nói câu từ chối, còn Nam thì phải vội vàng cúi gằm mặt xuống giả vờ săm soi cuộn dây cáp trên mặt bàn để khỏi bật cười thành tiếng. Đúng lúc bầu không khí quanh chiếc bàn gỗ đang có phần lúng túng đầy thú vị ấy, Mina đã cất xong tấm ảnh của mình trong phòng riêng và thong thả bước trở lại gian chính, vừa nhìn thấy vẻ mặt của Ciel liền mỉm cười khích lệ:
“Khi nào dọn xưởng gọn gàng xong thì hai người cứ bảo anh Nam chụp cho một bức thật đẹp mà giữ.”
Ciel khẽ hắng giọng một tiếng để lấy lại vẻ nghiêm nghị của kỹ sư trưởng, sau đó cầm lấy tấm ảnh vừa in rồi xoay người đi thẳng về phía khu xưởng cơ khí mà chưa chịu chụp thêm bức mới ngay lúc đó. Thế nhưng sang buổi chiều hôm ấy, khi Nam tình cờ đi ngang qua khung cửa sổ mở rộng của gian xưởng để ra vườn sau kiểm tra rãnh nước, hắn đã nhìn thấy bức ảnh chụp góc nghiêng mà Ciel vừa miệng chê xấu lúc sáng được kẹp hết sức ngay ngắn ở góc trên cùng của tấm bảng gỗ treo ngay trước bàn vẽ kỹ thuật. Hắn chẳng rõ là tự tay Ciel hay chính Zero đã đem tấm ảnh ấy gắn lên bảng, và tất nhiên hắn cũng đủ tinh ý để im lặng mỉm cười đi lướt qua mà không bao giờ đem chuyện đó ra hỏi lại.
Suốt gần ba ngày liền sau buổi sáng hôm ấy, chiếc máy in ảnh màu trắng sữa nghiễm nhiên trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của cả khu viện Tây Sơn. Điều thú vị là mọi người vây quanh chiếc bàn gỗ giữa gian chính đông đúc như vậy nhưng lại chẳng có ai nảy sinh ý định bấm in hàng loạt cho thỏa thích, mà trái lại, sau khoảng mười tấm ảnh đầu tiên được in ra để thử máy, cả nhà đều bắt đầu cân nhắc và tuyển lựa từng khung hình một cách hết sức kỹ lưỡng.
Tổng số năm trăm tờ giấy ảnh đi kèm trong thùng vật tư mới nghe qua thì tưởng chừng rất dồi dào, song ai nấy đều hiểu đây là nguồn giấy in nhiệt chuyên dụng không thể tự chế tạo hay tìm mua thêm ở bất kỳ tiệm tạp hóa nào tại thành Thanh Hà. Để quản lý lượng vật tư tiêu hao một cách khoa học, Ciel đã cắt một mảnh giấy trắng dán ngay ngắn lên mặt nắp thùng carton rồi dùng bút bi mực đen kẻ bảng ghi rõ số lượng tờ giấy đã xuất ra theo từng ngày.
Nam đứng nhìn cô bé kỹ sư trưởng cẩn thận điền con số mười hai vào cột đầu tiên, đợi cô viết xong mới xua tay bảo cứ để nguyên hộp giấy ở gian chính cho mọi người tiện dùng, bởi dù chưa biết đến lượt quay nào sau này hệ thống mới lại cho thêm đúng loại giấy in tương thích nhưng trước mắt cứ phục vụ nhu cầu lưu giữ kỷ niệm của người trong nhà trước đã. Thay vì cắm cáp rồi ấn nút in một lèo tất cả các tệp tin có sẵn, Mina đã dành cả buổi trưa để ngồi xem duyệt lại toàn bộ danh mục hình ảnh trên máy chụp, cẩn thận ghi mã số của những bức hình ưng ý nhất ra một mảnh giấy nháp đặt bên cạnh máy in.
Nam cũng kéo một chiếc ghế đẩu ngồi xuống cạnh Ciel để cùng xem lại những thư mục ảnh cũ kỹ nằm sâu trong thẻ nhớ từ mấy năm trước. Giữa hàng chục bức ảnh chụp cảnh sinh hoạt vụn vặt, hai người tìm thấy một bức ảnh chụp tập thể từ cái thời quân số của viện Tây Sơn còn thưa thớt hơn bây giờ rất nhiều.
Nam ngắm nghía gương mặt ngơ ngác của chính mình trong bức ảnh lỗi nhịp ấy một hồi rồi định bụng bấm nút lướt qua để tìm tấm khác hoàn chỉnh hơn, nhưng Mina đứng ngay sau lưng đã kịp thời đặt tay lên vai hắn:
“Tấm ảnh tập thể này anh phải bấm in ra mới được.”
Nam quay đầu nhìn cô với vẻ khó hiểu:
“Trong hình có ai nhìn thẳng vào ống kính đâu mà bà lại bảo in?”
“Thì cả quãng thời gian đầu năm người chúng ta dọn về đây chỉ chụp chung với nhau được đúng một bức hình đó thôi, có sẵn trong thẻ nhớ là quý lắm rồi.”
Nam nghe lời giải thích ngắn gọn của Mina thì ngẫm nghĩ một lát rồi cũng lẳng lặng gật đầu ấn phím thực hiện lệnh in. Hắn cho máy chạy liên tiếp năm lượt để mỗi thành viên xuất hiện trong bức ảnh kỷ niệm thuở sơ khai ấy đều có thể cất giữ một bản in cho riêng mình nếu muốn, trong đó Zero tuy không mở miệng đòi hỏi bản riêng nhưng Ciel đã chủ động cầm luôn hai tấm mang về bên xưởng cơ khí mà Nam cũng chẳng lên tiếng thắc mắc nửa lời.
Ngay sau bức ảnh của nhóm năm người đầu tiên, Nam tiếp tục mở tới bức ảnh chụp đại gia đình vào dịp Tết Nguyên đán gần đây nhất để in tiếp một loạt mới. Khung hình đón xuân năm nay đã trở nên đông đúc và rộn ràng hơn hẳn với sự góp mặt của Ronan, chỉ huy Harpe, cô bé pháp sư trắng Shiroma cùng hai gương mặt gắn bó sớm tối là quản sự Hứa An và cậu nhóc A Thạch, chỉ thiếu mỗi chú chim vàng Chocobo do cậu bạn lông vàng này mới gia nhập đại gia đình vào hồi cuối tháng trước.
Nam cầm hai tấm ảnh tập thể vừa in xong đặt nằm song song bên nhau trên mặt bàn gỗ lim bóng loáng. Khoảng cách thời gian giữa hai lần bấm máy thực chất chỉ vỏn vẹn vài năm ngắn ngủi nơi đất khách quê người, thế nhưng khi đặt hai khung hình nhỏ bé ấy sát cạnh nhau, Nam lại có cảm giác như mình đang nhìn vào hai thế giới mang diện mạo khác biệt.
Sự đổi thay hiện lên trên mặt giấy ảnh không chỉ nằm ở chỗ hàng người đứng trước thềm nhà đã nối dài gấp đôi, mà ngay cả từng góc sân, mái ngói phía sau lưng họ cũng đã lột xác từng ngày. Từ dãy nhà kho được Lão Tề gia cố lại khung kèo sắt kiên cố, gian xưởng cơ khí sáng trưng ánh đèn của Ciel, chiếc bàn trực cổng gọn gàng với những cuốn sổ bìa dày của Hứa An, cho tới bức tường đá xanh đã được trát lại phẳng phiu và những món đồ gia dụng tiện nghi xếp dọc hành lang, tất cả đã âm thầm bồi đắp nên một nếp sống sum vầy mà ngày thường do cứ nhìn thấy mãi nên chính Nam cũng chẳng mấy khi để tâm nhận ra.
Mina đứng ngắm hai bức ảnh tập thể đặt cạnh nhau một lúc lâu, chợt quay sang nói với Nam:
“Hay là mình kiếm một góc trong nhà để làm chỗ treo mấy bức ảnh này lên.”
Nam ngước mắt nhìn quanh bốn bức tường của gian khách rồi hỏi lại:
“Bà định làm một góc trưng bày ảnh chụp chung của cả viện ấy hả?”
“Vâng, để mỗi lần đi ra đi vào mọi người đều có thể ngắm được thay vì cứ cất kín hết trong ngăn kéo.”
“Nhưng Ciel vừa dặn là giấy in nhiệt này phải tránh chỗ bị ánh nắng mặt trời rọi thẳng vào đấy.”
“Thì mình căng dây treo ở bức tường gỗ phía trong cùng của gian chính kia kìa, góc đó quanh năm râm mát lại khuất gió mưa.”
“Treo ở đấy cũng được, nhưng bà nhớ chọn lọc vài tấm tiêu biểu thôi chứ đừng có giăng kín đặc cả mảng tường nhé.”
Mina vừa nghe câu dặn dò ấy đã lập tức quay sang nhìn Nam với ánh mắt nửa cười nửa lườm, khiến hắn phải vội vàng giơ tay lên thanh minh trước để chặn đường:
“Bà đừng nhìn tôi bằng ánh mắt đó, tôi dặn thế là vì diện tích mảng tường gỗ trong gian chính hơi hẹp thôi đấy nhé.”
Mina không thèm cãi lại bằng lời song nét cười tinh nghịch trên khóe môi cô đã nói rõ là cô chẳng tin lời biện hộ của hắn lấy một phần. Chỉ một lát sau, một sợi dây gai bện mảnh dẻ và chắc chắn đã được Mina cùng Soma căng ngang dọc theo mảng tường gỗ lim phía trong gian chính, nơi có ánh sáng tự nhiên vừa đủ rõ ràng mà không bao giờ bị nắng chiều chiếu xiên tới.
Để cố định những tấm ảnh lên sợi dây gai mà không làm thủng hay rách mép giấy, Mina đã vào kho lấy ra một nắm kẹp quần áo bằng nhựa cứng đủ màu xanh đỏ từng quay trúng ở lượt Gacha thứ ba mươi mốt hồi đầu mùa thu. Nam đứng khoanh tay giữa gian nhà nhìn hàng kẹp nhựa sặc sỡ đang giữ chặt từng tấm ảnh mới in trên sợi dây căng ngang, bất giác bật thốt lên một câu cảm thán:
“Đúng là không thể ngờ được thật.”
Mina đang vươn tay chỉnh lại độ nghiêng của bức ảnh chụp Tết liền ngoái đầu hỏi:
“Anh lại lẩm bẩm chuyện gì đấy?”
“Thì hồi quay trúng cái thùng ba trăm chiếc kẹp quần áo bằng nhựa này tôi còn tưởng cả đời chẳng bao giờ dùng hết một góc, ai dè hôm nay lại đắc dụng tới mức này.”
“Mọi thứ trong cái viện Tây Sơn này sớm muộn gì cũng tìm được đúng chỗ dùng của nó thôi.”
Trước câu chốt ngắn gọn mà chuẩn xác của Mina, Nam đành gật gù tâm phục khẩu phục chứ không tìm ra lý lẽ nào để phản bác nữa. Trên sợi dây gai căng ngang bức tường gỗ lúc này đã có gần chục bức ảnh được kẹp nối tiếp nhau một cách tự nhiên mà chẳng cần tuân theo trình tự thời gian cứng nhắc nào cả.
Ở đầu dây bên trái là bức ảnh năm thành viên đầu tiên đứng trước khoảng sân gạch còn ngổn ngang gạch ngói, sát bên cạnh là bức ảnh đại gia đình sum họp dịp Tết vừa qua cùng một tấm hình chụp toàn cảnh khu xưởng Tây Sơn hồi chưa sửa xong mái hiên phía sau. Tiếp nối ở đoạn giữa là bức ảnh chụp cảnh chú chim Chocobo đang tung tăng chạy đua cùng cậu nhóc A Thạch ngoài cổng lớn, rồi đến tấm hình Mina đứng cạnh Soma trước hiên bếp và một bản sao bức ảnh của Ciel với Zero trong xưởng cơ khí.
Khắp viện Tây Sơn chẳng có ai đứng ra đặt tên cho góc tường nhỏ ấy là bảng lưu niệm hay bức tường gia đình, tất cả mọi người đều chỉ gọi đơn giản đó là chỗ treo ảnh của gian chính. Thế nhưng suốt từ trưa hôm ấy trở đi, bất cứ ai có việc đi ngang qua ngưỡng cửa gian khách cũng đều tự giác chậm bước chân lại vài giây để ngước mắt ngắm nhìn những khung hình nhỏ bé đang đung đưa nhẹ nhàng dưới hàng kẹp nhựa.
Đến xế chiều, khi nắng đầu hạ đã dịu bớt sức nóng và ngả sang màu mật ong trên các vòm cây, cô bé pháp sư trắng Shiroma mới xách chiếc giỏ mây đựng thảo dược khô từ Lương y quán ở khu Đông thị trở về viện. Vì muốn dành cho cô bé một sự bất ngờ nho nhỏ nên lúc sáng Nam đã cố tình dặn mọi người giữ kín chuyện vừa có máy in ảnh mới.
Shiroma vừa đẩy cánh cổng gỗ bước vào khoảng sân gạch đã nhạy bén nhận ra bầu không khí trong nhà hôm nay có gì đó là lạ khi thấy cả Nam, Mina lẫn Soma đều đang ngồi tụ tập quanh chiếc bàn lớn trong gian chính và nhìn ra cửa. Chú chim vàng Chocobo đang nằm nghỉ dưới bóng cây hòe vừa đánh hơi thấy mùi hương thảo dược quen thuộc của cô bạn thân liền bật dậy chạy lạch bạch ra tận sân đón, cái đầu tròn xoe dụi nhẹ vào cánh tay Shiroma.
Shiroma mỉm cười đưa bàn tay nhỏ nhắn vuốt dọc lớp lông vàng mượt mà trên cổ Chocobo, vừa bước lên bậc thềm đá vừa tò mò hỏi vọng vào trong:
“Hôm nay ở nhà mình có chuyện gì vui mà mọi người ngồi đông đủ ngoài gian chính thế ạ?”
Đúng lúc ấy, cậu nhóc A Thạch sau khi tắm rửa và cho con ngựa Đại Hoàng ăn cỏ ở chuồng sau xong cũng vừa đi vòng qua hành lang bước tới chân thềm. A Thạch đã được Hứa An kể sơ qua lúc trưa rằng trong viện mới có thêm một món đồ chơi nhỏ có thể in được hình người ra mặt giấy, nhưng vì bận chạy giao hàng ngoài phố suốt từ sáng nên cậu nhóc vẫn chưa được tận mắt nhìn thấy mặt mũi cái máy ấy ra sao.
Nam ngồi bên bàn gỗ vẫy tay gọi cả hai đứa trẻ cùng bước vào trong nhà:
“Hai đứa mau đi vào đây xem cái này hay lắm.”
Shiroma đặt chiếc giỏ mây xuống chiếc đôn gỗ gần cửa, chớp đôi mắt trong veo nhìn quanh bàn rồi hỏi khẽ:
“Anh Nam định cho bọn em xem món gì thế ạ?”
Trên mặt bàn gỗ lim giữa gian chính, chiếc máy ảnh kỹ thuật số đã được kết nối sẵn sàng với chiếc máy in trắng sữa qua sợi cáp truyền dữ liệu. Nam cầm máy ảnh lên, bấm phím chọn đúng bức hình chụp cảnh Shiroma đang đứng ôm cổ Chocobo giữa thảm cỏ xanh sau viện vào dịp cuối tháng trước rồi xoay màn hình về phía cô bé.
Chỉ vừa nhìn thoáng qua khung hình hiện lên trên màn hình nhỏ, Shiroma đã lập tức nhận ra ngay kỷ niệm ngày đoàn tụ của mình và nở một nụ cười rạng rỡ:
“A, đây là bức hình anh Nam với chị Ciel chụp cho em và Chocobo hôm mới gặp lại nhau cuối tháng trước đây mà.”
“Ừ, chính là tấm ảnh đó đấy.”
Nam mỉm cười gật đầu rồi ấn nhẹ ngón tay xuống nút thực thi lệnh in trên mặt máy. Shiroma cùng A Thạch lập tức bước sát lại cạnh mép bàn, chăm chú dõi theo từng nhịp tờ giấy trắng tinh trượt qua trượt lại qua khe máy để phủ lên từng lớp màu vàng, hồng, lam rồi dần dần kết tụ thành hình hài rõ nét. Chú chim vàng Chocobo đứng ngay sau lưng Shiroma thấy tờ giấy cứ thò ra thụt vào phát ra tiếng kêu rì rì vui tai thì lại tò mò cúi thấp cái đầu lớn xuống sát mặt bàn, nghiêng chiếc mỏ vàng khẽ hỏi:
“Kweh?”
Shiroma dịu dàng đưa tay vỗ nhẹ lên bờm lông trên đỉnh đầu người bạn đồng hành, nhỏ giọng giải thích:
“Chiếc máy nhỏ này đang in hình của tớ với cậu ra giấy đấy Chocobo ạ.”
Chocobo nghiêng đầu sang một bên như thể đang cố hiểu xem tại sao bóng dáng của mình lại có thể chui vào nằm trên một mảnh giấy phẳng lì được. Ngay khi lớp màng bảo vệ cuối cùng vừa cán xong và tờ giấy ảnh được đẩy hẳn ra khay đỡ, Nam liền cầm mép ảnh nhấc lên rồi trao tận tay cho cô bé pháp sư trắng.
Shiroma nâng niu đón lấy tấm ảnh nhỏ bằng cả hai bàn tay, cúi đầu ngắm nhìn gương mặt tươi cười của chính mình trong bộ áo choàng trắng viền đỏ, rồi nhìn sang bộ lông vàng rực rỡ của Chocobo đứng kề bên cạnh trong khung hình. Ngắm tấm ảnh trên tay một hồi thật lâu, cô bé lại từ từ ngẩng đầu lên nhìn chú chim Chocobo bằng xương bằng thịt đang đứng chớp đôi mắt tròn xoe ngay bên cạnh mình.
Trong gian khách ngập ánh nắng chiều êm dịu không có tiếng khóc sướt mướt nào vang lên cả, mà chỉ có một nụ cười trong trẻo và bình yên kéo dài thật lâu trên gương mặt cô bé pháp sư nhỏ tuổi. Shiroma áp nhẹ mép tấm ảnh vào trước ngực áo, ngước mắt lên hỏi Nam với giọng đầy trân trọng:
“Anh Nam cho phép em được giữ tấm ảnh này làm của riêng nhé?”
Nam tựa lưng vào thành ghế, phẩy tay đáp như lẽ đương nhiên:
“Tôi bấm máy in tấm ảnh đó ra là để tặng riêng cho em chứ không thì in ra làm gì.”
“Em cảm ơn anh Nam nhiều lắm ạ!”
“Khoan hãy cất vội, trong máy vừa chạy ra tới hai bản in giống nhau cơ mà.”
Shiroma ngạc nhiên ngẩng đầu lên nhìn tờ giấy ảnh thứ hai vừa được trục lăn của chiếc máy in đẩy tiếp ra khay đỡ. Nam cầm tấm ảnh thứ hai ấy lên, giữ vẻ mặt hết sức nghiêm túc rồi chỉ tay về phía chú chim lớn:
“Tấm đầu tiên là phần của em, còn bản in thứ hai này là quà tặng riêng cho cậu bạn Chocobo.”
Chú chim vàng Chocobo vừa nghe thấy Nam nhắc tới đúng tên mình liền lập tức ưỡn ngực vỗ nhẹ hai cánh, thích thú kêu vang cả gian nhà:
“Kweh!”
Nhìn điệu bộ hăng hái nhận quà của người bạn đồng hành, Shiroma không nhịn được phải bật cười khúc khích rồi quay sang hỏi Nam:
“Nhưng trên người Chocobo toàn là lông vũ chứ đâu có túi áo như chúng ta, cậu ấy biết cất giữ tấm ảnh này bằng cách nào bây giờ hả anh?”
Câu hỏi hết sức thực tế của Shiroma khiến chính Nam cũng phải ngẩn người ra gãi đầu vì lúc bấm nút in hai bản hắn chưa kịp tính tới chi tiết này. Sau một hồi cả bọn cùng bàn bạc, cuối cùng tấm ảnh kỷ niệm thuộc quyền sở hữu của Chocobo đã được A Thạch mang ra tận gian chuồng gỗ thoáng mát cạnh nhà kho, dùng một chiếc kẹp nhựa màu đỏ kẹp chặt lên thanh xà gỗ nằm cao hơn tầm với của chiếc mỏ chim một đoạn an toàn để Chocobo mỗi khi nằm nghỉ đều có thể ngẩng đầu lên ngắm mà không sợ vô tình mổ rách mất ảnh.
Sau khi giúp Chocobo treo xong bức ảnh lên thanh gỗ trên cao, cậu nhóc A Thạch đứng lùi lại ngắm nghía tấm hình bóng loáng dưới ánh nắng chiều một lúc lâu, rồi bỗng nhiên quay phắt người chạy một mạch về lại gian chính và đứng trước mặt Nam với ánh mắt đầy mong mỏi:
“Nam ca ơi, đệ cũng muốn xin một tấm như thế này.”
Nam đang thu gọn cuộn cáp nối trên mặt bàn liền ngẩng lên nhìn cậu nhóc chạy việc của viện:
“Đệ cũng muốn có một tấm ảnh chụp chung với Chocobo ấy hả?”
“Dạ vâng, đệ muốn có một tấm hình đứng cạnh Chocobo giống của tỷ Shiroma cơ.”
“Huynh nhớ trong thẻ nhớ máy ảnh đã có tới mấy tấm chụp cảnh đệ đang chạy nhảy với Chocobo ngoài sân từ tuần trước rồi còn gì.”
“Mấy tấm hình đó toàn nằm tít ở bên trong máy ảnh thôi, chứ đệ làm gì đã có tấm nào cầm được trên tay đâu.”
Nghe câu trả lời ngắn gọn và chân thật của A Thạch, Nam lập tức hiểu ngay tâm tư của cậu nhóc nên mỉm cười cầm chiếc máy ảnh kỹ thuật số màu bạc đứng dậy:
“Được rồi, muốn có ảnh cầm tay thì giờ đi ra sân chụp luôn một bức mới.”
Vừa được ông chủ viện gật đầu đồng ý, A Thạch liền mừng rỡ reo lên một tiếng rồi chạy vội ra hiên vẫy gọi Chocobo cùng bước ra khoảng sân gạch rộng rãi trước cửa. Có điều việc bắt một cậu thiếu niên hiếu động và một chú chim vàng tinh nghịch đứng yên tạo dáng nghiêm trang trước ống kính hóa ra lại là một nhiệm vụ bất khả thi.
Ở lần bấm máy đầu tiên, đúng lúc A Thạch vừa đứng nghiêm chỉnh xong thì Chocobo lại bất ngờ quay ngoắt đầu sang bên trái để nhìn theo một con bươm bướm bay ngang qua bờ tường. Đến tấm thứ hai, khi Nam vừa lấy nét xong thì Chocobo lại tinh nghịch cúi đầu dùng mỏ rỉa nhẹ vào chỏm tóc mái của A Thạch khiến cậu nhóc bị nhột phải rụt cổ lại và cười phá lên hết cỡ. Phải sang tới lần bấm máy thứ ba, cả người lẫn chim mới chịu đứng im nhìn thẳng vào ống kính máy ảnh cùng một lúc, nhưng điệu bộ gồng cứng của cả hai lại trông gượng gạo chẳng khác nào đang bị phạt đứng.
Khi Nam gọi A Thạch lại xem màn hình máy ảnh để tự chọn một trong ba tấm đem in, cậu nhóc ngắm đi ngắm lại một hồi rồi dứt khoát chỉ ngón tay vào bức ảnh thứ hai. Nam hơi nhướng mày hỏi lại cho chắc:
“Đệ chắc chắn là muốn in tấm đang bị Chocobo rỉa tóc cười tít cả mắt này chứ không lấy tấm đứng nghiêm túc thứ ba kia à?”
“Đệ chọn tấm thứ hai này cơ, nhìn cảnh hai đứa đang đùa nhau thế này vui hơn nhiều.”
Nam tôn trọng lựa chọn của cậu nhóc nên cắm cáp truyền bức ảnh thứ hai sang máy in và bấm nút khởi chạy. Khi tờ giấy ảnh còn ấm nóng được đẩy ra khỏi khe máy, A Thạch cẩn thận đón lấy bằng hai tay, đứng ngắm nhìn hình ảnh của mình và Chocobo chăm chú suốt một lúc lâu rồi mới nâng niu đút gọn tấm ảnh vào sâu trong ngăn túi áo trước ngực chứ không đem ra kẹp lên sợi dây gai ở gian chính.
Thấy A Thạch cất ảnh thẳng vào túi áo vải, Nam không khỏi lên tiếng nhắc nhẹ:
“Đệ nhét thẳng vào túi áo thế kia lúc cưỡi ngựa chạy việc ngoài đường không sợ mồ hôi thấm vào làm nhàu nát mất ảnh à?”
A Thạch vỗ nhẹ bàn tay lên ngực áo, cười toe toét khoe:
“Nam ca yên tâm, bên trong túi ngực của đệ có may sẵn một lớp túi vải dầu nhỏ đựng thẻ bài rồi, đệ kẹp tấm ảnh vào giữa hai miếng bìa cứng trong đó thì có phi ngựa cả ngày cũng chẳng cong nổi một góc giấy đâu.”
Nam nhìn nụ cười rạng rỡ của cậu thiếu niên rồi khẽ gật đầu. Chỉ qua một buổi chiều ngắn ngủi quan sát cách mỗi thành viên trong viện đón nhận những mảnh giấy nhỏ bé bước ra từ chiếc máy in, hắn đã thấm thía rằng cùng là một tấm ảnh in ra nhưng mỗi người lại có một cách cất giữ và gửi gắm tình cảm rất riêng. Mina thích treo những bức ảnh tập thể lên sợi dây gai giữa gian chính để cả nhà cùng ngắm, A Thạch chọn cách giấu tấm hình vui vẻ nhất vào sát túi ngực để mang theo trên mọi nẻo đường chạy việc, Ciel lặng lẽ kẹp bức ảnh chụp trong xưởng lên góc bảng gỗ trước bàn vẽ, còn Shiroma lại dành hẳn một bản in treo ngay chỗ ngủ cho người bạn lông vàng của mình.
Khi bóng chiều đã buông hẳn xuống các mái ngói cổ kính của thành Thanh Hà và những ngọn đèn lồng ngoài hiên bắt đầu được thắp sáng, Hứa An mới hoàn tất việc đo đạc ngoài khu đất sau xưởng rèn Lão Tề và quay trở về viện. Từ lúc trưa nghe A Thạch kể chuyện ở nhà có thiết bị mới in được hình người ra giấy, cậu quản sự trẻ tuổi đã biết sơ qua thông tin nhưng vẫn chưa có dịp nhìn tận mắt.
Nam vẫn giữ thói quen cũ là không chủ động giải thích nguồn gốc xuất hiện của chiếc máy in, và bản thân Hứa An vốn là người tinh tế biết giữ chừng mực nên cũng chẳng bao giờ mở miệng dò hỏi xem Đông gia lấy món đồ kỳ lạ này từ đâu ra. Cậu thanh niên vừa bước qua bậc thềm gỗ vào trong gian chính đã lập tức chú ý tới sợi dây gai căng dọc bức tường phía trong, đôi chân tự khắc dừng lại trước hàng ảnh đang đung đưa dưới ánh đèn vàng ấm áp.
“Mấy tấm giấy kẹp trên dây này là…”
Nam đang ngồi uống trà bên bàn lớn liền đặt chén sứ xuống, điềm nhiên đáp:
“Là mấy bức ảnh trong máy chụp hình được huynh đem in ra giấy đấy.”
Hứa An bước lại gần bức tường gỗ hơn một chút để quan sát kỹ từng khung hình. Bức ảnh chụp đại gia đình Tây Sơn vào dịp Tết Nguyên đán vừa rồi được Mina ưu ái kẹp ngay ở vị trí chính giữa sợi dây, trong đó có hình ảnh Hứa An đang mặc bộ áo dài xanh lam mới may đứng hơi gồng người ở hàng sau.
Hứa An đứng im lặng ngắm nhìn gương mặt có phần cứng nhắc của chính mình trong bức ảnh Tết suốt một lúc lâu, rồi bỗng buột miệng tự nhận xét một câu gọn lỏn:
“Trông mặt đệ lúc đứng chụp hình ngố thật đấy.”
Nam ngồi ở bàn trà nghe vậy thì bật cười sảng khoái, gật đầu phụ họa ngay:
“Huynh lúc nãy cầm tấm ảnh lên xem cũng nghĩ y hệt như đệ vậy.”
Từ dưới gian bếp phía sau, tiếng của Mina lập tức vọng lên nhắc nhở:
“Anh đừng có trêu em nó thế chứ.”
Nam vội vàng thu lại nét cười trên mặt, giơ tay chống chế:
“Thì tôi chỉ nói đùa theo lời cậu ấy một câu cho vui thôi mà.”
Hứa An chẳng lấy câu trêu đùa của ông chủ viện làm để bụng, sau khi ngắm hết lượt các bức ảnh kẹp trên dây mới quay đầu nhìn quanh bàn rồi hỏi:
“Mấy tấm hình rõ nét thế này là làm cách nào để in ra được vậy huynh?”
Nam hất cằm chỉ tay về phía chiếc hộp nhỏ màu trắng sữa đang đặt cạnh chiếc máy ảnh kỹ thuật số ở góc bàn:
“Cắm dây truyền hình từ máy chụp sang rồi bấm nút cho nó tự chạy ra thôi.”
“Chỉ bằng một cái hộp nhỏ xíu bằng quyển sách này thôi á?”
“Ừ, nhìn nhỏ gọn thế thôi chứ in nhanh và nét lắm.”
Hứa An bước tới bên mép bàn, cúi xuống quan sát lớp vỏ nhựa trắng của chiếc máy in mini với ánh mắt cẩn trọng quen thuộc của một người quản lý hậu cần. Cậu không hỏi Nam mua cỗ máy này ở đâu hay giá bao nhiêu bạc, mà câu đầu tiên cậu cất lời hỏi lại xoay quanh đúng vấn đề cốt lõi nhất:
“Thế loại giấy chuyên dụng để cho vào máy in này viện mình hiện có nhiều không huynh?”
Nam nhìn vẻ mặt nghiêm túc của cậu quản sự mà không nhịn được phải bật cười thành tiếng:
“Đúng là chỉ có đệ với huynh mới hợp cạ nhau ở cái khoản lo xa chuyện hao hụt vật tư này thôi.”
“Tổng cộng trong kho có tất cả bao nhiêu tờ hả huynh?”
“Cả thùng đi kèm có đúng năm trăm tờ giấy ảnh.”
Hứa An nghe con số năm trăm thì khẽ gật đầu, ánh mắt liếc qua bảng ghi chú số lượng giấy đã dùng mà Ciel dán trên nắp hộp rồi dặn ngay:
“Năm trăm tờ nghe thì nhiều nhưng không có chỗ mua bù đâu, vậy nên mọi người trong nhà nhớ tiết kiệm đừng có bấm in lung tung đấy.”
Ngay khi câu dặn dò của Hứa An vừa dứt, giọng nói đầy vẻ đắc thắng của Mina lại từ dưới gian bếp vọng lên:
“Anh Nam nghe thấy chưa, tôi đã bảo mà.”
Nam dở khóc dở cười quay đầu nhìn về phía cửa bếp, lớn tiếng đáp trả:
“Bà ở dưới bếp nấu cơm thì cứ lo nấu cơm đi, đừng có hóng chuyện trên này rồi thêm dầu vào lửa nữa.”
Hứa An đứng bên dây treo ảnh ngắm nhìn bức hình chụp chung của cả nhà thêm một lượt nữa, sau đó mới lẳng lặng xoay người định bước ra ngoài gian cổng để thu dọn sổ sách trước giờ ăn tối. Thấy cậu thanh niên quay lưng đi tay không, Nam liền ngạc nhiên gọi với theo:
“Ơ kìa Hứa An, đệ không định lấy một tấm ảnh về cất à?”
Hứa An dừng bước ngay gần ngưỡng cửa gỗ, ngoái đầu lại hỏi:
“Đệ lấy cái gì cơ huynh?”
“Thì lấy một tấm ảnh in sẵn mang về bàn làm việc hoặc phòng riêng của đệ ấy.”
Hứa An nhìn sang chiếc máy in trắng trên bàn rồi lại nhìn Nam với vẻ mặt hết sức thực tế:
“Đệ lấy thêm một tấm ảnh đem về phòng để làm gì đâu?”
Nam nhất thời đứng ngẩn ra trước câu hỏi ngược lại quá đỗi hợp lý theo đúng phong cách thực dụng của Hứa An, phải mất hai giây sau mới đáp:
“Thì mọi người trong viện ai cũng lấy một tấm đem về giữ làm kỷ niệm riêng cả mà.”
“Trên sợi dây căng ở gian chính này đã có sẵn bức ảnh chụp chung của cả nhà rồi, ngày nào đi qua đi lại chẳng nhìn thấy.”
“Nhưng cầm một bản in riêng của mình trong tay vẫn khác với việc nhìn ảnh treo chung trên tường chứ.”
Hứa An đứng trầm ngâm suy nghĩ thêm vài giây rồi vẫn nhẹ nhàng lắc đầu từ chối:
“Thôi không cần tốn thêm giấy in bản riêng cho đệ đâu, cứ để dành giấy cho những dịp cần thiết hơn đi huynh.”
Biết tính Hứa An một khi đã nói không cần là không thích bị người khác nài ép, Nam cũng chỉ gật đầu chiều theo ý cậu chứ không cố bấm máy in thêm lúc đó. Thế nhưng đến tận khuya hôm ấy, khi hầu hết các phòng trong viện Tây Sơn đã tắt đèn đi ngủ và Nam cầm cây đèn pin đi một vòng kiểm tra chốt cửa gian cổng lần cuối, bước chân của hắn bỗng chầm chậm dừng lại bên cạnh chiếc bàn làm việc quen thuộc của Hứa An.
Nằm ngay ngắn ở góc bên phải mặt bàn gỗ, ngay bên cạnh ống cắm mấy cây bút bi mực đen và cuốn sổ cái bìa vải, có một tấm ảnh vừa mới được in ra từ hồi chiều tối. Bức hình đặt trên bàn ấy là một khung hình chụp lén cảnh Hứa An đang ngồi cúi đầu dùng bút bi ghi chép sổ sách bên bàn cổng, còn cậu nhóc A Thạch thì đang đứng nghiêng người sát bên cạnh, hai tay chống lên mép bàn chăm chú nhìn theo từng con chữ của sư huynh mình.
Nam đứng dưới ánh đèn lồng dịu nhẹ nhìn tấm ảnh ấy mà chẳng tài nào nhớ nổi bức hình được bấm chụp vào buổi chiều tháng nào, có lẽ là do Ciel hoặc Mina đã tiện tay ghi lại trong một lần mang máy ảnh đi ngang qua sân trước rồi lặng lẽ in ra đặt lên bàn cho cậu quản sự. Tấm ảnh nhỏ bé được Hứa An đặt nằm phẳng phiu bên dưới một thanh chặn giấy bằng đồng sáng bóng để gió đêm lùa qua khe cửa không làm bay mất, không dùng kẹp nhựa treo lên cao mà cũng chẳng giấu giếm vào ngăn kéo khóa kín. Nam đứng lặng yên ngắm nhìn góc bàn gọn gàng ấy trong vài giây tĩnh lặng, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười rất nhẹ rồi mới êm ái xoay người bước tiếp về phòng nghỉ mà không đánh tiếng hỏi han bất cứ điều gì.
Bắt đầu từ tuần lễ thứ hai của tháng đầu hạ, Nam đâm ra chăm chỉ khoác chiếc máy ảnh kỹ thuật số màu bạc đi loanh quanh khắp viện và mang cả ra ngoài phố nhiều hơn hẳn trước kia. Hắn chịu khó mang máy theo bên mình như vậy là bởi giờ đây sau mỗi cú bấm màn trập, hắn đã có thể in ngay ra một tấm hình cầm tay để trao tặng cho chính người xuất hiện trong khung ảnh.
Mục tiêu đầu tiên lọt vào tầm ngắm của Nam không ai khác chính là Lão Tề bên phố thợ rèn. Sáng hôm ấy, lão thợ rèn già đang đứng đổ mồ hôi hột ở hành lang hẹp phía sau dãy nhà kho của viện Tây Sơn để lắp ghép và căn chỉnh lại bộ khung giá sắt chịu lực cùng dãy bản lề thép dày bản mới đúc cho cánh cửa kho phụ.
Nam cầm chiếc máy ảnh bước vòng qua góc tường đá, đứng cách đống thanh giằng sắt một quãng an toàn rồi đánh tiếng hỏi xin được bấm một kiểu ảnh lưu niệm lúc ông lão đang làm việc. Lão Tề tay vẫn cầm chiếc búa nguội và cây thước sắt đo cữ, ngước đôi mắt nheo nheo dưới hàng lông mày rậm nhìn Nam một lượt rồi mới gật đầu đồng ý, nhưng không quên gằn giọng dặn trước là cấm được đứng vướng chân chỗ thợ đang lấy dấu khoan chốt sắt.
Nam vui vẻ lùi thêm hai bước chân ra phía mép rãnh thoát nước, nâng chiếc máy ảnh kỹ thuật số lên ngang tầm mắt rồi căn chỉnh khung hình. Ngay khoảnh khắc tiếng màn trập nhảy tách một cái thật khẽ giữa khoảng sân tĩnh lặng, Lão Tề đang cúi người áp thước sắt vào thanh trụ thép bỗng quay phắt đầu lại lườm thẳng vào ống kính:
“Đã bấm chụp xong rồi thì mau tránh ra chỗ khác đi, đừng có đứng chình ình chắn mất ánh sáng chỗ ta đang đo cữ thanh sắt!”
Nam hạ chiếc máy ảnh xuống trước ngực, cười xòa thanh minh:
“Tôi đã lùi ra đứng tận ngoài mép hiên cách chỗ ông cả trượng rồi còn gì.”
“Đứng xa mà cái bóng của tiểu tử ngươi vẫn đổ xiên vào vạch phấn trên thanh giằng sắt của ta đây này, tránh ra để lão già này còn làm cho kịp buổi sáng.”
“Rồi, để tôi cúi xuống ngó lại tấm hình xem có bị nhòe nét không rồi tôi đi chỗ khác ngay.”
Lão Tề hừ mũi một tiếng rồi lại quay lưng cúi xuống tiếp tục công việc gõ chỉnh khớp nối sắt thép của mình. Đến đầu giờ chiều, khi Lão Tề đã lắp xong toàn bộ dãy khung sắt chịu lực và ra ngồi nghỉ uống bát nước trà đá dưới hiên gian chính, Nam mới mang tấm ảnh vừa chạy qua máy in nhiệt ra đưa tận tay cho ông lão.
Trong bức ảnh nhỏ cỡ lòng bàn tay hiện lên một khung cảnh cực kỳ sống động bên hiên kho hàng, Lão Tề đang đứng dạng chân vững chãi bên cạnh đống dụng cụ cơ khí, một tay nắm chặt thanh giằng sắt đen nhánh vừa rèn xong còn tay kia cầm cây thước sắt, đôi mắt sắc lẻm đang ngoái nghiêng nhìn thẳng về phía ống kính với thần thái hệt như sắp sửa mở miệng mắng té tát gã thợ chụp ảnh đứng đối diện. Toàn bộ khí chất gàn bướng mà tận tụy của Lão Tề được thu gọn không sai một mảy may trên mặt giấy bóng.
Lão thợ rèn già cầm tấm ảnh bằng hai ngón tay thô ráp đầy vết chai sần vì năm tháng cầm búa đập đe, cứ thế cúi đầu ngắm nhìn hình bóng của chính mình suốt một lúc lâu mà chẳng nói câu nào. Thấy ông lão im lặng mãi, Nam ngồi đối diện mới đánh tiếng hỏi thử:
“Sao thế Lão Tề, ông nhìn tấm hình này thấy không ưng bụng à?”
“Nhìn giống hệt người thật.”
“Máy chụp thẳng từ người thật ra giấy thì đương nhiên là phải giống rồi.”
“Có điều mặt mũi lão già này lên hình nhìn dữ dằn quá, chẳng đẹp lão chút nào.”
“Thì diện mạo người thật ở ngoài đời lúc đang cầm búa rèn sắt cũng có hiền lành đẹp đẽ hơn trong ảnh chút nào đâu ông.”
Lão Tề lập tức trợn tròn mắt nhìn chằm chằm vào mặt gã chủ viện trẻ tuổi, khiến Nam theo phản xạ phải rụt cổ dịch lùi mông trên ghế dài ra xa nửa thước để đề phòng ông lão vung tay gõ cho một cái. Thế nhưng Lão Tề hôm nay lại chẳng giơ tay dọa nạt mà chỉ khẽ nhếch mép dưới chòm râu bạc, sau đó cẩn thận phủi sạch bụi sắt trên vạt áo rồi cất gọn tấm ảnh vào sâu trong ngăn túi áo ngực bên trong.
Cất ảnh xong xuôi, ông lão mới ngước mắt nhìn Nam hỏi một câu:
“Tấm hình này tiểu tử ngươi tặng luôn cho ta đấy phỏng?”
“Vâng, tôi in ra để biếu riêng ông cất làm kỷ niệm mà.”
“Thế ngươi có định trừ tiền giấy mực của tấm hình này vào khoản tiền công rèn khung sắt tháng này của ta không đấy?”
Nam nghe câu hỏi cảnh giác của lão thợ rèn mà chỉ biết dở khóc dở cười nhìn ông lão:
“Trong mắt Lão Tề thì con người tôi keo kiệt bủn xỉn với chỗ thợ thuyền quen biết tới tận mức đó cơ à?”
Lão Tề thản nhiên bưng bát trà lên uống một ngụm lớn mà chẳng thèm gật hay lắc đầu trả lời câu hỏi ấy, làm Nam ngồi đối diện chỉ biết tức anh ách trong bụng vì biết tỏng ông lão đang ngầm đồng tình.
Nếu như Lão Tề đón nhận tấm ảnh kỷ niệm bằng vẻ trầm ngâm của một người thợ thủ công già dặn, thì phản ứng của trận pháp sư Ngô Thành khi cầm trên tay bức ảnh chụp mình vào hai hôm sau lại rẽ sang một hướng khác hẳn. Vừa đón lấy mảnh giấy ảnh còn thơm mùi màng ép nhiệt từ tay Nam, Ngô Thành thậm chí còn chưa thèm nhìn xem mặt mũi mình trong ảnh tròn méo ra sao mà đã lập tức đưa sát mép giấy lên tận sống mũi để soi xét kết cấu vật liệu:
“Mảnh giấy mỏng dính chẳng có lấy một nét khắc trận văn thế này mà làm cách nào lại tự hiện được màu sắc chi tiết lên bề mặt vậy hả?”
Chỉ cần nghe đúng một câu mở đầu sặc mùi nghiên cứu kỹ thuật ấy của vị trận pháp sư gàn dở, Nam đã lập tức đọc vị được ngay ý đồ tiếp theo trong đầu ông ta nên giơ thẳng bàn tay lên chặn trước mặt:
“Không được đâu nhé.”
Ngô Thành đang mải săm soi mép giấy ảnh liền ngơ ngác ngẩng đầu lên nhìn Nam:
“Ta mới cầm tấm hình lên xem chứ đã kịp mở miệng hỏi mượn cái gì của ngươi đâu.”
“Tôi cứ tuyên bố trước là chiếc máy in ra tấm ảnh này cấm chỉ định mọi hành vi tháo vỏ dưới mọi hình thức.”
“Ta đang hỏi nguyên lý hiển thị màu trên tờ giấy chứ có đòi vác búa ra tháo tung tờ giấy ảnh của ngươi đâu mà sợ?”
“Với cái tính thấy đồ lạ là ngứa nghề của ông thì tôi cứ phải rào trước đón sau cho chắc ăn.”
Đúng lúc hai người còn đang nhìn nhau gườm gườm bên bàn trà, Ciel cầm tập bản vẽ cơ cấu từ trong xưởng bước ra hiên và điềm tĩnh góp lời:
“Nguyên lý in nhiệt của chiếc máy này thì ông có thể sang bàn kỹ thuật xem qua sơ đồ cấu tạo phần cơ, nhưng riêng giấy in và băng mực đi kèm là nguồn vật tư hữu hạn không thể chế tạo bổ sung được nên không được phép làm hỏng tờ nào đâu.”
Vừa nghe cô bé kỹ sư trưởng bật đèn xanh cho việc xem sơ đồ nguyên lý, đôi mắt của Ngô Thành lập tức sáng rực lên và chuyển hẳn mục tiêu sang phía Ciel. Nam đứng bên cạnh bất lực quay sang nhìn cô bạn nhỏ của mình:
“Bà lại vừa tiếp tay cho ông ấy tìm cớ săm soi máy móc của viện mình rồi đấy.”
“Tôi chỉ giải thích đúng sự thật khách quan về giới hạn vật tư thôi mà.”
Cuối cùng, để chiều lòng vị đối tác kỹ thuật từng giúp viện cải tạo chiếc tủ lạnh chạy bằng linh thạch, Nam vẫn đồng ý cho Ngô Thành đứng bên bàn làm việc của Ciel để quan sát chiếc máy in ảnh mini vận hành một lượt, với điều kiện tiên quyết là chỉ được nhìn tận mắt tại chỗ chứ không được phép mượn mang về nhà nghiên cứu. Thú vị ở chỗ, sau khi đã thỏa mãn trí tò mò về cơ chế ép nhiệt ba lớp màu, Ngô Thành lại quay sang cầm tấm ảnh của chính mình lên ngắm nghía lâu hơn hẳn lúc xem máy.
Bức ảnh ấy được Nam bấm chụp ngẫu nhiên bên trong xưởng cơ khí vào tuần trước, ghi lại khoảnh khắc Ngô Thành và Ciel đang cùng cúi đầu chụm sát vào nhau bên trên một tấm bản vẽ thiết kế bộ tời hàng cỡ lớn. Ngô Thành đưa ngón tay vuốt nhẹ dọc mép tấm ảnh bóng loáng, nhìn mái tóc điểm bạc và những nếp nhăn nơi khóe mắt của mình trong hình rồi khẽ chép miệng cảm thán:
“Chẳng hiểu cái hộp chụp hình của ngươi kiểu gì mà nhìn ta ở trên giấy trông già nua thế không biết.”
Ciel đang đứng sắp xếp lại đống thước đo bên cạnh nghe vậy liền đáp tỉnh rụi mà chẳng cần ngẩng đầu lên:
“Thì tuổi thật của ông Ngô ở ngoài đời vốn dĩ cũng đã già rồi còn gì nữa.”
Ngô Thành lập tức quay phắt đầu sang trừng mắt nhìn cô bé đồng nghiệp nhỏ tuổi, còn Nam đứng tựa cửa ở phía xa phải vội vàng cúi đầu lấy tay che miệng cười rung cả vai.
Trong số những người bạn lâu năm của viện Tây Sơn được Nam mang máy ảnh đi chụp tặng, nhân vật khiến hắn phải tốn nhiều công sức căn chỉnh nhất lại chính là Lưu chưởng quầy ở quán trà nội thành. Sự kỹ tính của ông chủ quán trà không nằm ở việc ông lão từ chối đứng trước ống kính, mà trái lại, vừa nhìn thấy Nam rút chiếc máy ảnh màu bạc từ trong túi vải ra là Lưu chưởng quầy đã lập tức đặt ấm trà xuống, ngồi thẳng lưng trên chiếc ghế bành gỗ lim, cẩn thận vuốt phẳng từng nếp gấp trên vạt áo dài rồi nghiêm giọng dặn nếu chụp ra mà thấy góc mặt không phương phi đĩnh đạc là bắt buộc phải bấm chụp lại ngay.
Nam cầm máy ảnh đứng trước quầy pha trà, nhìn điệu bộ chỉnh tề của ông lão mà không khỏi bật cười trêu:
“Mới nhìn thấy cái máy chụp hình lần thứ hai mà ông thích nghi với việc tạo dáng nhanh thật đấy Lưu chưởng quầy.”
Lưu chưởng quầy vuốt lại chòm râu dưới cằm cho thật suôn, nghiêm mặt đáp:
“Đã mất công đứng yên cho tiểu tử ngươi lưu lại hình bóng thì phải chụp cho thật tử tế đàng hoàng chứ sao.”
“Thế ông đã ngồi vừa ý chưa hay còn muốn yêu cầu thêm điều kiện gì nữa nào?”
“Ngươi bước dịch sang bên phải hai bước đi, lấy ánh sáng nắng sớm chiếu xiên từ khung cửa sổ bên này vào thì mặt mũi nhìn mới sáng sủa rõ nét được.”
Nam ngạc nhiên ngước nhìn vạt nắng chiếu qua song cửa sổ gỗ của quán trà rồi quay lại hỏi ông lão:
“Ông chưa từng cầm máy chụp ảnh bao giờ mà cũng rành chuyện chọn hướng ánh sáng hắt vào mặt thế cơ à?”
“Ta không biết dùng máy của ngươi nhưng hai con mắt trên mặt ta thì vẫn nhìn rõ chỗ nào sáng chỗ nào tối chứ.”
Nam đành ngoan ngoãn nghe theo sự chỉ đạo nghệ thuật của ông chủ quán trà, dịch chân sang phía cửa sổ và bấm chụp liên tiếp ba kiểu ảnh ở ba khoảng cách khác nhau để Lưu chưởng quầy tự tay xem màn hình chọn lấy tấm ưng ý nhất. Khi Nam kết nối dây cáp với chiếc máy in mini mang theo trong túi đeo chéo và in tấm ảnh được chọn ra mặt giấy, Lưu chưởng quầy đón lấy bức hình bằng cả hai tay rồi bỗng dưng im lặng ngắm nhìn suốt một hồi rất lâu.
Phản ứng lặng lẽ ấy của ông lão phố chợ khiến Nam đứng bên cạnh cũng thấy hơi bất ngờ. Ông chủ quán trà vốn hay càm ràm thường ngày lúc này không buông lời nói đùa, không hỏi dò giá trị của món đồ lạ, cũng chẳng chê bai góc chụp lấy một câu, mà chỉ chầm chậm đưa đầu ngón tay cái chạm rất khẽ vào đường viền trắng quanh mép tấm ảnh.
“Màu mực in trên mảnh giấy nhỏ này giữ được khoảng bao lâu hả tiểu tử?”
“Chuyện tuổi thọ chính xác đến từng năm thì tôi cũng chưa kiểm chứng hết được ông ạ.”
“Liệu có giữ nguyên vẹn được độ dăm bảy năm không?”
“Nếu ông cất ở chỗ khô ráo thoáng mát và tránh phơi ra ngoài nắng gắt thì có thể giữ bền được lâu hơn thế nhiều.”
Lưu chưởng quầy nghe vậy thì khẽ gật đầu, mắt vẫn không rời khỏi tấm ảnh trên tay rồi ngước lên nói với Nam:
“Vậy ngươi bấm máy in thêm cho lão già này một tấm nữa thành hai bản đi.”
Nam hơi ngạc nhiên nhướng mày hỏi lại:
“Ông lấy tận hai tấm giống hệt nhau cơ à?”
“Ừ, in cho ta hai tấm.”
“Bộ ông tính giữ một tấm bày ở quầy trà còn một tấm đem ra chợ bán kiếm lời đấy phỏng?”
Lưu chưởng quầy lập tức lườm cho Nam một cái sắc lẻm:
“Ta lấy thêm một bản để gửi cho hai đứa con ta giữ làm kỷ niệm chứ bán chác cái gì mà bán.”
Nghe nhắc tới hai chữ người nhà, Nam lập tức hiểu ý nên không hỏi tò mò thêm câu nào nữa mà ấn nút trên máy in cho chạy ra thêm một bản sao thứ hai. Ngay khi nhận đủ hai tấm ảnh cầm trên tay, Lưu chưởng quầy liền thò tay vào ngăn kéo quầy thu ngân lấy ra mấy đồng bạc lẻ đặt lên mặt bàn gỗ đẩy về phía Nam, nhưng Nam đã nhanh tay đẩy trả lại ngay:
“Chỗ ảnh này tôi không bán lấy tiền đâu ông.”
“Tính ta xưa nay sòng phẳng quen rồi, không thích lấy không vật tư của người khác.”
“Tôi mang máy ra đây chụp cho ông đâu phải là đi mở dịch vụ kinh doanh chụp ảnh dạo.”
“Không phải làm dịch vụ kiếm tiền thế tự dưng ngươi lặn lội mang máy tới in ảnh cho lão già này làm cái gì?”
“Thì vì chỗ ông với bọn tôi là người quen lâu năm từ hồi mới tới thành Thanh Hà chứ còn vì sao nữa.”
Lưu chưởng quầy ngừng tay trên mặt bàn, ngước đôi mắt từng trải nhìn thẳng vào Nam một lúc lâu. Nhận thấy ánh mắt của ông lão bắt đầu chuyển sang vẻ nghiêm nghị không chịu nhượng bộ, Nam đành phải nhanh trí lùi một bước để mở lối thoát cho cả hai bên:
“Thôi được rồi, nếu ông nhất quyết không chịu nhận không thì để lần sau tôi ghé quán, ông lấy búp trà ngon nhất trong hũ sành ra pha đãi tôi một ấm thật đặc là coi như thanh toán sòng phẳng nhé.”
Nghe phương án đổi ảnh lấy trà hợp tình hợp lý ấy, Lưu chưởng quầy mới chịu giãn cơ mặt ra và gật đầu chấp thuận thu mấy đồng bạc lẻ về ngăn kéo. Giữa hai người không có chuyện lập bảng báo giá từng tờ giấy ảnh, không có tấm biển hiệu chụp hình lấy ngay nào được treo trước cửa quán, và càng không có chuyện Nam nhân cơ hội phát hiện ra nhu cầu mới của thị trường bản địa để mở tiệm kinh doanh thu bạc lẻ.
Đúng lúc Nam đang thu gọn dây cáp vào túi vải thì một vị khách thương ngồi uống trà ở bàn bên cạnh tình cờ nhìn thấy tấm ảnh chân dung rõ nét như người thật trên tay Lưu chưởng quầy, liền vội vàng đứng dậy bước tới bên quầy hỏi han:
“Xin hỏi vị huynh đài này, một tấm họa hình kỳ diệu như thế kia thì huynh đài tính giá bao nhiêu bạc để tại hạ đặt làm vài tấm?”
Nam kéo khóa túi đeo chéo lại, lễ độ mỉm cười đáp gọn:
“Mong khách quan thông cảm, thứ này tôi chỉ làm cho người nhà chứ không nhận làm bán ra ngoài.”
Vị khách thương kia thoáng sững người như thể tưởng tai mình vừa nghe nhầm:
“Có đồ quý trong tay mà huynh đài lại bảo không bán là sao?”
“Vâng, đúng là tôi không nhận bán thật.”
“Nếu huynh đài ngại công cán vất vả thì cứ ra giá thoải mái, tại hạ sẵn sàng trả giá cao gấp ba lần tranh vẽ của họa sư trong thành.”
“Dù khách quan có trả giá cao đến mấy thì tôi cũng không nhận làm được đâu.”
“Rốt cuộc là vì cớ làm sao mới được chứ?”
Nam nhìn thẳng vào vị khách đang sốt sắng trước mặt, trả lời bằng lý do thực tế nhất:
“Bởi vì loại giấy dùng để in ra tấm hình này chỉ có một số lượng cố định, dùng hết là hết hẳn chứ không có chỗ nào làm thêm được.”
Thấy vị khách thương kia vẫn còn định mở miệng nài nỉ thêm, Lưu chưởng quầy đứng sau quầy thu ngân đã lập tức gõ nhẹ nắp ấm trà lên mặt bàn gỗ rồi dứt khoát cắt ngang câu chuyện:
“Người ta đã bảo là hết sạch giấy in dự phòng rồi, khách quan mau quay về bàn uống trà kẻo nguội mất bây giờ.”
Nhờ câu nói chặn hậu đầy uy lực của ông chủ quán trà, cuộc mặc cả bất đắc dĩ nơi góc quán mới chịu khép lại tại đó. Bản thân Nam khi bước ra khỏi cửa quán trà cũng chưa biết liệu nhiều năm về sau kỹ thuật của Ciel có thể tự tìm ra công thức chế tạo lại lớp hóa chất cảm nhiệt trên mặt giấy ảnh hay không, nhưng ít nhất là ở thời điểm hiện tại, năm trăm tờ giấy ảnh từ lượt quay thứ bốn mươi chỉ vừa vặn để dùng cho đại gia đình Tây Sơn và một vài người bạn thâm giao thật sự. Hắn không thấy có bất kỳ lý do gì để biến mọi món đồ quý giá quanh mình thành hàng hóa đổi lấy bạc vụn chỉ vì thiên hạ ngoài kia sẵn sàng rút hầu bao trả giá cao.
Bước sang tuần lễ giữa tháng, công việc theo dõi các dấu hiệu dị thường ở dãy núi phía bắc bắt đầu đón nhận thêm một đợt dữ liệu quy mô lớn hơn hẳn trước kia. Lần này thông tin gửi về bàn làm việc của Harpe không còn là một vài vụ việc lẻ tẻ tách rời nhau nữa, mà chính trưởng lão Tạ Vân của Lạc Hà tông đã đích thân cùng tán tu Triệu Khải mang tới viện Tây Sơn ba tập hồ sơ ghi chép dày cộp được thu thập từ ba nguồn độc lập.
Nguồn thứ nhất là báo cáo tuần tra định kỳ của các đệ tử ngoại môn thuộc Lạc Hà tông đóng tại các trạm gác biên viễn, nguồn thứ hai được gom từ lời kể của những tay thợ săn và người đặt bẫy lâu năm sống quanh chân núi, còn nguồn thứ ba đến từ sổ nhật ký hành trình của một đoàn thương nhân chuyên chở dược liệu và da thú đi xuyên qua vùng bắc Thanh Hà rồi vòng sang tuyến đường thương mại phía tây. Trong gian phòng làm việc rộng rãi cạnh cổng viện, Harpe ngồi ngay ngắn ở vị trí trung tâm chiếc bàn gỗ lớn, Hứa An trải phẳng tấm bản đồ địa hình cỡ lớn ra giữa mặt bàn và chặn bốn góc bằng những khối đá mài, còn Nam cùng Ronan cũng kéo ghế ngồi dự ở hai bên nhưng giữ im lặng để nhường toàn quyền điều phối cho vị chỉ huy tóc bạc.
Tạ Vân đặt ba tập hồ sơ bìa giấy bản lên cạnh mép bản đồ, điềm đạm mở lời trước:
“Toàn bộ số ghi chép thực địa từ đầu năm tới nay ở dãy núi phía bắc đều đã được ta sai người gom hết về trong ba tập sổ này.”
Harpe đặt tay lên tập hồ sơ trên cùng, hỏi ngay câu đầu tiên theo đúng quy trình kiểm chứng thông tin:
“Các báo cáo gửi về đây đã được người của Lạc Hà tông sàng lọc sơ bộ độ tin cậy của từng nguồn tin chưa?”
“Những thông tin có từ hai nhân chứng trở lên ta đã cho đối chiếu và lọc riêng ra một phần rồi.”
“Thế còn những mẩu tin chỉ mới nghe truyền miệng qua lời người đi chợ hoặc tiều phu thì sao?”
“Những tin đồn chưa có người tận mắt xác nhận đều được ta dùng mực đỏ đánh dấu ký hiệu riêng ở góc trang để tránh lẫn lộn.”
Harpe khẽ gật đầu hài lòng trước tác phong làm việc mạch lạc và chuẩn xác của vị nữ trưởng lão trẻ tuổi. Trải qua nhiều tháng phối hợp trao đổi thông tin giữa viện Tây Sơn và Lạc Hà tông, giữa Tạ Vân với Harpe cùng Hứa An đã hình thành một sự ăn ý ngầm rất rõ rệt, chẳng bao giờ có chuyện một trưởng lão tông môn lại tự ái hay phật lòng chỉ vì bị hỏi vặn lại về độ xác thực của nguồn tin.
Tập hồ sơ đầu tiên được Harpe mở ra đối chiếu là các ghi chép liên quan tới tầng sinh thái thấp nhất gồm những loài thú nhỏ ăn củ quả và côn trùng. Theo lời kể của gần chục thợ săn chuyên đào bẫy dưới chân núi, mật độ xuất hiện của một số loài thú gặm nhấm đào hang vốn sinh sôi cực kỳ dày đặc ở ba dãy đồi đất phía bắc đã sụt giảm thấy rõ kể từ cuối mùa đông năm ngoái, dù chúng chưa biến mất sạch sẽ khỏi khu vực nhưng số lượng bẫy sập bắt được con mồi sau mỗi tuần đi rừng đã vơi đi quá nửa.
Trước khi cho phép Hứa An chấm bất kỳ ký hiệu nào lên mặt bản đồ, Harpe đã hỏi kỹ Tạ Vân và Triệu Khải về quy luật ngủ đông theo mùa, cường độ săn bắt của dân bản địa trong năm qua cũng như việc có phát hiện xác thú nhỏ chết hàng loạt vì dịch bệnh hay không. Sau khi loại trừ khả năng dịch bệnh, tập hồ sơ thứ hai được lật mở chuyển sang nhóm các loài thú ăn cỏ cỡ vừa và lớn, trong đó ghi nhận rõ hai đàn hươu núi vốn giữ thói quen di cư cố định qua một thung lũng hẹp suốt nhiều năm nay bỗng nhiên đồng loạt đổi hướng, dạt hẳn xuống các sườn đồi thấp phía nam trong vòng ba tháng gần đây.
Đáng chú ý nhất là tập hồ sơ thứ ba ghi chép về nhóm các loài mãnh thú và yêu thú săn mồi đứng ở đỉnh chuỗi thức ăn. Một cá thể yêu thú săn mồi đơn độc cấp thấp từng chiếm giữ lãnh địa cố định ở khu rừng già phía bắc suốt bốn năm qua bỗng dưng bặt vô âm tín và không còn để lại bất kỳ vết cào hay mùi đánh dấu lãnh thổ nào trên thân cây, trong khi một bầy sói gió ở sườn đông bắc lại bất ngờ rút khỏi hang ổ trên núi cao để di chuyển xuống hoạt động gần các khu rẫy có con người canh tác.
Bản thân Triệu Khải đã đích thân dẫn hai thợ săn kỳ cựu luồn rừng lên tận vùng lõi lãnh địa cũ của con yêu thú kia để kiểm tra thực địa, và kết quả xác nhận tại hiện trường không có xác thú chết, không có dấu vết cây cối gãy đổ do giao chiến tranh giành địa bàn, mà cũng chẳng xuất hiện mùi hơi của một con yêu thú cấp cao hơn tới chiếm chỗ thay thế. Nam ngồi chống cằm nhìn những chấm tròn vừa được phác lên mặt bản đồ giấy, buột miệng nêu nhận định:
“Xem ra đám thú nhỏ và thú ăn cỏ bỏ đi trước.”
Harpe cầm cây bút chì cán gỗ trên tay, khẽ gật đầu tiếp lời:
“Và những loài mãnh thú chuyên săn đuổi chúng cũng buộc phải rời khỏi vùng đất cũ theo.”
Nam nheo mắt nhìn dải đồi núi trải dài trên giấy rồi đặt câu hỏi liệu có khả năng đơn giản là đám yêu thú săn mồi chỉ di chuyển bám theo nguồn thức ăn tự nhiên của chúng hay không. Thay vì trả lời bằng suy đoán chủ quan, Harpe lập tức đưa đầu bút chì chỉ thẳng vào dãy mốc thời gian ghi ở lề trang sổ: tại ít nhất hai khu vực rừng sâu phía bắc, dấu chân của các loài mãnh thú săn mồi đã biến mất sạch khỏi hiện trường từ trước khi số lượng thú ăn cỏ ở đó có biểu hiện sụt giảm rõ rệt.
Ngay sau đó, Tạ Vân tiếp tục lật tới phần phụ lục của tập hồ sơ thứ ba, nơi tập hợp những quan sát vụn vặt liên quan tới các loài chim rừng và những sinh vật nhỏ sống phụ thuộc vào nguồn nước khe suối. Hai đoàn thương nhân buôn dược liệu đi qua cùng một tuyến đường mòn vào cuối xuân và đầu hạ đều có chung một nhận xét rằng đoạn khe đá sâu dưới chân núi năm nay vắng lặng tiếng chim hót hơn hẳn mọi năm, ngoài ra còn có một lão nông chuyên hái thuốc đêm nói rằng tiếng ếch nhái kêu ở vùng đầm trũng sau các trận mưa rào đầu mùa cũng thưa thớt hẳn đi, nhưng vì lời kể của một cá nhân đơn lẻ chưa đủ sức nặng kiểm chứng nên Harpe tạm thời xếp tờ ghi chép ấy sang một góc riêng.
Harpe chưa vội cầm thước kẻ bất kỳ đường ranh giới nào lên mặt bản đồ ngay lúc đó. Hắn quay sang yêu cầu Hứa An lấy cuốn sổ lưu trữ lộ trình của tháng trước ra, kiên nhẫn dò tìm lại chính xác khung thời gian mà các đoàn buôn nhìn thấy đàn thú ăn cỏ thay đổi tuyến đường di chuyển qua đèo. Mọi tọa độ mới phát sinh trên mặt bản đồ đều được Hứa An dùng đầu bút chì vót nhọn gạch những nét mảnh màu xám nhạt, bởi chính Tạ Vân đã thống nhất nguyên tắc là tuyệt đối không dùng bút bi mực đen đánh dấu cố định lên những vị trí mà đội khảo sát chưa cử người tới tận nơi kiểm tra thực địa.
Trong lúc Harpe sắp xếp lại các tờ phiếu ghi chép rời theo đúng trình tự thời gian từ đầu năm đến đầu hạ, Hứa An đã chủ động lấy thêm một tờ giấy bản trắng tinh cỡ lớn đặt lót nối tiếp xuống dưới mép chân tấm bản đồ cũ để kịp thời đón lấy những điểm đánh dấu mới đã bắt đầu tràn ra ngoài khung giấy ban đầu. Tạ Vân cúi người nhìn theo bàn tay sắp xếp của Harpe, chợt đưa ngón tay chỉ vào một tờ biên bản ghi nhận sự sụt giảm số lượng thú rừng có đề ngày tháng trùng khớp với đợt mưa lũ kéo dài hồi giữa tháng ba:
“Số liệu ở tờ báo cáo đoạn sườn tây này chúng ta phải cử người tìm gặp lại nhóm thợ đặt bẫy để hỏi cho ra nhẽ mới được, bởi rất có khả năng mấy ngày đó mưa rừng xối xả khiến chính đám thợ săn cũng không dám lội suối vào sâu trong núi, rồi lúc về lại chủ quan báo cáo là thú rừng thưa vắng.”
Harpe lập tức rút tờ biên bản có nghi vấn thời tiết ấy kéo sang mép bàn bên phải, kiên quyết chưa cho nhập chung vào hệ thống ký hiệu chính thức trên bản đồ. Thế nhưng ngay cả khi đã thẳng tay loại bỏ những mẩu tin thiếu chắc chắn, phạm vi của các điểm dị thường còn trụ lại trên mặt giấy vẫn trải rộng tới mức khiến vị chỉ huy tóc bạc phải ngồi lặng đi trên ghế rất lâu để quan sát tổng thể.
Thấy Harpe cứ đứng rồi lại ngồi nhìn đăm đăm vào khoảng mép giấy phía đông bắc đã kín chỗ ghi chú, Hứa An liền cầm sẵn hồ dán và một tờ giấy bản trắng hỏi khẽ:
“Chỉ huy có cần đệ dán nối thêm một mảnh giấy phụ vào mép bên phải bản đồ nữa không?”
Harpe gật đầu xác nhận. Hứa An nhanh nhẹn phết một đường hồ mỏng dọc mép giấy rồi ghép nối thêm một dải giấy trắng rộng rãi vào sườn đông bắc của tấm bản đồ gốc. Nam ngồi bên cạnh nhìn diện tích tờ bản đồ cứ phình to dần ra trên mặt bàn gỗ, không khỏi buột miệng nhắc một câu:
“Cậu đừng có vung bút vẽ một cái vòng tròn bao vây to đùng trên bản đồ đấy nhé, nhìn vào dễ gây hoang mang lắm.”
Harpe xoay nhẹ cây bút chì giữa các ngón tay, điềm tĩnh đáp:
“Tôi không bao giờ vẽ những đường vòng tròn ước lệ kiểu đó lên bản đồ tác chiến đâu.”
“Thế cậu định biểu thị phạm vi biến động bằng cách nào?”
“Tôi sẽ phân vùng thực địa thành ba cấp độ dựa theo mức độ xác thực của nguồn tin.”
Dứt lời, Harpe bắt đầu hạ đầu bút chì xuống mặt giấy và sử dụng ba kiểu nét gạch khác nhau để phân định từng khu vực rõ ràng. Những khu vực đã có từ ba nguồn thông tin độc lập trở lên cùng xác nhận sự biến mất của thú rừng được hắn tô bằng những đường gạch chéo đậm nét, những khu vực chỉ mới ghi nhận được một loại dấu vết đơn lẻ được giới hạn bằng đường nét đứt mảnh, còn những vùng đệm chưa có người đặt chân tới kiểm tra thì chỉ chấm nhẹ những hạt chì thưa thớt.
Trên mặt tấm bản đồ ghép nối lúc này không xuất hiện bất kỳ một đường biên giới tròn trịa hay cân đối đẹp mắt nào cả, bởi địa hình núi rừng tự nhiên ngoài đời thực vốn dĩ chẳng có nghĩa vụ phải chiều theo sự thuận tiện của người vẽ bản đồ. Trưởng lão Tạ Vân đứng khoanh tay nhìn toàn cảnh các mảng nét chì đậm nhạt đan xen trải dài qua nhiều dãy núi phía bắc, hàng lông mày thanh tú bất giác nhíu chặt lại:
“Phạm vi xuất hiện các dấu hiệu bất thường khi ghép tổng thể lại hóa ra lại trải rộng hơn dự tính ban đầu của ta rất nhiều.”
Harpe dừng đầu bút chì ngay tại cụm chấm thưa nằm ở sườn núi phía đông, ngước mắt nhìn Tạ Vân và phân tích một cách hết sức tỉnh táo:
“Trưởng lão cũng cần tính tới khả năng là chúng ta đang vô tình gom chung nhiều hiện tượng tự nhiên có nguyên nhân khác hẳn nhau vào trong cùng một tấm bản đồ. Toàn bộ cụm điểm đánh dấu ở mạn phía đông này hiện đều thiếu nhân sự có chuyên môn đến kiểm tra trực tiếp tại hiện trường, nếu bây giờ chúng ta cứ chủ quan gộp ép tất cả về chung một nguồn gốc duy nhất thì chính tấm bản đồ này sẽ dẫn đường sai lệch nghiêm trọng cho những đội khảo sát đi sau.”
Tạ Vân nghe lời cảnh báo sắc sảo của Harpe thì gật đầu tán đồng ngay mà không chút tranh cãi, tay cô tự giác kéo một mảnh giấy trắng nhỏ lại gần và dùng bút bi ghi riêng tên tuổi của hai người thợ săn bản địa lâu năm ở sườn đông để về phái đệ tử đi xác minh lại. Ở phía bên kia bàn, Ronan từ đầu buổi vẫn im lặng lắng nghe lúc này mới lên tiếng hỏi đúng ba câu xoay quanh sự an toàn của cư dân vùng biên, tính đến thời điểm hiện tại đã có ngôi làng sơn cước nào phải bỏ hoang di tản chưa, các tuyến đường thương mại chính có bị gián đoạn giao thông không, và có xuất hiện trường hợp người dân đi rừng mất tích liên tiếp theo một quy luật bất thường nào không.
Trước cả ba câu hỏi trọng tâm ấy của Ronan, Tạ Vân đều lần lượt lắc đầu trả lời là chưa từng ghi nhận trường hợp nào như vậy. Điều đó đồng nghĩa với việc chuỗi biến động sinh thái ở vùng núi phía bắc tuy đã vượt xa quy mô của vài vụ yêu thú quấy nhiễu lẻ tẻ, song vẫn chưa đẩy tình hình tới mức nguy cấp buộc các thế lực tại thành Thanh Hà phải lập tức điều động toàn bộ nhân lực vũ trang lao lên núi ứng phó ngay trong ngày một ngày hai.
Nam ngồi tựa lưng vào thành ghế gỗ, mắt nhìn những mảng gạch chì xám nhạt trên tấm bản đồ lớn rồi âm thầm kích hoạt giao diện tìm kiếm của hệ thống Wikia ở trong đầu. Hệ thống thư viện vạn giới đi kèm với vòng quay Gacha vốn nắm giữ lượng kiến thức đồ sộ tới từng chân tơ kẽ tóc về các nhân vật, trang bị vũ khí và lịch sử của những thế giới từng xuất hiện qua các lượt quay, thế nhưng toàn bộ bản đồ địa lý cũng như lịch sử bản địa của vương triều Đại Càn vẫn luôn là một vùng trắng mênh mông đối với cơ sở dữ liệu của nó.
Dẫu biết trước giới hạn đó, Nam vẫn thử nhập vào thanh tìm kiếm những cụm từ khóa mô tả hiện tượng các loài sinh vật thuộc nhiều tầng sinh thái khác nhau đồng loạt rút khỏi một vùng lãnh thổ rộng lớn mà không để lại xác chết hay dấu vết giao tranh. Hàng chục trang mục từ miêu tả đủ loại thảm họa sinh học, rò rỉ độc khí ngầm, sự thức tỉnh của cổ thú dưới lòng đất hay hiệu ứng uy áp linh hồn từ các thế giới giả tưởng khác nhau lập tức hiện lên chi chít, nhưng khi hắn gõ tiếp hai chữ Thanh Hà rồi Đại Càn vào bộ lọc đối chiếu thì màn hình lập tức trả về thông báo không tìm thấy dữ liệu tương thích. Hệ thống Wikia vốn dĩ cũng là một kho lưu trữ tri thức có quy tắc cố định, nó không thể tự dưng bịa ra một câu trả lời may sẵn chỉ vì người sở hữu nó đang rất muốn biết chuyện gì đang rục rịch dưới lòng núi phía bắc.
Harpe ngồi ngay bên cạnh nhạy bén nhận ra ánh mắt thoáng trầm xuống của Nam sau vài giây nhìn vào khoảng không, liền nghiêng người sang hỏi nhỏ bằng một ánh nhìn dò xét. Nam khẽ lắc đầu, đáp gọn hai chữ đủ để hai người hiểu với nhau:
“Không có.”
Harpe nghe vậy cũng chẳng hề tỏ ra thất vọng mà chỉ điềm nhiên gật đầu một cái:
“Nếu không có sẵn lời giải từ bên ngoài thì chúng ta cứ dựa vào những dữ liệu thực địa đang nằm trong tay mình mà làm tiếp thôi.”
Ngay từ những ngày đầu tiên phát hiện ra dấu chân bất thường của con Thiết Bối Hùng ở tuyến Khê Bắc, bản chất của câu chuyện phương bắc vốn dĩ đã luôn như thế. Trước mặt những người ở viện Tây Sơn không có sẵn một cuốn cẩm nang hướng dẫn vượt ải, không có mũi tên phát sáng chỉ điểm nhiệm vụ trên đầu, và cũng chưa lộ diện một kẻ địch có danh tính rõ ràng để tất cả cùng chĩa mũi kiếm vào giải quyết trong một trận là xong. Thứ duy nhất họ nắm trong tay lúc này là những tập số liệu thu thập từng chút một từ bước chân người đi rừng, được phân loại rạch ròi giữa phần đã kiểm chứng chắc chắn, phần còn đang đặt dấu hỏi nghi ngờ và những khoảng trắng mênh mông chờ người tới lấp đầy.
Buổi họp đối chiếu dữ liệu tại gian cổng kéo dài cho tới khi nắng chiều ngoài sân đã tắt hẳn, nhưng cả hai bên vẫn thống nhất chưa vội vã chốt lịch mở một chiến dịch khảo sát rầm rộ ngay trong tuần. Trưởng lão Tạ Vân thu nhận bản sao sơ đồ phân vùng mang về trình lên chưởng môn Lạc Hà tông xem xét, Harpe giữ lại tập hồ sơ gốc cùng tấm bản đồ lớn tại viện Tây Sơn, còn Hứa An thì cẩn thận lập danh sách những đầu mối thợ săn và thương nhân cần hỏi han bổ sung mỗi khi có dịp gặp mặt.
Trước lúc đứng dậy thu dọn tài liệu, Tạ Vân cho biết cô sẽ đề xuất với tầng lớp trưởng lão trong tông môn về việc tổ chức một đợt khảo sát chính thức có quy mô rộng khắp hơn vào thời gian tới, và Harpe cũng lập tức đóng góp ý kiến rằng nếu Lạc Hà tông quyết định triển khai thật thì bắt buộc phải chia nhỏ bản đồ thành từng ô lưới độc lập với mục tiêu kiểm tra cụ thể cho từng tổ đội, kiên quyết tránh lối làm việc gom một đoàn người thật đông rồi kéo nhau đi mò mẫm thiếu phương hướng khắp vùng núi rộng lớn. Đối mặt với một hiện tượng biến đổi đã lan qua nhiều dạng địa hình đồi núi và nhiều bậc thang sinh thái như thế này, phương pháp tổ chức khảo sát buộc phải nâng cấp dựa trên cấu trúc dữ liệu chứ không đơn thuần là lấy số lượng đầu người đè bẹp khoảng cách.
Từ góc độ quản lý hậu cần và chi phí, Hứa An liền chủ động kẻ sẵn một bảng dự toán sơ bộ gồm hai cột phương án để Tạ Vân mang về tham khảo, trong đó cột thứ nhất tính toán chi phí cho trường hợp đệ tử Lạc Hà tông tự tổ chức khảo sát độc lập, còn cột thứ hai là mức thù lao ước tính nếu chỉ thuê mướn các thợ săn bản địa thông thuộc địa hình đứng ra dẫn đường cho từng chặng ngắn. Tạ Vân cầm tờ giấy dự toán có những con số rõ ràng của Hứa An lên xem xét rất kỹ, sau đó hỏi ngược lại xem liệu hai tay thợ săn dẫn đường kỳ cựu trong danh sách có sẵn lòng nhận lời đi sâu vào những vùng đồi núi hẻo lánh quá ba ngày đường hay không, và vì chưa ai hỏi trực tiếp ý kiến của họ nên Hứa An vẫn cẩn thận để trống ô xác nhận cuối cùng ấy.
Khi cả nhóm cùng bước ra khỏi phòng họp ở gian cổng và đi ngang qua hiên gian chính để chuẩn bị ra cổng lớn, ánh mắt của trưởng lão Tạ Vân bỗng nhiên bị thu hút bởi sợi dây gai treo hàng ảnh màu đang đung đưa dưới ánh đèn lồng. Bước chân của vị nữ tu sĩ Lạc Hà tông lập tức dừng hẳn lại trước ngưỡng cửa gỗ.
“Mấy mảnh giấy treo trên dây kia là vật gì thế?”
Nam đi ngay phía sau liền dừng bước theo, thản nhiên đáp:
“Là mấy bức ảnh của người trong viện tôi đấy mà.”
“Ta nhìn hình người trên đó thì đương nhiên biết nó là tranh ảnh rồi.”
Nam hơi nhướng mày bất ngờ trước câu đáp gọn lỏn của cô. Tạ Vân bước qua bậc thềm tiến lại gần bức tường gỗ hơn một chút, vừa ngắm nhìn các bức ảnh vừa giải thích ngắn gọn:
“Trong nội viện của Lạc Hà tông cũng có mấy vị họa sư chuyên vẽ tranh chân dung và họa đồ địa hình bằng bút pháp truyền thần.”
“Nhưng mấy tấm hình treo trên dây này của bọn tôi thì không phải dùng bút vẽ ra đâu.”
“Nhìn độ sắc nét của từng sợi tóc thế này thì ta tự khắc biết không phải nét cọ của người vẽ rồi.”
Tạ Vân dừng chân đứng cách sợi dây gai chừng nửa bước, ánh mắt lần lượt lướt qua bức ảnh tập thể đại gia đình dịp Tết, bức ảnh Mina và Soma bên hiên bếp, tấm hình Ciel và Zero trong xưởng cơ khí cho tới khung hình rạng rỡ của cô bé Shiroma bên chú chim vàng Chocobo. Vị trưởng lão trẻ tuổi không mở miệng truy hỏi cơ chế tạo hình hay nguồn gốc pháp khí nào đứng sau những mảnh giấy ấy, cô chỉ lặng lẽ ngắm nhìn từng gương mặt sống động trên nền giấy bóng rồi buột miệng nhận xét:
“Thần thái và đường nét giống người thật tới từng chi tiết nhỏ.”
Nam đứng khoanh tay bên khung cửa, gật đầu thừa nhận:
“Vâng, cảnh trước mắt lúc bấm máy thế nào thì in ra giấy nó giữ nguyên như thế.”
“Để làm ra hoàn chỉnh một tấm hình nhỏ thế này thì tốn khoảng bao nhiêu thời gian?”
“Từ lúc chọn hình xong cho tới lúc máy đẩy giấy ra chưa tới nửa khắc đồng hồ đâu.”
Tạ Vân vừa nghe câu trả lời ấy liền hơi nghiêng đầu quay sang phía Nam, nhưng cô còn chưa kịp mở lời thì Nam đã lập tức giơ tay chặn trước bằng câu cửa miệng quen thuộc:
“Thứ này tôi không bán đâu nhé.”
Tạ Vân thoáng chững lại, đôi mắt phượng nhìn thẳng vào mặt Nam với vẻ vừa ngạc nhiên vừa buồn cười:
“Ta đã kịp mở miệng hỏi mua của ngươi câu nào đâu.”
“Thì tôi cứ nói chặn trước cho đỡ mất công trưởng lão hỏi giá.”
Chỉ huy Harpe đứng ở bậc thềm ngoài hiên nghe màn đối đáp tỉnh rụi của ông chủ viện thì không nhịn được phải bật cười thành tiếng. Tạ Vân đứng nhìn Nam suốt mấy giây liền, cuối cùng mới khẽ lắc đầu cảm thán một câu:
“Càng tiếp xúc lâu với ngươi, ta càng thấy ngươi mang dáng dấp của một gã thương nhân ranh mãnh, thế mà hễ đụng tới mấy món đồ kỳ lạ trong viện là lại nhất quyết đóng cửa không chịu đem bán.”
“Tại loại giấy chuyên dụng để in ra mấy tấm hình này chỉ có số lượng cố định trong thùng thôi, dùng hết sạch là không kiếm đâu ra để bù vào được.”
“Được rồi, lý do vật tư có hạn này nghe hợp lý đấy, ta sẽ lưu ý không hỏi mua giấy của ngươi.”
Tạ Vân sòng phẳng gật đầu tôn trọng giới hạn của viện Tây Sơn chứ không lấy vị thế trưởng lão ra để nài ép thêm nửa lời. Thấy thái độ lịch thiệp của cô, trước lúc tiễn khách ra cổng, chính Nam lại chủ động lên tiếng hỏi xem Tạ Vân và Triệu Khải có muốn chụp chung một tấm ảnh làm kỷ niệm cho buổi làm việc hôm nay hay không.
Cả vị trưởng lão Lạc Hà tông lẫn gã tán tu thợ săn đều thoáng ngạc nhiên rồi nhanh chóng gật đầu đồng ý, cùng nhau bước lại đứng ngay bên cạnh tấm bản đồ vùng núi phía bắc còn đang trải rộng trên chiếc bàn lớn để Nam giơ máy ảnh lên lấy nét. Vì không có thói quen đứng làm mẫu chụp hình bao giờ nên đúng khoảnh khắc Nam ấn nút màn trập, Triệu Khải đang quay đầu sang nói dở một câu gì đó với người bên cạnh, còn Tạ Vân thì đang hơi nghiêng mặt nhìn sang ông bạn đồng hành với ánh mắt nghiêm nghị.
Bức ảnh ra đời không mang dáng vẻ trang trọng nghi thức của một buổi nghị sự, nhưng khi Nam cho máy chạy ra liền hai bản in và trao tận tay cho mỗi người một tấm, cả hai vị khách đều đón lấy với sự trân trọng thấy rõ. Tạ Vân cầm mảnh giấy ảnh nhỏ gọn trong lòng bàn tay, chưa vội nói lời cảm ơn ngay mà cứ thế cúi đầu ngắm nhìn thần thái của chính mình trên mặt giấy bóng.
Triệu Khải đứng bên cạnh giơ tấm ảnh ra hứng ánh đèn lồng, vừa nhìn thấy gương mặt phong sương của mình hiện lên rõ mồn một liền bật cười ha hả:
“Ái chà, nhìn cái bản mặt của ta khi lên tấm giấy nhỏ này trông cũng oai phong ra phết đấy chứ!”
Tạ Vân liếc mắt nhìn sang tấm ảnh giống hệt trên tay mình, thản nhiên dội cho ông bạn đồng hành một gáo nước lạnh:
“Nhìn cái miệng đang há dở của ngươi trong hình trông giống hệt như đang đứng cãi nhau tay đôi với ta thì có.”
“Thì đúng cái lúc Nam chưởng quầy bấm cái tách một tiếng, chẳng phải ta đang tranh luận với trưởng lão về đường mòn qua đèo phía tây thật còn gì nữa.”
Nam vừa tháo dây cáp máy ảnh vừa mỉm cười nhìn hai người họ đấu khẩu, thuận miệng hỏi đùa một câu:
“Thế tóm lại là hai vị có định giữ tấm ảnh đang cãi nhau này không để tôi còn biết đường thu hồi nào?”
Triệu Khải nghe vậy liền vội vàng đút tọt tấm ảnh vào sâu trong túi gấm bên hông, vỗ bôm bốp lên miệng túi rồi đáp lớn:
“Giữ chứ sao lại không giữ, đồ quý thế này có cho vàng ta cũng không trả lại đâu!”
Tạ Vân đứng bên cạnh tuy không nói năng ồn ào như Triệu Khải nhưng cũng lẳng lặng kẹp tấm ảnh vào giữa cuốn sổ tay bìa da rồi cất kỹ vào trong tay áo, chẳng mảy may có ý định trả lại cho chủ viện. Thấy món quà nhỏ của mình được cả hai người bạn đường đón nhận tự nhiên như thế, Nam chỉ mỉm cười gật đầu thấy vậy là đủ.
Đúng lúc tiễn hai người bước ra tới khoảng sân gạch ngoài hiên cổng, câu chuyện nhắc tới các đoàn thương nhân đi qua tuyến đường phía bắc lúc nãy trong phòng họp bỗng làm Nam sực nhớ ra một thắc mắc từ lâu. Hắn vừa sóng bước đi cạnh Triệu Khải vừa quay sang hỏi gã tán tu râu quai nón:
“À này ông Triệu, tôi nhớ hồi vụ con Thiết Bối Hùng, ông vẫn còn đứng ra tự dẫn đoàn xe ngựa chở hàng đi buôn bán khắp nơi chẳng khác gì một thương nhân thực thụ. Thế công việc làm ăn buôn bán của ông dạo này vất đi đâu rồi mà mấy tháng nay tôi toàn thấy ông rảnh rang xách đao chạy ngược chạy xuôi trên núi với Tạ trưởng lão suốt thế?”
Triệu Khải vắt chiếc túi da lên vai, xua tay đáp với giọng điệu hết sức thoải mái:
“Mọi công việc trông coi cửa hàng với sổ sách buôn bán ta đều bàn giao hết lại cho thằng em trai ruột của ta đứng ra quản lý từ hồi cuối năm ngoái rồi. Thằng đệ đó tính tình tỉ mỉ cẩn thận nên hợp với việc ngồi bàn tính điều phối xe hàng và giữ mối khách buôn, chứ bản thân ta quen chạy nhảy ngoài sương gió, hễ thấy chuyến việc nào hợp ý thì xách đao nhận lời đi làm, bắt ta cứ ngồi bó gối giữ quầy buôn bán quanh năm suốt tháng mới là cực hình không chịu thấu.”
Vừa nghe tới đoạn bàn giao hết công việc quản lý thường nhật mà vẫn giữ được cơ ngơi làm ăn, hai con mắt của Nam lập tức sáng rỡ lên đầy vẻ ngưỡng mộ:
“Nói vậy có nghĩa là hiện giờ ông vẫn có phần thu nhập từ công việc kinh doanh buôn bán, nhưng hàng ngày lại chẳng cần phải tự tay ngồi cộng sổ hay quản lý từng chuyến xe hàng nữa à?”
Triệu Khải dừng bước trước bậc thềm cổng, quay sang nhìn gã chủ viện Tây Sơn từ đầu đến chân rồi bật cười chỉ thẳng vào mặt hắn:
“Nói chính xác hơn là thằng em ruột của ta đang phải còng lưng làm việc mỗi ngày thay cho phần của ta. Ngươi đừng có nghe người ta kể chuyện làm ăn xong là trong đầu chỉ lọc giữ lại đúng mỗi cái đoạn được ngồi chơi xơi nước hưởng nhàn như thế chứ!”
Nam thản nhiên chắp hai tay sau lưng, giữ vẻ mặt nghiêm túc hết mức có thể để biện hộ:
“Ông nói thế là oan cho tôi quá, tôi đang chăm chú học hỏi kinh nghiệm phân công nhân sự hợp lý từ chỗ ông đấy chứ.”
Ở ngay phía sau lưng hai người, quản sự Hứa An vừa bước ra hiên để khóa cửa phòng họp liền lẳng lặng khép cuốn sổ ghi chép trên tay lại, giữ nguyên gương mặt bình thản mà chẳng thèm bình luận lấy nửa chữ. Triệu Khải đưa mắt nhìn vẻ mặt cam chịu quen thuộc của cậu quản sự trẻ tuổi rồi lại nhìn sang bộ dạng nhởn nhơ của gã đứng trước mặt, không nhịn được phải phá lên cười sảng khoái vang cả góc sân, đến cả một người vốn điềm đạm nghiêm cẩn như trưởng lão Tạ Vân đứng bên cạnh cũng phải bật cười lắc đầu trước cảnh tượng trái ngược của hai thầy trò nhà Tây Sơn. Đối với một tán tu phóng khoáng như Triệu Khải, chuyện giao lại cơ nghiệp buôn bán cho em ruột trông coi vốn chẳng có gì sâu xa phức tạp, bởi nhờ thế mà hắn vừa duy trì được những mối thông tin thương hồ rộng khắp vùng biên, lại vừa rảnh tay dành trọn thời gian cho việc tu luyện và nhận những chuyến khảo sát thực địa đúng với sở trường của mình.
Bước sang cuối tuần lễ thứ ba của tháng đầu hạ, cơn sốt vây quanh chiếc máy in ảnh mini trong viện Tây Sơn đã bắt đầu lắng dần xuống để nhường chỗ cho nhịp công việc thường nhật. Để tránh hơi ẩm của những cơn mưa rào đầu mùa làm ảnh hưởng tới linh kiện nhiệt bên trong thân máy, chiếc hộp nhỏ màu trắng sữa được Ciel dọn hẳn sang đặt trong một ngăn tủ gỗ có lót túi hút ẩm ở góc khô ráo nhất của xưởng cơ khí.
Số giấy ảnh và băng mực còn lại trong thùng carton cũng được chia nhỏ thành từng gói niêm phong kỹ lưỡng, một nửa giao cho Ciel quản lý trực tiếp cùng thân máy trong xưởng, còn một nửa được Mina mang về cất trong tủ gỗ ở phòng riêng của cô. Lúc thấy Mina ôm mấy xấp giấy bọc túi bạc đi ngang qua hiên nhà, Nam không khỏi tò mò hỏi lý do tại sao phải chia giấy ra cất ở hai nơi như thế, và Mina chỉ thản nhiên quay lại đáp đúng một câu:
“Tôi phải cất bớt một nửa số giấy ảnh về phòng mình để đề phòng bà Ciel hứng chí mang giấy ra bấm in thử nghiệm cơ chế vận hành của máy đấy.”
Ngay khi câu nói của Mina vừa dứt, giọng nói thanh thoát của Ciel đã từ bên trong khung cửa sổ xưởng cơ khí vọng thẳng ra sân:
“Tôi làm việc có nguyên tắc đàng hoàng, không bao giờ làm cái chuyện lãng phí vật tư vô ích đó đâu nhé.”
Mina nghe cô em kỹ sư lên tiếng đính chính thì chỉ mỉm cười gật đầu:
“Bà không có ý định làm thế thật thì lại càng tốt chứ sao.”
Nam ngồi uống trà trên ghế mây nhìn hai cô gái kẻ tung người hứng qua khung cửa sổ mà thức thời ngậm miệng ngồi im, quyết định không dại dột bước chân vào cuộc tranh luận nội bộ của phái nữ trong viện. Ngoảnh đầu nhìn vào bức tường gỗ phía trong gian chính, hắn thấy trên sợi dây gai căng ngang lúc này đã được kẹp thêm vài bức ảnh mới so với tuần đầu tiên, số lượng vừa vặn tô điểm cho mảng tường ấm cúng chứ không bị nhồi nhét quá nhiều.
Bên cạnh những tấm hình của người trong nhà, ở góc dây bên phải giờ đã có thêm một bản sao bức ảnh Lão Tề đang cầm thanh giằng sắt lườm ống kính và tấm ảnh Lưu chưởng quầy ngồi nghiêm trang bên bàn trà, riêng bức hình của trận pháp sư Ngô Thành thì chưa có mặt trên dây bởi ông lão đã cầm luôn bản in duy nhất hôm đó mang về chỗ ở của mình. Cậu nhóc A Thạch vẫn giữ thói quen cất tấm ảnh chụp chung với Chocobo trong túi áo ngực mỗi khi cưỡi ngựa ra phố, còn quản sự Hứa An thì vẫn để nguyên bức hình hai huynh đệ ngồi bên bàn cổng nằm phẳng phiu dưới thanh chặn giấy bằng đồng.
Bản thân Nam thực ra cũng lặng lẽ giữ riêng cho mình một tấm ảnh mà không đem khoe cho bất kỳ ai trong viện biết. Đó là một bản in phụ của bức ảnh đại gia đình Tây Sơn đứng sum họp trước thềm nhà vào dịp Tết Nguyên đán vừa qua, được hắn cất kỹ vào bên dưới lớp sổ tay trong ngăn kéo bàn gỗ ở phòng ngủ của mình.
Nam chọn cách cất tấm ảnh ấy vào ngăn kéo chỉ đơn giản vì hắn muốn giữ lại một góc kỷ niệm nho nhỏ cho riêng bản thân thay vì đem treo tất cả mọi thứ phơi bày ra ngoài gian khách. Ấy thế nhưng bí mật nhỏ bé ấy cũng chẳng giấu được bao lâu, bởi vào một buổi trưa khi Mina bước vào phòng hắn để tìm mượn lại cuốn sổ ghi danh mục vải vóc năm ngoái, lúc kéo ngăn bàn ra cô đã tình cờ nhìn thấy ngay tấm ảnh tập thể nằm ngay ngắn trên mặt tập giấy trắng.
Mina cầm cuốn sổ vải lên, cúi nhìn tấm ảnh Tết trong ngăn kéo vài giây rồi từ từ ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào Nam đang đứng tựa lưng bên giá sách. Bắt gặp ánh mắt đầy ẩn ý của cô, Nam lập tức hắng giọng hỏi trước để lấp liếm:
“Bà nhìn tôi chằm chằm thế là có ý gì đấy?”
“Tôi có nói câu nào đâu.”
“Miệng bà không nói nhưng khóe môi bà đang tủm tỉm cười rõ ràng kia kìa.”
“Tôi đang tìm sổ của tôi chứ có cười cái gì đâu nào.”
“Cười rõ mồn một ngay trước mặt tôi thế kia mà còn chối.”
Mina thong thả đẩy nhẹ ngăn kéo bàn gỗ khép kín lại như cũ, ôm cuốn sổ bìa vải trước ngực rồi điềm nhiên nói một câu trước khi xoay người bước ra cửa:
“Anh muốn giữ riêng một tấm trong phòng để ngắm thì cứ việc giữ, có ai cấm anh đâu.”
Nam đứng nhìn theo bóng lưng mảnh mai của Mina khuất sau cánh cửa gỗ, trong bụng thừa hiểu câu nói lửng lơ vừa rồi của cô chứa đựng cả một bầu trời trêu chọc, nhưng sau một thoáng cân nhắc thiệt hơn hắn vẫn quyết định im lặng nuốt câu phản bác vào trong. Sống chung dưới một mái nhà suốt ngần ấy năm trời, ít nhất Nam cũng đã tích lũy đủ kinh nghiệm xương máu để nhận biết đâu là những trận đấu khẩu mà mình đừng bao giờ dại dột đâm đầu vào.
Nhịp làm việc của viện Tây Sơn cứ thế trôi êm ả cho tới những ngày cuối cùng của tháng đầu hạ. Doanh thu của cả viện trong tháng này nhìn chung vẫn giữ được mức độ ổn định vững vàng như tháng trước, không có khoản tiền thưởng nào tăng vọt đột biến mà cũng chẳng phát sinh khoản chi tiêu hao hụt nào bất thường ngoài dự kiến.
Đến buổi chiều ngày hăm chín cuối tháng, sau khi hoàn tất việc cộng sổ và đối chiếu tiền mặt trong két sắt tại gian cổng, Hứa An lại mang cuốn sổ cái sang trình cho Nam xem và thực hiện việc trích chuyển một phần tiền lãi cố định vào dòng ngân quỹ Mua đất ở trang phụ lục. Nam cầm cuốn sổ mở sẵn trên tay, cúi nhìn con số mới vừa được điền thêm bằng nét bút bi mực đen ngay ngắn mà lần này không thốt ra bất kỳ lời phàn nàn hay vặn hỏi nào.
Thấy Nam chỉ im lặng gật đầu xem sổ, Hứa An đứng bên cạnh bàn trà lại đâm ra hơi lạ lẫm nên chủ động lên tiếng hỏi:
“Tháng này nhìn thấy đệ trích tiền sang quỹ mua đất mà huynh không dặn dò thêm câu nào à?”
Nam ngước mắt khỏi trang giấy, nhướng mày hỏi ngược lại cậu quản sự:
“Thế đệ lại đang mong chờ huynh mở miệng càm ràm như tháng trước đấy phỏng?”
“Dạ không, đệ chỉ hỏi cho chắc thôi.”
“Đệ không muốn nghe huynh càm ràm thì cứ thế mà khóa sổ lại thôi chứ còn hỏi làm gì.”
Nam cúi đầu nhẩm tính lại tổng số bạc tích lũy được sau hai tháng cộng dồn ở cột cuối cùng. Nếu đem so với số tiền cần thiết để mua đứt toàn bộ khu đất xưởng Tây Sơn từ tay chủ cũ thì con số hiện tại vẫn còn cách một quãng khá xa, nhưng ít nhất nó đã hiện diện rõ ràng như một khoản tài sản độc lập không còn bị rút lẹm vào chi phí mua gạo muối hay sửa chữa lặt vặt hàng ngày nữa.
Hứa An đứng chờ Nam xem xong bảng tổng kết mới nêu lên một giả thiết thực tế để thăm dò ý định của chủ viện:
“Giả sử sang tháng tới mà người đại diện bên chỗ Chương lão bản bất ngờ đánh tiếng đồng ý chốt mức giá chuyển nhượng cuối cùng theo đúng ý mình, lúc đó huynh tính xử lý thế nào?”
Nam đặt cuốn sổ xuống mặt bàn gỗ, chẳng cần suy nghĩ lâu đã đáp ngay:
“Kể cả chủ đất có gật đầu chốt giá ngay trong tháng tới thì viện mình cũng chưa thể xuất tiền ra mua đứt ngay trong một lần được.”
“Vì sao lại chưa mua ngay hả huynh?”
“Bởi vì nếu dốc sạch tiền mặt trong két ra trả tiền đất lúc này thì quỹ dự phòng khẩn cấp của cả viện sẽ bị mỏng đi quá mức an toàn.”
Hứa An nghe câu trả lời ấy thì khẽ mỉm cười và gật đầu tán đồng:
“Đệ lúc ngồi tính sổ cũng suy tính y hệt như ý của Nam huynh vậy.”
Nam ngước mắt nhìn cậu thanh niên trước mặt với vẻ dở khóc dở cười:
“Trong đầu đệ đã tính sẵn phương án giống hệt huynh rồi thế còn bày đặt hỏi thử huynh làm cái gì?”
“Đệ hỏi lại một câu để xác nhận xem hai huynh đệ mình có còn giữ chung một nguyên tắc ưu tiên như tháng trước hay không thôi.”
Nam lắc đầu bật cười, cẩn thận cất tờ phiếu đối chiếu bản sao vào trong ngăn kéo bàn trà rồi khóa lại. Quãng đường tích góp cho tới ngày cầm được tờ khế ước đất đỏ chót mang tên viện Tây Sơn dù vẫn còn dài, nhưng khoản tiền dành riêng cho mục tiêu ấy đã chính thức bén rễ và lớn dần lên qua từng tháng.
Trước khi ôm cuốn sổ cái quay về gian cổng, Hứa An còn dừng lại bên thềm nói thêm một câu nhận định dựa trên biểu đồ thu nhập từ đầu năm:
“Nếu nhịp độ công việc và mức thu ròng của viện mình cứ duy trì đều đặn như ba tháng vừa qua, thì chỉ cần tới dịp cuối năm nay thôi là cục diện tài chính trong két sẽ khác hẳn đấy huynh ạ.”
Nam ngồi trên ghế mây nghe bốn chữ dịp cuối năm nay mà nhất thời không đáp lời ngay. Tính từ đầu mùa hạ cho tới cuối năm là cả một quãng thời gian dài đằng đẵng hơn nửa năm trời. Vào những năm tháng bấp bênh trước kia, hiếm khi nào Nam dám ngồi vạch kế hoạch tài chính xa quá hai ba tháng, bởi lúc ấy tâm lý của một kẻ bất ngờ bị ném sang thế giới xa lạ lúc nào cũng chỉ lo đối phó với những biến cố trước mắt.
Thế nhưng giờ đây, Hứa An đã bắt đầu bình thản tính toán lộ trình cho cả một năm dài phía trước, và cả tập thể viện Tây Sơn cũng đang vận hành theo nhịp đập dài hạn ấy. Tất cả mọi người trong viện đều lập kế hoạch dài hạn trong lúc nhận thức rất rõ rằng những đám mây mù bí ẩn từ dãy núi phía bắc đang ngày một hiện hình rõ nét hơn trên mặt bản đồ.
Lạc Hà tông có thể sẽ sớm phát động một chiến dịch khảo sát thực địa quy mô lớn, khối lượng công việc tuần tra và hộ tống ngoài thành đang tăng dần theo từng tuần, còn trong xưởng cơ khí của Ciel vẫn đang xếp hàng cả tá dự án cải tiến thiết bị chờ ngày hoàn thiện. Thế nhưng chính vì những biến động ngoài kia đang âm ỉ chuyển mình như vậy, việc giữ vững một quỹ dự phòng dày dặn và từng bước mua đứt mảnh đất dưới chân mình lại càng mang ý nghĩa sống còn, để bất luận chuyện kỳ dị gì có xảy ra ở vùng núi phía bắc thì nó cũng không bao giờ cuốn phăng đi được nếp sống bình yên mà cả đại gia đình đang vun đắp tại viện Tây Sơn. Nam ngước mắt nhìn ra khoảng sân ngập nắng, dứt khoát gật đầu với Hứa An:
“Cứ giữ đúng định mức an toàn đó mà làm tiếp đi đệ.”
Hứa An khẽ vâng một tiếng rồi mở sổ ghi nhanh một dòng chú thích ngắn gọn trước khi sải bước quay về bàn cổng.
Vào một buổi chiều mát mẻ trong tuần lễ cuối cùng của tháng, nhân lúc các đầu việc trong viện đều đã giải quyết xong xuôi từ sớm, Nam bỗng nảy ra ý định mang chiếc máy ảnh kỹ thuật số và chiếc máy in mini ra hiên nhà để chụp và in thêm ba bộ ảnh mới mà chẳng đợi ai phải lên tiếng yêu cầu. Bộ ảnh đầu tiên hắn muốn thực hiện là một bức ảnh tập thể ghi lại đầy đủ toàn bộ các thành viên của đại gia đình Tây Sơn ở thời điểm hiện tại.
Tất nhiên đây là một bức ảnh phải bấm chụp mới từ đầu ngoài sân trước, và thực tế chứng minh rằng việc gom cả nhà lại chụp chung lúc này còn gian nan hơn cả đợt chụp ảnh Tết Nguyên đán gấp bội phần bởi sự xuất hiện của thành viên mới Chocobo. Chú chim vàng khổng lồ vốn hiếu động nên chẳng chịu đứng yên một chỗ quá ba giây đồng hồ, khiến Nam dù đã đặt máy ảnh lên giá đỡ ba chân và chỉnh chế độ hẹn giờ tự động mà vẫn phải chạy đi chạy lại bấm chụp tới bận thứ sáu mới xong.
Ở lần bấm máy đầu tiên, khi tất cả mọi người đều đã nhìn thẳng vào ống kính thì cậu nhóc A Thạch đứng ở bìa phải lại mải quay sang nhìn cái mỏ của Chocobo. Sang lần bấm thứ hai, đến lượt Chocobo phát hiện ra Cloppe đang tỏa sáng lơ lửng bên vai Zero nên cứ ngước cổ nhìn chằm chằm lên trên. Đến lần thứ ba thì Soma đứng cạnh Mina lại vô tình chớp mắt đúng lúc màn trập nhảy, còn ở lần thứ tư thì Hứa An đang quay sang nhắc A Thạch đứng dịch vào trong cho đỡ lẹm khung hình.
Hài hước nhất là ở lần hẹn giờ thứ năm, đúng lúc đèn báo đỏ trên thân máy ảnh nhấp nháy chuẩn bị chụp thì Cloppe lại tò mò bay vèo một vòng ra sát ngay trước mặt ống kính khiến toàn bộ khuôn hình phía sau bị nhòe nét, phải đợi đến khi Cloppe lượn một vòng trở lại rồi ngoan ngoãn hạ cánh đậu yên trên mu bàn tay bọc găng của Zero thì trật tự mới được vãn hồi. Cả đại gia đình mười con người cùng một chú chim lớn vẫn kiên nhẫn giữ nguyên vị trí đứng trước bậc thềm đá mà chẳng ai phàn nàn lấy nửa lời, vui vẻ chờ Nam chạy lên bấm lại nút hẹn giờ lần thứ sáu rồi chạy vội về đứng vào khoảng trống giữa Mina và Ciel.
Sau tiếng tách gọn gàng của lần bấm máy thứ sáu, Nam bước lên cầm chiếc máy ảnh kỹ thuật số lên kiểm tra lại bức hình vừa hiển thị trên màn hình tinh thể lỏng: lần này cả mười thành viên cùng chú chim Chocobo và đốm sáng nhỏ Cloppe đều đã nằm gọn gàng, rõ nét trong cùng một khung hình ngập nắng chiều. Mina đứng trên bậc thềm nhìn theo vẻ mặt chăm chú của hắn liền hỏi vọng xuống:
“Lần thứ sáu này hình lên đã đạt yêu cầu chưa anh?”
“Nhìn chung là tạm ổn rồi đấy, không có ai bị nhắm mắt nữa.”
Ciel bước lại gần ngó nghiêng vào màn hình nhỏ một lát rồi nêu ý kiến:
“Góc đứng của anh Nam lúc chạy về hơi nghiêng vai một chút, nếu muốn đẹp hơn thì mình vẫn có thể bấm chụp thêm một tấm dự phòng nữa mà.”
Nam nghe tới chuyện phải chạy đi chạy lại căn chỉnh đội hình thêm lượt nữa thì lập tức lắc đầu quầy quậy:
“Thôi dừng ở tấm thứ sáu này là được rồi, không chụp thêm nữa đâu.”
“Sao lại không chụp thêm một tấm cho chắc hả anh?”
“Chụp lắm thế tốn giấy in lắm.”
Ciel ngước đôi mắt xanh trong veo nhìn thẳng vào mặt ông chủ viện, điềm tĩnh nhắc một sự thật hiển nhiên:
“Bấm nút chụp lưu vào thẻ nhớ máy ảnh thì có tốn tờ giấy in nào đâu anh.”
Nam lập tức đứng cứng lưỡi giữa sân trước sự bắt bẻ quá mức chuẩn xác của cô bé kỹ sư trưởng, làm cả đám Soma, Ronan, Harpe cùng A Thạch đứng trên thềm được một phen bật cười nghiêng ngả. Dẫu biết mình vừa lỡ lời nói hớ nhưng Nam vẫn giữ vững lập trường không bắt mọi người đứng phơi nắng chụp lại lần thứ bảy, mà mang thẳng máy vào bàn gian chính để in bức ảnh đại gia đình hoàn chỉnh ấy ra thành nhiều bản.
Một bản in đẹp nhất được Mina dùng kẹp nhựa màu xanh kẹp ngay vào vị trí trung tâm trên sợi dây gai ở gian chính, một bản được trao cho Hứa An mang về đặt ở bàn cổng, còn một bản do chính Mina cất giữ mà chẳng cần phải tổ chức nghi thức phân phát rườm rà nào cả. Ngay sau bức ảnh đại gia đình đông đúc ấy, bức hình thứ hai được Nam chọn để đưa vào máy in chiều hôm đó là một tấm ảnh chụp riêng hai thầy trò Ronan và Harpe.
Đó là một bức hình tự nhiên không có sự sắp đặt hay tạo dáng từ trước, được Nam tình cờ bấm chụp từ phía xa vào một buổi chiều đầu tuần khi hai người họ vừa tập luyện xong và đang ngồi nghỉ mát bên bậc hiên gỗ phía đông. Trong khung hình lặng lẽ ấy, Ronan đang ngồi tựa lưng vào cột gỗ với thanh kiếm phép thuật Spell Sword đặt nằm ngang trên hai đầu gối, còn chỉ huy Harpe thì đang ngồi ngay bên cạnh, một tay cầm cuốn sổ ghi chép thực địa và tay kia đưa ngón trỏ chỉ vào một sơ đồ địa hình trên trang giấy để giảng giải điều gì đó cho thiếu gia của mình.
Toàn bộ bức ảnh chẳng mang chút khí thế gươm đao sát phạt nào của chiến trường, cũng chẳng có hào quang ma pháp rực rỡ bao quanh lưỡi kiếm, mà chỉ đơn thuần là khoảnh khắc hai người đồng hương từng vào sinh ra tử ngồi bình yên bên nhau dưới mái hiên viện Tây Sơn. Khi Nam cầm hai bản in vừa chạy ra khỏi máy mang tới trao cho hai người, Ronan đón lấy tấm ảnh bằng ánh mắt ấm áp, còn Harpe thì cứ cầm mảnh giấy bóng trên tay mà cúi đầu ngắm nhìn lâu hơn thường lệ rất nhiều.
Ngắm bức ảnh một hồi thật lâu, Harpe mới khẽ buột miệng thốt lên hai chữ rất nhẹ:
“Trông xưa cũ quá.”
Nam đứng bên cạnh hơi ngạc nhiên hỏi lại:
“Cậu bảo cái gì xưa cũ cơ, màu mực vừa mới in xong còn ấm tay mà?”
“Tôi nói cái cảm giác hiện lên trong khung hình này kìa.”
Ronan ngồi bên cạnh nghe người cận vệ thân tín nói vậy thì khẽ mỉm cười đầy thấu hiểu, còn Harpe mới ngước mắt lên nhìn Nam giải thích thêm một câu ngắn gọn:
“Tôi không nói chất lượng tờ giấy ảnh, mà là cảnh hai người chúng tôi ngồi bàn việc bên hiên nhà thế này làm tôi nhớ tới những buổi chiều ở Kanavan trước khi tới Đại Càn.”
Nam nghe câu nói trầm mặc của vị chỉ huy tóc bạc thì lập tức hiểu ra tất cả mà không cần hỏi thêm lời nào nữa. Một mảnh giấy ảnh nhỏ bé đôi khi lại có sức mạnh gói trọn cả một miền ký ức cố hương tưởng chừng đã lùi xa vạn dặm của những kẻ tha hương. Hai người họ trân trọng nhận lấy mỗi người một bản in để cất vào hành trang cá nhân mà không nói thêm câu khách sáo nào.
Bộ ảnh thứ ba được Nam bấm chụp và in ra trong buổi chiều cuối tháng ấy lại là một bức hình mới tinh của cô bé Shiroma và chú chim vàng Chocobo. Lần bấm máy này Chocobo đã quen thuộc với sự xuất hiện của chiếc hộp màu bạc trên tay Nam nên không còn quay đầu chạy nhảy lung tung nữa, mà đứng rất ngoan ngoãn nhìn thẳng vào ống kính bằng đôi mắt tròn xoe đen nhánh, bên cạnh là Shiroma đang mỉm cười dịu dàng với một bàn tay đặt nhẹ lên lớp lông vàng óng ả nơi cổ người bạn đồng hành.
Khi cầm tấm ảnh mới in còn thơm mùi giấy bóng trên tay, Shiroma ngắm nghía một lúc rồi ngước đôi mắt sáng long lanh lên hỏi ý kiến Nam:
“Anh Nam ơi, tấm ảnh mới chụp này em đem kẹp lên sợi dây treo ở ngoài gian chính cùng với mọi người nhé?”
Nam hơi ngạc nhiên nhìn cô bé pháp sư trắng:
“Em không định giữ tấm ảnh chụp đẹp thế này về phòng làm của riêng à?”
“Nếu em muốn vừa có ảnh treo ở gian chính lại vừa có ảnh cất trong phòng thì anh Nam bấm máy in thành hai bản là được mà.”
Nam đứng nhìn thẳng vào gương mặt ngây thơ vô số tội của cô em gái nhỏ trong nhà, còn Shiroma thì nhoẻn miệng cười tươi rói rồi bồi thêm một câu hết sức thuyết phục:
“Trong hộp của chị Ciel vẫn còn tới mấy trăm tờ giấy ảnh chưa dùng tới cơ mà anh.”
Trước nụ cười trong veo và lý lẽ không thể chối cãi của Shiroma, Nam đành phải đưa tay lên xoa sau gáy rồi đầu hàng vô điều kiện:
“Được rồi, để tôi bấm máy chạy thêm bản nữa cho cô nương.”
Vừa thấy Nam cúi xuống ấn nút in lại trên mặt máy, giọng nói quen thuộc của Mina đang ngồi khâu lại túi vải ở bàn bên cạnh đã lập tức vọng sang trêu chọc:
“Đúng là cái đồ keo kiệt bủn xỉn, với trẻ con trong nhà mà cũng phải đắn đo từng tờ giấy.”
Nam giật mình quay phắt sang nhìn Mina, vội vàng lên tiếng kêu oan:
“Ơ hay, tôi vừa mới gật đầu đồng ý bấm in thêm bản thứ hai ngay trước mắt bà rồi còn gì nữa!”
“Miệng anh đồng ý in nhưng trước đó vẫn phải đứng ngần ngừ mất hai giây thì bản chất vẫn là đồ keo kiệt thôi.”
Nam há miệng định cãi lại nhưng rồi đành ngậm ngùi thở dài quay mặt đi chỗ khác, một lần nữa thấm thía chân lý rằng trong cái viện Tây Sơn này thì hắn không bao giờ có cửa thắng nổi Mina trong mấy màn đấu lý vụn vặt.
Vài ngày sau đó, vào một buổi chiều nắng dịu, Lưu chưởng quầy ở quán trà nội thành bất ngờ thong thả chống gậy trúc ghé thăm viện Tây Sơn, đi cùng ông lão còn có bác thợ mộc lành nghề của tiệm gỗ Phùng Ký, người hồi tháng trước từng dẫn đội thợ sang giúp sửa lại cánh cửa gỗ lớn của nhà kho và đóng mới dãy kệ để đồ cho viện. Cả hai vị khách quen khi bước vào gian khách đều đã nghe tiếng về chiếc máy in hình kỳ diệu của Tây Sơn, song chẳng có ai mở miệng xin mượn thiết bị mang đi hay tò mò dò hỏi xem Nam kiếm đâu ra món đồ tinh xảo ấy.
Lưu chưởng quầy hôm nay đi cùng chỉ để nhờ Nam hôm nào tiện đường vào thành thì ghé qua chụp giúp một tấm ảnh có cảnh ông lão đang đứng đón khách ngay trước hiên quán trà quen thuộc, còn bác thợ mộc bên tiệm gỗ Phùng Ký thì ngỏ ý muốn xin một tấm hình chụp nhóm thợ mộc đứng bên cạnh dãy giá gỗ lớn vừa lắp đặt hoàn thiện trong kho Tây Sơn để mang về treo ở tiệm làm kỷ niệm nghề nghiệp, tất nhiên là với điều kiện những người thợ xuất hiện trong ảnh đều vui vẻ đồng tình.
Nghe lời đề nghị của hai người khách quen, Nam theo phản xạ định mở miệng than thở rằng nếu cứ mỗi người thợ xin in riêng một tấm mang về thì chẳng mấy chốc mà thùng giấy ảnh trong kho sẽ vơi đi trông thấy, nhưng quản sự Hứa An ngồi ghi sổ ngay bên cạnh đã kịp thời lên tiếng nhắc nhở bằng những con số hết sức rạch ròi. Cậu quản sự chỉ rõ rằng chiếc máy in ảnh mini cùng năm trăm tờ giấy nhiệt và phụ kiện đi kèm là nguồn vật tư đặc thù không thể cầm bạc ra chợ Thanh Hà mua bổ sung tùy ý, vì vậy nếu viện Tây Sơn muốn in tặng hoặc hỗ trợ cho những người thợ đối tác bên ngoài thì bắt buộc phải thống nhất phạm vi sử dụng rõ ràng ngay từ đầu, nhất là để giữ kín nguyên tắc không ai cần truy hỏi xuất xứ của thiết bị.
Nghe cách giải thích minh bạch và sòng phẳng của Hứa An, Lưu chưởng quầy lập tức gật đầu đồng ý sẽ thanh toán đầy đủ phần chi phí hao mòn vật tư và tiền công trà nước cho người bấm máy. Bác thợ mộc bên tiệm gỗ Phùng Ký cũng cẩn thận quay ra sân sau hỏi han ý kiến của từng người thợ phụ trong nhóm trước khi tiến hành chụp ảnh tập thể, khi thấy có một anh thợ trẻ tính tình hay ngại ngùng không muốn gương mặt mình được treo ở cửa tiệm đông người qua lại, cả nhóm liền vui vẻ thống nhất đổi sang phương án chụp cận cảnh bộ giá gỗ lim vừa lắp ráp hoàn chỉnh, bên cạnh chỉ có những người thợ thực sự tự nguyện mới đứng vào chung khung hình mà chẳng có ai buông lời trêu chọc người vắng mặt là khó tính.
Cậu nhóc A Thạch được Nam giao nhiệm vụ cầm chiếc máy ảnh kỹ thuật số màu bạc ra kho hàng phụ trách bấm máy, miệng cậu nhóc hào hứng nhắc các bác thợ mộc đứng dịch sang bên trái để tránh luồng nắng chiều chiếu ngược vào ống kính rồi mới dứt khoát ấn nút chụp. Thế nhưng khi mang thẻ nhớ vào cắm in thử ra tấm ảnh đầu tiên, bác thợ mộc cả cầm tờ giấy lên xem thì phát hiện ra một góc chân giá đỡ bằng gỗ ở rìa phải đã vô tình bị cắt lẹm mất khỏi khung hình nên rụt rè xin phép được chụp lại tấm khác cho trọn vẹn.
Nam đứng bên cạnh nhìn tờ giấy ảnh vừa in lỗi định bụng xuýt xoa tiếc của, nhưng Hứa An đã điềm tĩnh lên tiếng gạt đi ngay, nhắc rằng lần đầu tiên A Thạch đứng ra bấm máy chụp công trình thì phần giấy in hỏng đó phải được tính vào chi phí học việc nội bộ của viện, không được phép đổ lỗi hay tính phí lên đầu người đặt chụp chỉ vì thợ chụp của nhà mình chưa kiểm tra kỹ bốn góc khung ngắm. Sau buổi chiều hôm ấy, Nam và Hứa An cùng thống nhất giữ nguyên quy tắc không bao giờ mở dịch vụ chụp và in ảnh thương mại đại trà tại thành Thanh Hà, mà chỉ dành một hạn mức giấy nhất định để in tặng những người thợ, người bạn đã trực tiếp góp công sức xây dựng viện với sự đồng thuận thoải mái của người trong cuộc. Qua câu chuyện nhỏ với nhóm thợ mộc Phùng Ký, chính Nam cũng nghiệm ra rằng một bức ảnh lưu giữ thành quả lao động đôi khi lại là món quà cảm ơn bền bỉ và đáng quý hơn cả một bữa rượu trà, miễn là người đón nhận thực sự trân trọng và muốn giữ gìn nó.
Cách đó hai hôm, trong những ngày cuối cùng của tháng, bác phu già đánh xe ngựa ở thôn Phù vốn từng nhiệt tình chỉ dẫn cho Hứa An chỉnh sửa lại các khúc cua trên tấm bản đồ đường đất hồi đầu xuân, nay nhân tiện chở hàng đi ngang qua ngoại thành cũng ghé vào viện Tây Sơn uống bát nước mát và đứng ngắm nhìn bức ảnh chụp cổng viện treo trên dây gai trong gian chính. Đứng nhìn tấm ảnh chụp toàn cảnh con đường đá dẫn vào cổng viện Tây Sơn một lúc, ông lão đánh xe tinh mắt nhận ra ngay ở góc trái tấm hình có một lối rẽ nhỏ men theo bờ mương mà trước đây tấm bản đồ vẽ tay của viện chưa ký hiệu rõ ràng.
Thế nhưng khi đem chi tiết phát hiện từ bức ảnh ra bàn luận, quản sự Hứa An đã tỉnh táo nhắc mọi người rằng một tấm ảnh chụp thực tế cũng chỉ chứng minh được hình dạng mặt đường vào đúng cái ngày nắng ráo mà người chụp bấm máy, chứ bản thân mảnh giấy ảnh không thể tự trả lời được câu hỏi là đến khi mưa lũ mùa hạ đổ về thì lối rẽ đất thấp ấy có bị ngập bùn lầy tới mức kẹt cứng bánh xe ngựa hay không. Vậy là cả nhóm liền mang tấm ảnh chụp cổng viện đặt nằm ngay bên cạnh tấm bản đồ địa hình khu vực, vừa đối chiếu hình ảnh trực quan với kinh nghiệm chạy xe qua bốn mùa mưa nắng của bác xế già, vừa dùng bút chì ghi chú bổ sung ngày tháng chụp ảnh cùng độ lún nền đất vào lề bản đồ.
Nam đứng chống tay lên mép bàn nhìn sự kết hợp nhịp nhàng giữa tấm ảnh hiện đại và kinh nghiệm người bản địa, buột miệng hỏi bác xế già một câu:
“Theo kinh nghiệm đi đường của bác thì trong trường hợp nào người ta sẽ tin vào tấm hình chụp hơn là lời kể miệng?”
Ông lão đánh xe thôn Phù nhấp một ngụm trà, chỉ tay vào hàng cây bên đường trong bức ảnh rồi đáp rất thực tế:
“Tấm hình này có giá trị ở chỗ nó cho người chưa từng tới nơi được tận mắt nhìn thấy cái cây, tảng đá từng đứng ở vị trí nào vào ngày hôm đó, nhưng nếu muốn biết chắc chắn ngày hôm nay con đường ấy còn đi lọt bánh xe hay đã sạt lở mất rồi thì vẫn phải hỏi cái chân của người vừa đi qua đó hôm qua.”
Lão Tề bên xưởng rèn hôm ấy tình cờ sang kiểm tra lại mối hàn sắt ở cửa kho nghe thấy cuộc trò chuyện liền rút từ trong túi áo ra hai tấm ảnh mà Nam từng chụp giúp lúc trước, gồm một tấm chụp hiện trạng nền đá và rãnh nước phía sau nhà kho trước khi gia cố cùng một tấm chụp sau khi đã lắp xong bộ khung giằng sắt mới, rồi đề xuất viện Tây Sơn nên dùng chính những cặp ảnh trước và sau khi thi công thế này để lập thành một cuốn sổ hồ sơ công trình nội bộ, bên dưới ghi rõ hạng mục nền móng đã thay thế, hướng thoát nước mưa và ngày tháng nghiệm thu. Ciel đứng nghe bên cạnh lập tức tán thành ý tưởng kỹ thuật ấy của lão thợ rèn, đồng thời nhắc thêm rằng phải phân loại và cất giữ riêng biệt những tấm ảnh chụp kết cấu công trình với những bức ảnh sinh hoạt của người nhà, bởi không phải vị khách vãng lai nào ghé chơi gian chính cũng cần được nhìn thấy tường tận sơ đồ bố trí máy móc hay lối đi ngầm bên trong khu xưởng của viện.
Nam gật đầu tiếp thu ngay ý kiến hợp lý của cả Lão Tề lẫn Ciel, quay sang giao cho Hứa An chuẩn bị riêng một chiếc hộp gỗ có ngăn phân loại ở phòng làm việc để lưu trữ các bản in phục vụ công tác kỹ thuật và xây dựng. Những bức ảnh chụp cảnh đón Tết hay cảnh đùa nghịch thường ngày vẫn được treo ấm cúng trên sợi dây gai nơi gian chính cho người trong nhà ngắm nhìn, trong khi tấm bản đồ theo dõi vùng núi phía bắc với những chấm chì chưa kiểm chứng cũng không vì sự xuất hiện của chiếc máy in ảnh mà tự động biến thành tài liệu hoàn chỉnh. Hai mảng công việc tuy mang tính chất khác hẳn nhau nhưng lại cùng giúp tập thể viện Tây Sơn gắn kết sâu sắc hơn với mảnh đất và con người Thanh Hà, luôn biết lắng nghe kinh nghiệm của những người dân bản địa đã gắn bó với từng cung đường, và biết dùng những kỷ vật chân thành để tri ân những người thợ đã đổ mồ hôi giúp mình dựng xây tổ ấm.
Khi bóng tối của buổi chiều cuối tháng đã bắt đầu buông xuống phủ kín các rặng núi phía xa và gió đêm mát rượi thổi lồng lộng qua khoảng sân gạch, Harpe mới sải bước trở về gian cổng lần cuối trước giờ cài then đóng cửa. Trên tay vị chỉ huy tóc bạc lúc bước vào phòng làm việc có cầm theo một mảnh giấy truyền tin nhỏ được niêm phong bằng sáp ong vừa do một đệ tử chạy tin của trưởng lão Tạ Vân mang tới.
Nam đang đứng châm thêm dầu vào ngọn đèn bàn gần đó trông thấy mảnh giấy trên tay Harpe liền ngẩng lên hỏi ngay:
“Bên chỗ Tạ trưởng lão vừa gửi thêm dữ liệu hiện trường mới từ phía bắc về đấy à?”
Harpe tháo lớp sáp niêm phong, lướt mắt đọc nhanh mấy dòng chữ ngắn gọn trên mảnh giấy rồi lắc đầu đáp:
“Không phải báo cáo phát hiện dấu vết mới ngoài thực địa đâu.”
“Thế trong thư viết chuyện gì?”
Harpe đặt mảnh giấy thông báo xuống mặt bàn gỗ bên cạnh tấm bản đồ lớn rồi tóm tắt lại nội dung cho Nam và Hứa An cùng nghe. Thượng tầng của Lạc Hà tông sau khi xem xét tập sơ đồ phân vùng ba cấp độ mà Tạ Vân trình lên hồi giữa tháng đã chính thức triệu tập các vị trưởng lão phụ trách biên phòng về sơn môn để bàn bạc kế hoạch tổ chức một đợt khảo sát quy mô lớn và bài bản hơn tại dãy núi phía bắc.
Trong bức thư ngắn của Tạ Vân hiện vẫn chưa ấn định ngày giờ xuất phát cụ thể, chưa chốt danh sách các tổ đội tham gia và cũng chưa vạch sẵn tuyến đường hành quân chi tiết nào cả, mà mới chỉ dừng lại ở quyết định mang tính bước ngoặt rằng những chuyến đi kiểm tra tự phát, rời rạc như mấy tháng qua đã không còn đủ sức giải quyết vấn đề nữa. Nam nghe Harpe đọc xong nội dung mảnh giấy thì không vội đưa ra bình luận ngay, trong khi Hứa An đang cầm cây bút bi bên cuốn lịch công tác tháng mới liền ngước lên hỏi Harpe:
“Vậy đệ có cần phải khoanh trống trước mấy ngày trên tờ lịch tháng sau để giữ lịch cho đội mình tham gia không?”
Harpe suy nghĩ một thoáng rồi dứt khoát lắc đầu:
“Tạm thời chưa cần khoanh lịch vội đâu.”
“Theo huynh ước tính thì bên Lạc Hà tông sẽ mất khoảng bao lâu để chuẩn bị xong phương án?”
“Chuyện điều phối nhân sự giữa các phòng ban của một tông môn lớn thì chưa biết chính xác bao nhiêu ngày mới ngã ngũ được.”
Nghe câu trả lời thận trọng của Harpe, Hứa An liền đặt cây bút bi xuống bàn mà không đánh dấu bất kỳ ký hiệu giữ chỗ nào lên tờ lịch mới. Nam đứng bên cạnh khẽ gật đầu đồng tình với cách xử lý thực tế ấy của cậu quản sự, bởi nguyên tắc làm việc của viện Tây Sơn từ trước tới nay là không bao giờ tự trói chân mình bằng cách khóa cứng lịch trình chỉ vì một kế hoạch bên ngoài còn chưa rõ ngày giờ cụ thể.
Nam cúi nhìn mảnh giấy truyền tin trên mặt bàn rồi hỏi thêm Harpe một câu:
“Trong thư Tạ Vân có đề cập gì tới việc Lạc Hà tông muốn mời nhân sự của viện Tây Sơn cùng tham gia đợt khảo sát chính thức này không?”
“Hiện tại trong thư cô ấy vẫn chưa nhắc chữ nào tới chuyện thuê hay mời viện mình cả.”
“Nếu họ chưa mở lời chính thức thì mình cứ bình tĩnh làm việc của mình và chờ xem động tĩnh tiếp theo thôi.”
Harpe gật đầu nhất trí với sự điềm tĩnh của ông chủ viện, bởi giữa Tây Sơn và Lạc Hà tông vốn là mối quan hệ đối tác sòng phẳng chứ chẳng ai có nghĩa vụ phải sốt sắng tự nhận trách nhiệm về phần mình trước khi có thỏa thuận rõ ràng. Nam bước lại gần chiếc bàn gỗ lớn, cúi đầu nhìn xuống tấm bản đồ địa hình vùng núi phía bắc đang nằm im lìm dưới ánh đèn dầu vàng vọt.
Trên mặt giấy bản ghép nối rộng lớn ấy là hàng loạt những mảng gạch chì nhạt, nét đứt vừa và những vùng gạch chéo đậm đặc đan xen vào nhau, tất cả vẫn chưa thể gọi thành tên một con quái vật hay một tai ương cụ thể nào. Thế nhưng chỉ riêng hình hài của những mảng chì xám ấy thôi cũng đã đủ sức nặng để buộc một môn phái tu tiên lớn nhất vùng như Lạc Hà tông không thể tiếp tục xem nhẹ đó là vài vụ yêu thú đổi ổ thất thường quanh thành Thanh Hà được nữa.
Đây chính là lần đầu tiên kể từ đầu năm tới nay, câu chuyện bí ẩn ở vùng núi phía bắc thực sự kết tụ lại thành một quy luật hiện tượng đủ rõ ràng và nghiêm trọng để các thế lực bản địa phải nghiêm túc rút kiếm chuẩn bị cho một cuộc khảo sát toàn diện. Thứ đang hiện lên rõ mồn một trên mặt tấm bản đồ trước mắt Nam chính là hình hài của một khoảng trống vô hình đang âm thầm lan rộng và nuốt dần sự sống qua từng tầng sinh thái nơi đại ngàn phương bắc.
Nam đứng lặng yên ngắm nhìn những mảng chì xám trên bản đồ thêm vài giây nữa, sau đó mới từ từ ngẩng đầu lên và đưa ánh mắt nhìn xuyên qua khung cửa thông sang gian chính, nơi có sợi dây gai treo những bức ảnh màu vừa in trong tháng. Trong cùng một mái nhà yên tĩnh lúc đêm về, hai thứ mang ý nghĩa trái ngược nhau lại đang nằm cách nhau chỉ vài bước chân: một bên là tấm bản đồ ghi dấu những vùng rừng núi mà muôn loài cầm thú đang lặng lẽ rời bỏ đi, còn một bên là dãy ảnh in rực rỡ lưu giữ gương mặt của những con người đang quây quần chung sống tại viện Tây Sơn.
Sự tương phản kỳ lạ giữa hai khung cảnh ấy khiến lòng Nam thoáng dâng lên một cảm xúc rất khó tả, nhưng đồng thời cũng giúp tâm trí hắn trở nên sáng rõ và vững chãi hơn bao giờ hết. Phía bên tấm bản đồ kia là một ẩn số mênh mông của trời đất Đại Càn mà họ chưa biết rõ lời giải, còn phía bên sợi dây treo ảnh này lại là những điều chân thực và rõ ràng nhất mà hắn đang nắm giữ trong tay.
Từ những người bạn đồng hành đến từ các thế giới khác nhau cho tới hai huynh đệ Hứa An và A Thạch, rồi cả những bậc trưởng bối bản địa như lão thợ rèn Lão Tề, trận pháp sư Ngô Thành hay Lưu chưởng quầy ở quán trà nội thành, tất cả đều đã gắn bó thân thuộc như người một nhà và đang hiện diện sống động ngay tại nơi này. Viện Tây Sơn ở thời điểm hiện tại có thể vẫn chưa biết rõ thứ đang ẩn mình dưới bóng tối của dãy núi phía bắc rốt cuộc là gì, nhưng ít nhất mỗi người trong số họ đều biết cực kỳ rõ ràng rằng mình đang đứng ở đâu và đang bảo vệ những điều quý giá nào dưới mái hiên này.
Nam thong thả bước qua ngưỡng cửa gỗ, nghiêng vai tựa lưng vào chiếc cột lim tròn bóng giữa gian chính và ngước mắt ngắm nhìn hàng ảnh dưới ánh đèn lồng. Đúng lúc ấy, Mina bưng khay ấm chén vừa tráng nước sôi từ dưới bếp đi ngang qua hành lang, thấy bóng hắn đứng trầm ngâm liền dừng bước hỏi khẽ:
“Đêm hôm khuya khoắt rồi mà anh lại ra đứng ngắm ảnh một mình đấy à?”
Nam giật mình thu lại dòng suy nghĩ, theo thói quen buột miệng chối ngay:
“Đâu có, tôi đứng ngắm ảnh lúc nào đâu.”
“Hai con mắt của anh đang dán chặt lên sợi dây treo ảnh rõ ràng thế kia mà còn chối.”
“Tôi vừa ở ngoài bàn cổng đi vào nên tiện mắt đứng nhìn tấm bản đồ phía bắc đặt ở gian bên kia thôi.”
“Nhưng sợi dây treo ảnh lại nằm ngay sát bên cạnh khung cửa anh đang nhìn còn gì.”
“Hai thứ đó nằm gần nhau là chuyện của cái tường nhà chứ có liên quan gì tới hướng nhìn của tôi đâu.”
Mina bật cười khẽ một tiếng trước sự cứng đầu của gã chủ viện, cũng chẳng thèm vạch trần hắn thêm làm gì. Nam đứng thẳng người dậy, chợt nhớ ra một chi tiết nhỏ liền quay sang hỏi cô:
“À mà này bà Mina, tấm ảnh chụp chung của bà với Soma hôm in đầu tiên ấy, rốt cuộc là bà mang về cất ở chỗ nào trong phòng thế?”
Mina đang chuẩn bị bước tiếp về phía bàn trà nghe câu hỏi ấy thì hơi dừng bước chân lại, quay đầu nhìn hắn đáp gọn:
“Tôi cất ở trong hộp gỗ trên bàn trang điểm trong phòng riêng của tôi chứ để ở đâu.”
“Sao bà không lấy kẹp nhựa kẹp luôn tấm bản gốc ấy lên dây này?”
“Trên sợi dây ở gian chính này đã có sẵn một bản sao của bức hình đó do Soma đem treo lên từ tuần trước rồi còn gì.”
“À, ừ nhỉ.”
Nam gật gù đáp lời, còn Mina thì nheo mắt nhìn thẳng vào mặt hắn với vẻ dò xét đầy tinh quái:
“Thế tự dưng tối nay anh lại hỏi thăm chỗ tôi cất tấm ảnh đó để làm cái gì?”
“Thì tôi sực nhớ ra nên thuận miệng hỏi thăm một câu thế thôi chứ chẳng có ý gì cả.”
“Ừ, cứ cho là thế đi.”
Mina buông lại đúng một chữ ừ kéo dài đầy ẩn ý rồi thong thả bưng khay trà đi tiếp vào trong, để lại Nam đứng ngẩn người bên cột nhà với cảm giác vô cùng bất an trước cái gật đầu của cô mà vắt óc nghĩ mãi vẫn chẳng tìm ra được câu nào sắc bén để bật lại.
Trước khi quay về phòng riêng đi ngủ vào lúc canh hai, Nam vẫn giữ thói quen cẩn thận mở giao diện hệ thống Wikia trong tâm thức ra để rà soát lại một lượt cuối cùng. Lần tra cứu muộn màng này được hắn thực hiện với tâm thế hết sức tỉnh táo để tự kiểm điểm xem liệu bộ não của mình có đang vô tình bỏ sót một mối liên hệ khách quan nào từ tri thức của các thế giới khác hay không.
Trên màn hình tra cứu của thư viện vạn giới vẫn hiện lên hàng trăm trang tài liệu phân tích chi tiết về đủ loại thiên tai địa biến, mạch độc khí rò rỉ dưới lòng đất, sự dịch chuyển của các giống loài ma thú cổ đại hay phản ứng sợ hãi bản năng trước uy áp của sinh vật bậc cao tại những thế giới từng được hệ thống ghi nhận, thế nhưng chưa có bất kỳ một mục từ nào trong số đó dám khẳng định là lời giải chính xác cho hiện tượng đang diễn ra tại thành Thanh Hà. Nam bình thản đóng giao diện tìm kiếm của Wikia lại và thở ra một hơi nhẹ nhõm. Việc nắm trong tay một kho tàng ví dụ đồ sộ từ muôn vàn thế giới khác không đồng nghĩa với việc hắn có quyền lấy bừa một khuôn mẫu có sẵn rồi gượng ép chụp lên thực tại, bởi bài toán hóc búa ở vùng núi phía bắc chắc chắn vẫn phải được giải đáp bằng chính những dữ liệu thực tế thu thập được trên mặt đất Đại Càn.
Đúng lúc Nam vừa bước tới bên khung cửa sổ phòng khách định vươn tay khép cánh cửa gỗ lại, từ ngoài khoảng sân gạch tĩnh mịch dưới ánh trăng đầu hạ bỗng vang lên một tiếng kêu khe khẽ rất quen thuộc của Chocobo. Nam dừng tay trên chấn song cửa, lắng tai nghe tiếng bước chân rón rén ngoài hiên bếp rồi thầm đoán chắc chắn giờ này lại là cậu nhóc A Thạch đang lén lút mang đồ ăn vặt ra đút thêm cho chú chim vàng.
Nam nhẹ nhàng đẩy cánh cửa gỗ bước ra ngoài thềm đá, và cảnh tượng hiện ra dưới ánh trăng sáng vằng vặc ngoài sân quả nhiên không lệch đi đâu một ly. Cậu nhóc A Thạch đang đứng thập thò ngay dưới bóng râm của tán cây hòe cạnh nhà kho, trên tay cầm một miếng lê ngọt vừa gọt vỏ đưa tới trước mỏ cho Chocobo nhấm nháp.
Nghe tiếng cửa gỗ mở cọt kẹt từ phía gian chính, A Thạch đang đứng đút trái cây cho bạn liền giật mình rụt tay lại và đứng nghiêm như trời trồng giữa sân:
“Ơ, Nam ca chưa ngủ ạ.”
Nam khoanh hai tay trước ngực đứng trên bậc thềm đá nhìn xuống sân, hạ giọng hỏi khẽ để khỏi làm thức giấc các phòng xung quanh:
“Đệ có biết bây giờ đã là canh mấy rồi mà còn lọ mọ đứng ngoài sân thế kia không?”
“Dạ mới qua canh hai một chút chứ vẫn chưa khuya lắm đâu ca.”
“Sáng sớm mai đệ có lịch phải đánh xe ngựa đi giao hàng tận trấn ngoài từ lúc gà gáy đấy có nhớ không?”
“Lịch chạy xe sáng mai đệ vẫn nhớ kỹ lắm, đệ chuẩn bị sẵn yên cương từ chiều rồi ạ.”
“Nhớ lịch đi sớm thế sao giờ này còn chưa chịu về phòng đắp chăn đi ngủ?”
A Thạch gãi đầu nhìn sang chú chim vàng khổng lồ đang đứng chớp mắt bên cạnh mình, ngập ngừng mất hai giây rồi mới thành thật chỉ tay sang người bạn đồng hành:
“Tại lúc nãy đệ đi ngang qua chuồng thấy cậu ấy cứ ngóc đầu dậy kêu nhỏ, đệ đoán là cậu ấy bị đói bụng giữa đêm nên mới vào bếp lấy miếng quả ra cho cậu ấy ăn thêm.”
Nam chuyển ánh mắt từ cậu thiếu niên sang nhìn thẳng vào chú chim vàng Chocobo, và Chocobo khi bắt gặp ánh nhìn dò xét của ông chủ viện cũng lập tức nghiêng cái đầu tròn xoe nhìn lại hắn rồi kêu lên một tiếng nghe hết sức vô tội:
“Kweh.”
Nhìn vẻ mặt ngây thơ của cả người lẫn chim dưới ánh trăng đêm, Nam cũng chẳng tài nào phân biệt nổi là chú chim phàm ăn kia bị đói bụng thật hay chỉ đang làm nũng để xin quà vặt của cậu nhóc chạy việc. Hắn đành bất lực phẩy tay một cái về phía gian bếp và dặn gọn:
“Hai đứa ăn nốt miếng quả đó đi rồi mau về chuồng về phòng mà ngủ ngay cho kịp giờ dậy sáng mai.”
A Thạch thấy Nam ca không những không trách mắng mà còn cho phép đút nốt miếng lê thì lập tức cười tươi rói, lễ phép đáp khẽ:
“Dạ vâng, đệ cho Chocobo ăn xong miếng này là đi ngủ liền đây ạ!”
Nam khẽ lắc đầu mỉm cười rồi xoay người bước trở lại vào trong hiên nhà. Khi đi ngang qua ngưỡng cửa gian chính một lần nữa, ánh mắt hắn lại chạm vào sợi dây gai căng dọc bức tường gỗ với những bức ảnh mới in từ chiều vẫn còn thoang thoảng mùi giấy nhiệt rất nhẹ trong không khí, còn ngay phía bàn làm việc bên cạnh là tấm bản đồ vùng núi phía bắc trải rộng dưới ánh đèn.
Nam bước tới đặt lại mảnh giấy truyền tin của trưởng lão Tạ Vân nằm ngay ngắn bên cạnh cuốn sổ cái của Hứa An, sau đó tiện tay vươn lên định chỉnh lại bức ảnh chụp đại gia đình Tây Sơn đang treo ở giữa dây cho thật ngay ngắn. Ai ngờ do ngón tay hắn sơ ý chạm hơi mạnh vào chiếc kẹp nhựa màu xanh, lực kéo bất ngờ truyền dọc theo sợi dây gai mảnh khiến bức ảnh của Ronan và Harpe kẹp ngay kế bên bị trượt lệch một góc và nghiêng hẳn xuống dưới.
Đúng lúc Nam đang luống cuống dùng cả hai bàn tay giữ lấy hai mép giấy ảnh để khỏi làm rơi chiếc kẹp nhựa xuống sàn gạch, từ phía hành lang thông xuống bếp bỗng vang lên tiếng bước chân nhẹ nhàng cùng giọng gọi tỉnh rụi của Mina:
“Anh Nam này.”
Nam đang tập trung giữ sợi dây ảnh thì giật bắn mình, vội vàng quay đầu lại nhìn cô:
“Chuyện gì thế bà?”
“Anh đứng chình ình ngay chính giữa khung cửa thế kia là chắn hết cả lối tôi đi lấy nước uống rồi đấy.”
Nam cúi đầu nhìn xuống đôi chân đang đứng dạng ngang ngay giữa bậc cửa thông phòng của mình, nhận ra mình đang đứng chắn kín lối đi thật nên đành ngượng nghịu ậm ừ một tiếng:
“À, để tôi đứng tránh sang bên này.”
Hắn vội vàng thu tay lại và bước lùi sang sát mép tường gỗ để nhường đường. Mina một tay bưng cốc nước ấm, tay kia cầm sẵn một chiếc kẹp quần áo bằng nhựa màu đỏ thong thả bước qua ngưỡng cửa, dừng lại ngay trước sợi dây gai và nhẹ nhàng dùng chiếc kẹp mới cố định lại góc bức ảnh của Ronan và Harpe vừa bị Nam làm nghiêng lúc nãy.
Nam đứng nhìn thao tác gọn gàng của Mina chỉ trong chớp mắt đã giúp hàng ảnh thẳng thắp trở lại, không khỏi ngạc nhiên hỏi khẽ:
“Giờ này rồi mà bà vẫn còn mang thêm kẹp nhựa ra treo ảnh cơ à?”
Mina chỉnh xong chiếc kẹp đỏ trên dây, quay sang thản nhiên đáp:
“Trong túi vải ở góc kho vẫn còn nhiều kẹp nhựa dự phòng lắm.”
“Dùng suốt từ mùa thu năm ngoái tới giờ mà hiện tại trong kho còn khoảng bao nhiêu cái nữa?”
Mina vừa nghe câu hỏi kiểm kê số lượng quen thuộc ấy đã lập tức quay đầu sang nhìn thẳng vào mặt Nam với ánh mắt sắc lẻm, khiến hắn phải vội vàng giơ tay lên tự chặn họng mình ngay tức khắc:
“Thôi được rồi, coi như tôi chưa hỏi câu vừa rồi nhé.”
Mina thấy hắn biết điều tự rút lui kịp lúc thì mới bật cười thành tiếng. Ít nhất sau ngần ấy thời gian chung sống, gã chủ viện Tây Sơn cũng đã học được bài học quý giá là biết chính xác thời điểm nào nên ngừng hỏi giá trị hay số lượng của một chiếc kẹp nhựa trong nhà.
Ngoài bàn trực nơi gian cổng, quản sự Hứa An trước khi về phòng nghỉ đã cẩn thận úp ngược cuốn sổ tính tiền xuống mặt bàn gỗ và phủ một tấm khăn vải mỏng lên trên để tránh bụi đêm bám vào giấy. Từ phía dưới gian bếp bỗng vang lên tiếng kêu đòi ăn khe khẽ của Chocobo khi thấy A Thạch quay vào rửa tay, khiến Nam phải đứng từ cửa gian chính gọi vọng xuống nhắc rằng khẩu phần trái cây của chú chim hôm nay đã được chia đủ cả rồi.
Chỉ một thoáng sau, giọng của cậu nhóc A Thạch từ dưới hiên bếp thật thà vọng ngược lên thú nhận rằng chính cậu nhóc lúc chiều đi giao hàng về khát nước quá nên đã lỡ miệng ăn mất quả lê dự phòng để dành cho Chocobo. Nam nghe vậy liền dợm bước định đi xuống bếp tính sổ với cậu nhóc ăn vụng, nhưng Mina đang đứng bên bàn trà đã kịp thời giơ tay chặn hắn lại với một câu phán quyết dứt khoát:
“Để cho thằng bé với con chim ăn uống xong xuôi đi ngủ đã, có muốn cãi nhau hay tính sổ thì để dành sang sáng mai hãy tính.”
Ở phía thềm đá sau khu nhà ở, Ronan và Harpe vẫn chưa vội quay về phòng nghỉ ngay mà còn đang ngồi cạnh nhau dưới ánh đèn lồng để lau chùi lại lưỡi kiếm sau ngày tập luyện, tiếng hai người thấp giọng tranh luận xem bản in tấm ảnh chụp chung mà ai đang cầm trên tay có màu sắc hài hòa hơn cứ rì rầm vọng qua khung cửa sổ. Từ bên trong khu xưởng cơ khí phía tây, giọng nói trong trẻo của Ciel gọi Zero giúp cô giữ cố định một đầu cáp nối mới cũng vang lên đủ rõ để Nam nghe thấy sự bận rộn quen thuộc của phòng kỹ thuật lúc đêm về.
Nam đứng bên ngưỡng cửa lắng nghe trọn vẹn những thanh âm đời thường ấm áp ấy thêm một thoáng, sau đó mới nhẹ nhàng kéo hai cánh cửa gỗ của gian chính khép lại, không quên chừa ra một khe sáng nhỏ dưới chân cửa để lát nữa Mina uống nước xong còn nhìn thấy đường đi về phòng. Đợi thêm một lát nữa thôi, khi tất cả mọi thành viên dưới mái nhà Tây Sơn đều đã yên giấc nồng sau một ngày dài, hắn sẽ tự tay đi tắt ngọn đèn dầu cuối cùng trong viện.