🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Khai Thác AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Tập truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← GACHA VẠN GIỚI

Ch.38: Đồ ăn đóng hộp

~130 phút đọc · 25863 từ · · ⚠️ Báo cáo

Bước sang tiết giữa xuân, viện Tây Sơn bắt đầu đối mặt với một rắc rối mới mà suốt ba năm trước Lê Mai Nam chưa từng nghĩ tới. Công việc làm ăn của cả viện bỗng dưng nhiều lên trông thấy. Chẳng có bầy yêu thú nào kéo tới tận cửa quậy phá, bên Lạc Hà tông cũng không cử người sang báo tin đại họa gì, chỉ đơn giản là những mối việc làm ăn thường ngày bắt đầu dồn tới chồng chéo lên nhau.

Một thương đội từng được Ronan hộ tống an toàn hồi năm ngoái đã nhiệt tình giới thiệu thêm một nhà buôn quen biết khác tìm tới cổng. Vị khách mới này sau khi xong việc lại tiếp tục mách mối cho một người bạn chuyên vận chuyển dược liệu đường dài. Ở một nhánh khác, bác thợ cả Lão Tề cũng dẫn mối một chủ kho hàng lớn trong thành đang cần nhờ Ciel sang xem giúp cơ cấu ròng rọc nâng hàng bị kẹt, còn Lưu chưởng quầy ngoài phố thì giới thiệu một vị khách muốn thuê người đi dọc tuyến đường bộ tìm giúp một chuyến xe chở trà đã trễ hẹn hai ngày chưa thấy bóng dáng. Thậm chí có một ông chủ xưởng ở khu vực phía nam thành nghe kể lại chuyện người của Tây Sơn từng giải cứu đoàn xe hàng thoát nạn sạt lở đất hồi mùa thu, nay cũng tìm tới tận nơi hỏi xem liệu đến mùa mưa năm nay có thể đặt lịch thuê trước nhân sự hỗ trợ trên một cung đường đèo nguy hiểm hay không.

Đấy là còn chưa tính tới hàng loạt đầu việc cố định vốn đã có sẵn trong sổ từ đầu tháng. Hiện tại cả viện đang có hai chuyến hộ tống hàng hóa đã nhận cọc, một chuyến đi khảo sát dài ngày trên vùng núi phía bắc sắp tới ngày xuất phát, cộng thêm một vụ đi kiểm tra dấu vết yêu thú nhỏ ở khu vực phía đông thành. Ngoài ra, Zero còn có lịch phải đi cùng sang xưởng của Ngô Thành để hỗ trợ Ciel thử nghiệm hệ thống nguồn năng lượng mới, trong buổi thử nghiệm đó, nàng tiểu tinh linh Cloppe cứ bay lơ lửng theo sát bên vai Zero, kiên nhẫn chờ cho tới khi anh kiểm tra xong xuôi hết những đầu nối kim loại còn đang nóng rực mới dám vỗ cánh bay lại gần. Cô bé Shiroma thì vẫn giữ lịch sang phụ việc đều đặn ở Lương y quán, cậu nhóc A Thạch ngày nào cũng chạy việc ngoài đường, còn hai chủ tớ Ronan cùng Harpe đều đã có những lịch trình làm việc riêng nhận lời từ trước.

Sáng sớm hôm ấy, Soma vừa mới mặc chiếc áo khoác ngoài vừa phơi khô nắng, thong thả bước chân vào trong gian cổng. Nhìn thấy Hứa An đang bày tới ba cuốn sổ ghi chép khác nhau ra mặt bàn để lật tìm đối chiếu, anh liền dừng lại hỏi: “Hôm nay theo lịch thì tôi phải đi những đâu thế?”

Hứa An mắt vẫn dán chặt vào trang sổ, tay cầm bút bi ghi sổ mà đáp luôn không cần ngẩng đầu: “Hôm nay Soma đại ca đi chuyến ở phía đông thành, vị khách đó đã hẹn gặp ở trạm dừng chân ngoài cổng vào đúng đầu giờ Tỵ.”

“Thế còn lịch ngày mai của tôi thì sao?”

“Ngày mai thì đại ca được ở nhà nghỉ ngơi, trừ phi có khách quen nào đột xuất gửi giấy báo việc gấp. Hôm kia đại ca vừa mới đi chuyến ở tận phía nam về xong, cho nên hôm nay lúc đi trên đường nếu có gặp ai mở lời mời mọc thì đại ca đừng có tiện miệng gật đầu nhận thêm việc mới đấy nhé.”

Soma vươn tay cầm tờ giấy ghi lịch trình tạm thời trên bàn lên săm soi, và đây cũng là lần đầu tiên anh nhận ra cái tên của chính mình đã chiếm kín gần hết hai hàng ngang trên mặt giấy: “Tôi cứ đinh ninh là trong tuần lễ này mình vẫn còn dư ra được đôi ba ngày nghỉ cơ đấy.”

“Thì ngày nghỉ của đại ca chính là ngày mai đây này.” Hứa An vươn ngón tay chỉ thẳng vào đúng một ô giấy duy nhất còn đang để trống.

Nam đang ngồi vắt chân uống trà trên chiếc ghế mây đặt dưới mái hiên nhà chính, nghe cuộc đối đáp của hai người họ tới đó thì không nhịn được phải bật cười: “Xem kìa, bây giờ đến cả cậu mà cũng phải cầm giấy soi lịch mới biết được hôm nào mình được nghỉ ngơi cơ à?”

Soma quay đầu lại nhìn ông chủ xưởng: “Cậu còn ngồi đó mà cười được à? Ít ra tôi nhận việc là vì thấy hứng thú, chứ bản thân cậu có còn nhớ nổi tuần vừa rồi mình đã tiện miệng hứa hẹn với khách hàng bao nhiêu lần rồi không?”

Hứa An ngồi bên bàn xoay ngược cuốn sổ ghi chép hướng về phía Nam, để lộ ra ba dấu khuyên tròn bằng mực đỏ chót nằm nổi bật trên mặt giấy: “Chuyện đó cũng chính là vấn đề mà đệ đang định đem ra hỏi lại Nam huynh đây.”

Nụ cười trên môi Nam tắt phụt ngay: “Mấy vụ đi hộ tống ngoài đường đó huynh có trực tiếp xách kiếm đi theo bao giờ đâu.”

“Nam huynh không trực tiếp đi, nhưng lần nào khách quen tới nói chuyện huynh cũng gật đầu nhận lời trước rồi mới quay vào trong nhà hỏi xem có ai rảnh để đi hay không,” Hứa An điềm tĩnh vạch rõ. “Nếu chẳng may nhận trùng lịch không thu xếp được người đi, tới lúc đó người phải đích thân ra mặt nói lời xin lỗi khách hàng cũng chính là Nam huynh đấy.”

Nam lặng lẽ đặt chén trà ấm trong tay xuống mặt bàn gỗ. Trong bụng hắn rất muốn tìm cớ cãi lại một câu cho đỡ mất mặt, nhưng ba cái dấu khuyên mực đỏ chót trên trang sổ đang nằm sờ sờ ngay trước mắt khiến hắn chẳng tìm ra được lý lẽ nào để chối.

Ông chủ xưởng khẽ cau mày làu bàu: “Cái quy trình làm ăn này nghe qua cứ thấy nó thiếu công bằng với huynh kiểu gì ấy.”

Hứa An không tốn thời gian tranh luận thêm với ông chủ của mình. Cậu mở ngăn bàn lấy ra một tờ giấy tuyên trắng có kích thước rộng hơn hẳn loại giấy viết thư thông thường, trải phẳng phiu lên mặt bàn gỗ rồi dùng thước kẻ sẵn thành từng cột dọc đều đặn.

Nam ngồi trên ghế nghiêng đầu ngó sang hỏi: “Đệ lại đang kẻ vẽ cái bảng gì ra giấy thế kia?”

“Đệ kẻ các cột ngày tháng trong tuần.”

“Nhìn mấy con số đó thì tất nhiên là huynh biết cột ngày tháng rồi.”

“Đã nhìn ra rồi thì huynh còn hỏi lại đệ làm gì nữa.”

Nam ngậm miệng ngồi im. Đúng lúc cậu nhóc A Thạch vừa mới xách đồ từ ngoài cổng bước chân qua bậu cửa, nghe trọn vẹn màn đối đáp ấy liền vội vàng quay ngoắt mặt đi hướng khác để giấu nụ cười trên môi.

Hứa An tiếp tục cầm bút bi viết nắn nót tên của từng thành viên trong viện dọc theo lề bên trái của tờ giấy lớn, lần lượt từ Ronan, Soma, Zero, Harpe cho tới A Thạch. Bên dưới đó cậu cũng kẻ thêm một dòng riêng dành cho Ciel, có điều ở dòng này cậu không ghi các chuyến đi làm việc bên ngoài mà chỉ đánh dấu rõ những ngày cô kỹ sư đã có lịch hẹn sang làm việc với Ngô Thành hoặc Lão Tề. Cô bé Shiroma cũng có riêng một dòng lịch trình ở ngay phía dưới.

Nam rướn cổ nhìn lướt từ trên xuống tới tận dòng cuối cùng của bảng danh sách mà vẫn chẳng thấy chữ nào viết tên mình liền thắc mắc: “Ơ kìa, tại sao trên cái bảng phân công này lại chẳng thấy có dòng nào ghi tên của huynh thế?”

Hứa An ngước mắt nhìn ông chủ, điềm nhiên hỏi lại: “Thế bình thường trong tháng Nam huynh có lịch làm việc cố định nào cần phải ghi lên đây không ạ?”

Nam ngồi ngẫm nghĩ mất hai giây rồi tự nhận ra là đúng là mình chẳng có lịch cố định nào thật: “Thôi được rồi, coi như huynh chưa hỏi gì đi.”

Trong lòng ông chủ xưởng lúc này vừa cảm thấy tự ái vì bị gạt tên khỏi bảng công việc của viện, lại vừa chẳng thể nào tìm ra nổi một lý do chính đáng để phản đối cách làm của cậu em quản sự.

Trên mặt bàn, Hứa An vẫn tiếp tục cặm cụi cầm bút bi đánh dấu vào từng ô vuông. Những ngày nào Ronan phải lên đường đi hộ tống hàng hóa thì cậu kẻ một đường gạch ngang kéo dài qua các ô tương ứng, ngày nào Soma có lịch đi giải quyết việc ở phía đông thành thì cậu ghi rõ tên vị khách thuê vào góc ô. Dòng của Zero có đánh dấu hai ngày sang xưởng chế tác ở ngoài phố, còn dòng của Harpe thì ghi chú một buổi hẹn gặp tán tu Triệu Khải để bàn bạc khâu chuẩn bị cho chuyến đi núi phía bắc. Riêng dòng lịch của A Thạch thì còn chừa lại khá nhiều khoảng trống do tính chất công việc chạy tin của cậu nhóc vốn linh hoạt hơn mọi người, nhưng Hứa An vẫn cẩn thận khoanh tròn sẵn những ngày cậu nhóc bắt buộc phải đi đường xa.

Ở phần lề trên cùng của tờ giấy lớn, cậu quản sự còn quy ước thêm một vài ký hiệu riêng biệt để phân loại rõ đâu là công việc đã chốt hẹn chính thức, đâu là mối việc đang chờ khách phản hồi xác nhận, việc nào có thể thương lượng dời ngày được và việc nào bắt buộc phải đi đúng giờ.

Nam ngồi nhìn tờ giấy chi chít những ô kẻ và ký hiệu hồi lâu rồi mới chép miệng nhận xét: “Nhìn cách đệ kẻ bảng chia ô thế này, huynh cứ có cảm giác đệ đang biến cái viện nhỏ của chúng ta thành công đường nha môn đến nơi rồi đấy.”

Hứa An vừa viết vừa lắc đầu đáp: “Đâu có nghiêm trọng tới mức như nha môn đâu huynh.”

“Cứ nhìn cái bảng lịch dày đặc chữ kia là thấy giống nha môn lắm rồi.”

“Đệ kẻ bảng treo lên đây chỉ để lúc có khách tới hỏi thì nhìn vào là biết ngay trong nhà ai đang đi vắng, ai đang ở đâu thôi mà.”

“Muốn biết ai đang ở đâu thì lúc đó mở miệng hỏi một câu là xong chứ gì.”

“Thế Nam huynh có còn nhớ trưa hôm qua huynh vừa mới đi khắp sân tìm hỏi xem Soma đại ca đang ở đâu không?”

Nam hơi chớp mắt nhớ lại chuyện hôm qua: “Nhớ chứ, mà chuyện đó thì làm sao?”

“Lúc Nam huynh đứng ở hiên hỏi câu đó thì Soma đại ca đang đứng uống nước ở ngay sau lưng huynh chứ đâu xa.”

A Thạch đang đứng ở góc bàn phải cúi gằm mặt xuống sát mặt gỗ, còn Soma ngồi ở ghế bên cạnh thì bật cười thành tiếng. Nam quay sang lườm cả hai người họ một lượt: “Hai người thấy chuyện đó đáng cười lắm đúng không?”

Hứa An vẫn giữ nguyên vẻ mặt nghiêm túc, đặt bút xuống rồi giải thích ngắn gọn: “Nếu người ngồi ở bàn cổng không nắm rõ từng người trong viện đang ở đâu và bận việc gì thì rất dễ gật đầu nhận nhầm việc của khách.”

Câu nói thực tế ấy của cậu quản sự khiến Nam thôi không bông đùa nữa. Quả thực Hứa An nói rất đúng. Quy mô nhân sự của viện Tây Sơn hiện giờ đã đông đúc hơn xưa, năng lực chiến đấu mạnh hơn và kỹ năng chuyên môn của từng người cũng đa dạng hơn hồi mới mở xưởng rất nhiều. Thế nhưng cũng chính vì tiếng lành đồn xa như vậy, người dân và thương nhân bên ngoài bắt đầu hình thành thói quen mặc định rằng bất cứ việc khó khăn nào mang tới cổng Tây Sơn cũng đều có sẵn người giải quyết được. Chuyện trong viện có người đủ năng lực giải quyết là sự thật, nhưng người đó có đang rảnh tay vào đúng cái ngày khách cần hay không lại là một câu chuyện khác hẳn.

Nam đưa mắt nhìn lại tờ lịch lớn trên mặt bàn một lần nữa rồi gật đầu: “Được rồi.”

Hứa An ngẩng đầu lên nhìn ông chủ: “Nam huynh bảo được cái gì cơ ạ?”

“Thì huynh bảo đệ cứ làm cái bảng lịch đó đi.”

“Đệ vẫn đang ngồi kẻ nãy giờ đây thôi huynh.”

“Ý của huynh là huynh chính thức phê duyệt cho phép đệ làm cái bảng này đấy.”

Hứa An nghe vậy cũng chỉ khẽ gật đầu một cái lấy lệ rồi lại cúi xuống viết tiếp. Nam ngồi nhìn thái độ bình thản đó của cậu em mà bất giác cảm thấy càng ngày mình càng khó tìm được cảm giác uy quyền của một ông chủ vừa mới đưa ra quyết định trọng đại trong cái nhà này.

Lượt quay thưởng thứ ba mươi tám của hệ thống xuất hiện vào đúng ba ngày sau đó.

Buổi sáng hôm ấy, Hứa An vẫn đang ngồi làm sổ sách ở bàn ngoài gian cổng, A Thạch đã chạy việc vào trong nội thành từ sớm, hai chủ tớ Ronan cùng Harpe đang đi gặp khách hàng ở ngoài phố, còn cô bé Shiroma thì đã sang Lương y quán theo đúng lịch cố định. Khi cảm giác báo hiệu quen thuộc của vòng quay hệ thống khởi động trong đầu, Nam đang đứng tần ngần ở ngay cạnh cửa kho vật tư sân sau, thế là hắn gọi Mina, Ciel, Soma cùng với Zero tập trung cả vào bên trong gian chính.

Mina là người rửa tay từ dưới bếp bước lên đầu tiên, tiếp đó Ciel từ bên gian xưởng đi sang, Soma đang ngồi sẵn trong phòng còn Zero thì đứng gác ở ngay sát mép cửa gỗ đã được khép kín. Quầng sáng trắng của hệ thống lóe lên giữa phòng rồi nhanh chóng tan biến đi, để lại trên mặt nền gạch năm chiếc thùng giấy bìa cứng có kích thước khá lớn và nặng trịch.

Nam cúi đầu nhìn năm chiếc thùng giấy xếp chồng lên nhau rồi buột miệng nói: “Tháng này lại quay ra đồ vật tiếp rồi.”

Soma đứng bên cạnh nhìn xuống đống thùng rồi hỏi: “Quay ra đồ dùng thì có vấn đề gì đâu nhỉ?”

“Thì tôi có bảo có vấn đề gì đâu, chẳng qua lúc nãy tôi đang thử đoán xem tháng này ra cái gì thôi.”

Mina đứng khoanh tay bên cạnh nghe vậy liền liếc mắt sang nhìn hắn: “Tôi nhớ hồi tháng trước anh vừa mới mở miệng khẳng định là mình không bao giờ thèm đoán trước kết quả của hệ thống cơ mà.”

“Câu đó là tôi nói cho riêng đợt quay của tháng trước thôi chứ bộ.”

Trong lúc hai người đang đấu khẩu, Ciel đã chủ động ngồi xổm xuống bên cạnh chiếc thùng giấy đầu tiên. Nam bước tới rút con dao nhỏ rọc lớp băng keo dán trên nắp thùng ra kiểm tra. Xếp chật cứng bên trong lòng thùng giấy là hàng loạt những chiếc hộp kim loại hình trụ và hình chữ nhật được đóng gói kín mít. Nhìn qua những hình ảnh minh họa nhiều màu sắc in trên lớp nhãn giấy dán quanh thân hộp, có thể nhận ra bên trong chứa đủ các loại thực phẩm chế biến sẵn từ thịt hầm, cá kho cho tới đậu sốt và rau củ muối.

Nam vươn tay nhấc thử một chiếc hộp kim loại mát lạnh lên nhìn: “Là đồ ăn đóng hộp.”

【Lượt quay thứ 38 hoàn tất. Phần thưởng: Đồ ăn đóng hộp ×50.】

Mina đưa mắt nhìn lướt qua cả năm chiếc thùng giấy đặt dưới nền gạch rồi hỏi lại: “Tổng cộng chỗ này có tất cả năm mươi hộp cơ à?”

“Ừ, mỗi thùng đóng sẵn mười hộp đấy.”

Soma cũng cúi xuống nhấc một chiếc hộp hình trụ khác lên lắc nhẹ thử: “Mấy thứ thức ăn bên trong này là cứ thế mở nắp ra ăn luôn được hả?”

“Cũng còn tùy vào từng loại món ăn ghi trên nhãn nữa.”

Ciel đang cầm một chiếc hộp săm soi phần viền kim loại liền ngẩng lên bổ sung một câu vô cùng thực tế: “Muốn ăn được thì trước hết phải mở được cái nắp sắt này ra đã.”

Nam quay sang nhìn cô kỹ sư bằng ánh mắt hết sức chân thành: “Vâng, tôi xin cảm ơn phát hiện quý báu của bà Ciel.”

Ciel phớt lờ câu cảm ơn đầy tính mỉa mai đó của ông chủ mà tiếp tục cúi đầu đọc các dòng thông số nhỏ in ở mặt sau. Về phần Mina, sau khi xem xét kỹ các dãy số in dập nổi trên nắp hộp, cô liền quay sang hỏi Nam về điều mà người phụ trách bếp núc quan tâm nhất: “Mấy hộp thức ăn bịt kín kiểu này có để dành được lâu không anh?”

“Giữ được khá lâu đấy.”

“Liệu có cần phải đem cất vào chỗ ướp đá lạnh mới giữ được không?”

“Chỉ cần chưa cạy nắp hộp ra thì cứ để ở nhiệt độ phòng bình thường là được.”

“Lúc mang ra ăn có bắt buộc phải bắc nồi lên bếp nấu chín lại không?”

“Phần lớn các món trong này đều đã được nấu chín sẵn từ trước nên mở nắp ra là ăn nguội luôn được, có điều nếu có điều kiện đun nóng lại thì hương vị tất nhiên sẽ ngon miệng hơn nhiều.”

Nghe giải thích rõ ràng từng điểm như vậy, Mina liền khẽ gật đầu ghi nhận. Trên gương mặt của cô quản gia không có vẻ gì là thất vọng vì phần thưởng tháng này chỉ là thức ăn thường ngày, mà cũng chẳng có sự trầm trồ coi đây là bảo vật thần kỳ gì cả, đối với cô, đây đơn giản là một lô thực phẩm đã qua chế biến có khả năng bảo quản lâu dài. Nam nhìn thái độ bình thản đó của Mina thì cảm thấy vô cùng hợp ý. Nếu như quay ngược lại thời điểm ba năm về trước khi cái viện này còn nghèo rớt mồng tơi, việc bỗng dưng quay thưởng ra được năm mươi hộp thức ăn sẵn có lẽ sẽ làm hắn mừng rỡ ra mặt vì đỡ được cả tuần lễ phải đi chợ mua thức ăn. Còn ở thời điểm hiện tại, với quy mô miệng ăn đông đúc của viện Tây Sơn thì năm mươi hộp thực phẩm này thực chất chẳng đủ để nuôi cả nhà được mấy bữa. Thế nhưng món đồ này lại xuất hiện đúng vào cái tuần lễ mà cả viện đang rục rịch chuẩn bị hành trang cho một chuyến đi khảo sát kéo dài từ năm tới bảy ngày ở vùng rừng núi phía bắc.

Soma rõ ràng cũng vừa mới nghĩ tới đúng điểm đó cùng một lúc với hắn: “Chỗ đồ ăn này đem dùng cho chuyến đi khảo sát phía bắc sắp tới là vừa đẹp.”

Nam gật đầu tán đồng ngay: “Ừ, mang theo đi đường rừng là chuẩn nhất rồi.”

Mina đưa mắt nhìn xuống năm chiếc thùng giấy rồi quay sang hỏi ý kiến ông chủ: “Thế chuyến này anh có định xuất kho giao hết cả năm mươi hộp cho đoàn mang đi luôn không?”

“Tất nhiên là không giao hết rồi.”

Soma nghe câu trả lời dứt khoát không cần suy nghĩ đó thì bật cười ngay. Nam quay phắt sang nhìn chàng thanh niên tóc trắng: “Cậu cười cái gì mà cười?”

“Tại tôi đoán trước được ngay là thể nào cậu cũng sẽ trả lời như thế mà.”

“Đồ ăn đóng hộp này chỉ có đúng năm mươi hộp chứ có phải là cái túi thần lấy mãi không cạn đâu. Bây giờ mà đem phát sạch sành sanh cho một chuyến đi thì ở nhà lấy cái gì để cất kho dự phòng lúc khẩn cấp?”

Mina đứng bên cạnh nghe lý lẽ của ông chủ liền nhẹ nhàng buông đúng ba chữ quen thuộc: “Đồ keo kiệt.”

“Cái này người ta gọi là biết cách phân bổ nguồn lực hợp lý chứ keo kiệt cái nỗi gì.”

Trong lúc hai người đang tranh luận, Ciel đã thử cầm hai chiếc hộp kim loại trên hai bàn tay để ước lượng trọng lượng rồi lên tiếng nhắc nhở: “Vỏ hộp làm bằng kim loại dày nên cầm nặng tay phết đấy.”

Nam gật đầu đồng tình với nhận xét đó của Ciel. Đây chính là yếu tố thực tế quan trọng nhất khi tính toán hành trang đi đường dài. Thực phẩm đóng hộp tuy có ưu điểm vượt trội là bảo quản được lâu, không sợ bị ngấm nước mưa hay mốc hỏng như các loại bánh nướng khô và có thể mở ra ăn ngay không cần nhóm lửa khi gặp thời tiết xấu, nhưng nhược điểm chí mạng của nó lại nằm ở trọng lượng của lớp vỏ sắt. Năm mươi chiếc hộp kim loại đặc kịch chắc chắn không phải là thứ hành lý hợp lý để nhét hết vào trong ba lô của sáu bảy con người rồi bắt họ cõng ngược lên dốc núi đá suốt cả tuần lễ chỉ vì hai chữ tiện lợi.

Nam quay sang nhìn Soma để bàn phương án thực tế: “Xem chừng chuyến này đoàn đi chỉ nên mang theo một phần nhỏ trong số này thôi.”

“Ừ, mang vừa đủ dùng là được rồi.”

“Những ngày nào trời tạnh ráo thì mọi người cứ nấu gạo rang với thịt khô mà ăn, chỉ hôm nào gặp mưa lớn không nhóm được lửa trại thì mới khui đồ hộp ra dùng.”

Soma gật gù bổ sung thêm: “Hoặc là cứ cất kỹ dưới đáy ba lô để làm khẩu phần dự phòng khẩn cấp khi cần đi gấp.”

Đúng lúc đó, Ciel đặt chiếc hộp trên tay xuống mặt bàn rồi chỉ ra thêm một chi tiết kỹ thuật không thể bỏ qua: “Một số loại hộp trong thùng này muốn mở được nắp là bắt buộc phải mang theo dụng cụ khui hộp chuyên dụng đấy.”

Nam dừng tay lại, và cả Mina cũng cúi đầu xuống nhìn kỹ hơn vào bề mặt của từng chiếc hộp trong thùng. Sau khi lật kiểm tra thử một lượt cả năm thùng giấy, Nam mới xác nhận rằng đúng là có một số mẫu hộp được thiết kế sẵn vòng khuyên kéo nắp tiện lợi, nhưng cũng có không ít hộp được hàn kín toàn bộ viền nắp bằng kim loại phẳng lì: “Bà Ciel nói đúng đấy, có mấy loại không có khóa kéo thật.”

Soma đứng khoanh tay nhìn cảnh đó lại bật cười. Nam liếc xéo hắn một cái để chặn họng: “Cậu làm ơn đừng có đứng đó mà cười nữa.”

Trong lúc Nam còn đang nhắc nhở Soma thì Ciel đã nhanh chân đi sang bên gian xưởng lấy về một bộ kìm và dao cắt kim loại chuyên dụng. Sau một hồi bàn bạc, cuối cùng cả nhóm quyết định chọn ra đúng năm hộp thuộc năm hương vị khác nhau để khui thử ngay tại chỗ, mục đích là để nếm thử xem loại thức ăn nào có thể ăn nguội trực tiếp được ngay, loại nào bắt buộc phải hâm nóng lên mới nuốt trôi và mẫu vỏ hộp nào cần phải kẹp theo đồ khui đi kèm. Tất nhiên lúc đầu Nam đã ra sức phản đối cái chuyện mới ngày đầu tiên đã mở tung ra tới tận năm hộp chỉ để làm thí nghiệm, nhưng trước lập luận đanh thép của Mina rằng người chuẩn bị hậu cần bắt buộc phải biết rõ mùi vị thức ăn trước khi đóng gói cho đoàn đi xa, ông chủ xưởng đành ngậm ngùi chịu thua.

Kết quả buổi nếm thử cho thấy hộp cá kho có vị khá đậm và mặn, rất hợp để ăn kèm với cơm hoặc bánh nhạt, hộp thịt lợn hầm tuy nhiều dinh dưỡng nhưng nếu để nguội ngắt thì lớp mỡ đông trắng lại ăn hơi ngấy, hộp đậu hầm sốt cà chua thì hương vị rất vừa vặn dễ ăn, còn một hộp thịt bò hầm rau củ thì được đích thân đầu bếp Mina đánh giá là ngon miệng hơn hẳn so với kỳ vọng ban đầu. Riêng Soma sau khi nếm thử phần của mình xong thì đứng bên bàn tiện tay vét sạch luôn cả phần thức ăn thử còn thừa trong hộp của ba người kia.

Nam đứng nhìn chàng thanh niên tóc trắng cầm thìa vét sạch đáy hộp mà không khỏi nhíu mày nhắc nhở: “Này cậu Soma, cậu ăn sạch sành sanh kiểu đó là làm sai lệch hết quy trình thí nghiệm đối chứng của chúng tôi rồi đấy.”

Soma vừa nhai vừa thản nhiên đáp lại: “Thì bản chất của mấy thứ này sinh ra vốn là đồ ăn để bỏ vào bụng chứ còn gì nữa.”

Ciel đứng ghi chép bên cạnh cũng gật đầu đồng tình ngay với Soma: “Anh ấy nói đúng đấy.”

Nam đứng nhìn hai con người một nghiên cứu khoa học một thực chiến đứng bênh nhau chằm chặp trước mặt mình, trong lòng chỉ biết thở dài ngao ngán vì nhận ra mình chẳng tài nào nói chuyện lý lẽ khoa học nghiêm túc với cái gia đình này được.

Sang tới sáng ngày hôm sau, Hứa An mới chính thức nhìn thấy lô thực phẩm đóng hộp mới được xếp ở góc nhà chính. Do không có mặt ở nhà lúc vòng quay hệ thống diễn ra nên cậu quản sự trẻ tuổi không biết chúng xuất hiện bằng cách nào, và Nam cũng chỉ thông báo ngắn gọn một câu như thường lệ: “Trong viện mới có thêm một ít đồ ăn chế biến sẵn bảo quản được lâu đấy đệ.”

Hứa An mở cuốn sổ kiểm kê kho vật tư ra, chấm bút hỏi ngay vào số liệu thực tế: “Tổng cộng có bao nhiêu hộp hả huynh?”

“Lúc đầu có cả thảy năm mươi hộp.”

“Chỗ đồ hộp này huynh định xuất ra để chuẩn bị cho chuyến đi khảo sát phía bắc sắp tới phải không ạ?”

“Ừ, huynh tính trích ra khoảng chừng hai mươi hộp cho đoàn mang theo.”

Hứa An vừa nghe tới con số đó liền hơi ngẩng đầu lên nhìn ông chủ: “Mang theo hai mươi hộp kim loại này lên núi là nặng vai lắm đấy huynh.”

Nam hơi bất ngờ trước phản ứng nhanh nhạy đó của cậu em: “Ủa, sao đệ mới nhìn qua mà cũng nghĩ ngay tới chuyện nó nặng thế?”

“Lúc nãy đi ngang qua bàn đệ đã thử nhấc một hộp lên cân thử trên tay rồi ạ.”

“À, thảo nào biết nhanh thế.”

Hai anh em chụm đầu vào nhau tính toán lại phương án phân bổ tải trọng cho hợp lý. Danh sách nhân sự tham gia chuyến khảo sát vùng núi phía bắc lần này cuối cùng đã được chốt hạ ở con số bảy người, bao gồm Tạ Vân, tán tu Triệu Khải, Harpe, Soma, Zero cùng với hai đệ tử thực địa của Lạc Hà tông. Lần này Ronan vẫn ở lại thành Thanh Hà, bởi anh đã trót nhận lời đảm trách một chuyến hộ tống hàng hóa kéo dài bốn ngày đường cho một vị khách khác từ trước đó khá lâu, vị khách này vốn do thương đội quen hồi năm ngoái tin tưởng giới thiệu sang và đã đóng tiền đặt cọc giữ lịch từ gần nửa tháng trước.

Về khoản nguyên tắc giữ chữ tín với khách hàng, Hứa An nêu quan điểm rất dứt khoát ngay từ đầu: “Lịch hộ tống của Ronan đại ca đã chốt từ trước rồi nên bên viện mình không thể tự ý thay đổi được đâu huynh.”

Nam gõ ngón tay lên mặt bàn hỏi thử một câu: “Thế nhỡ như công việc khảo sát ở trên vùng núi phía bắc kia thực sự quan trọng hơn thì sao?”

“Tính tới thời điểm hiện tại thì tình hình ở phía bắc vẫn chỉ dừng ở mức đi khảo sát thu thập thông tin chứ chưa có biến cố khẩn cấp nào xảy ra cả.”

Nam gật đầu đồng tình ngay với nhận định tỉnh táo đó: “Đúng thế, huống hồ vị khách thuê hộ tống bên kia cũng đã đặt tiền cọc đàng hoàng tại bàn cổng của chúng ta rồi.”

Viện Tây Sơn làm ăn trên đất Thanh Hà không thể giữ cái kiểu hành xử cứ mỗi lần trên vùng núi phía bắc xuất hiện một dấu hỏi mới là lại tự cho phép mình hủy ngang hợp đồng với những vị khách bình thường chỉ vì chủ quan cho rằng chuyện đi điều tra kia to tát hơn. Bản thân Ronan khi nghe thông báo phân công cũng đồng thuận ngay mà chẳng có nửa lời phàn nàn: “Chuyến hộ tống đó chính miệng ta đã nhận lời với khách từ trước thì ta sẽ đi làm cho trọn vẹn.”

Đứng thu dọn bản đồ ở cạnh bàn, Harpe quay sang hỏi vị chủ nhân của mình một câu: “Thiếu gia không cảm thấy tiếc vì lỡ mất chuyến đi kiểm tra thực địa phía bắc lần này sao?”

Ronan thành thật thừa nhận là trong lòng mình cũng có chút tiếc nuối vì không được đi cùng mọi người, nhưng chút cảm giác đó chưa đủ lớn để khiến một người kỵ sĩ như anh bỏ ngang lời hứa danh dự đã trao cho khách hàng. Harpe nghe vậy liền mỉm cười gật đầu và không nói thêm lời thuyết phục nào nữa, bởi anh biết nhân lực của đội khảo sát phía bắc hiện tại đã đủ sức ứng phó. Dù Ronan vừa mới lấy lại được bộ kỹ năng kiếm phép của nhánh Spell Sword, nhưng điều đó đâu có đồng nghĩa với việc từ nay về sau mọi chuyến đi xa của viện Tây Sơn đều bắt buộc phải xoay quanh sự có mặt của anh. Cô bé Shiroma đợt này cũng tiếp tục ở lại nhà vì vẫn còn lịch hẹn phụ việc định kỳ ở Lương y quán, và cả viện cũng chẳng có lý do gì để lôi kéo cô bé vào một chuyến leo núi vất vả chỉ vì cái danh hiệu pháp sư chữa trị. Ciel thì đương nhiên bận rộn với đống thiết bị trong xưởng, Mina phải ở nhà quán xuyến bếp núc, còn ông chủ Lê Mai Nam thì khỏi phải bàn tới chuyện đi xa.

Khi đội hình bảy người đã được tinh giản gọn gàng như vậy, toàn bộ số hành lý mang theo trên lưng cũng bắt buộc phải được tính toán sao cho gọn nhẹ tương xứng. Hứa An trải tờ danh sách vật tư vừa điều chỉnh ra mặt bàn, điểm lại từng hạng mục từ gạo rang, thịt sấy khô, bánh nướng, một túi nhỏ gia vị muối tiêu, túi thuốc men sơ cứu, lượng nước ngọt đóng bình cho chặng đầu, cho tới bộ dụng cụ lọc và đun nước dã ngoại. Riêng hạng mục thực phẩm đóng hộp, con số chốt xuất kho cuối cùng được Hứa An ghi rõ trên giấy là mười chín hộp.

Nam cúi nhìn con số trên sổ rồi ngước lên nói: “Hôm qua mới bảo tầm hai mươi hộp vẫn còn hơi nặng cơ mà.”

Tán tu Triệu Khải lúc đó đang đứng kiểm tra lại dây buộc xà cạp ở ngay cạnh bàn liền xen vào một câu: “Nặng một cục thì chia nhỏ ra cho từng người cùng gánh là nhẹ ngay ấy mà.”

Harpe đứng bên cạnh cũng gật đầu tính nhẩm theo: “Đoàn đi có tất cả bảy người, nếu chia đều ra thì mỗi người chỉ phải bỏ thêm vào ba lô từ hai cho tới ba hộp sắt là cùng.”

Soma chợt nhớ ra một chi tiết liền quay sang hỏi: “Ủa, thế phần của Zero cũng phải chia đồ ăn vào ba lô à?”

Zero đang đứng tựa lưng gần cửa nghe nhắc tới tên mình liền nhìn sang đáp gọn: “Tôi mang theo được.”

“Ý tôi nói là bình thường cậu có cần phải ăn mấy thứ thực phẩm này đâu.”

Zero vẫn giữ nguyên nét mặt bình thản đáp lại: “Tôi không ăn thì tôi cõng hộ phần của mọi người.”

Triệu Khải đứng nghe màn đối đáp đó liền quay sang nhìn chiến binh áo đỏ với ánh mắt đầy vẻ thiện cảm: “Nghe câu này xong là ta bắt đầu thấy thích cái tính nết của vị huynh đệ không cần ăn cơm này rồi đấy nhé.”

Zero không trả lời lại câu bông đùa của gã tán tu, còn Nam ngồi trên ghế mây thì phải lên tiếng nhắc nhở ngay: “Mọi người cũng vừa phải thôi nhé, đừng thấy cậu ấy khỏe mà tận dụng bắt thồ hàng quá đáng đấy.”

Zero hơi nghiêng đầu nhìn về phía Nam rồi nói: “Bấy nhiêu trọng lượng đó không sao đâu.”

Harpe nhìn lại tấm bản đồ lộ trình trên bàn rồi nêu thêm một phương án cân nhắc: “Thực ra chúng ta cũng không cần phải mang theo đủ mười chín hộp ngay từ lúc xuất phát đâu, nếu như ở chặng đầu tiên của tuyến đường có sẵn điểm dừng chân nào cho phép bổ sung lương thực.”

Tạ Vân đứng đối diện lắc đầu bác bỏ ngay khả năng đó: “Tuyến đường hẻm núi mà chúng ta rẽ vào lần này vắng vẻ, dọc đường không có bất kỳ thôn xóm hay điểm tiếp tế nào đâu.”

Thế là con số xuất kho chính thức được khóa lại ở mức mười chín hộp đồ ăn mang theo cho đoàn khảo sát. Trước lúc mọi người bắt đầu xếp đồ vào ba lô, một hộp thịt hầm nguyên vẹn đã được Nam sai A Thạch mang sang y quán biếu riêng cho Lương đại phu để ông cụ xem thử kỹ thuật đóng nắp niêm phong kín khí, và vị lão y sư sau khi ngắm nghía xong đã ngỏ ý xin giữ lại luôn chiếc hộp đó để nghiên cứu phương pháp bảo quản dược liệu. Hứa An cẩn thận tách riêng chiếc hộp đem biếu kia ra khỏi cột định mức khẩu phần đi đường. Như vậy tính tổng cộng cả lô hàng năm mươi hộp ban đầu, trừ đi năm hộp cả nhà đã khui ra ăn thử hôm qua, một hộp mang đi biếu Lương đại phu và mười chín hộp nguyên vẹn giao cho đoàn khảo sát mang đi núi, hiện tại trong kho lương thực của viện Tây Sơn vẫn còn giữ lại đúng hai mươi lăm hộp chưa đụng tới. Cậu quản sự trẻ tuổi nắn nót ghi chép đầy đủ cả ba khoản xuất nhập đó vào từng dòng riêng biệt trong sổ cái, kiên quyết không chịu dùng cái kiểu ghi chép đại khái khoảng hai mươi hộp như cách nói miệng của ông chủ. Toàn bộ lô phần thưởng hệ thống lần này được đưa vào sử dụng một cách hết sức tự nhiên: chẳng ai nâng niu coi nó là báu vật thần tiên, cũng chẳng ai chê bai coi nó là thứ đồ bỏ đi, mà đơn giản chỉ xem nó là một loại lương thực dự trữ có những ưu điểm và nhược điểm vật lý rất rõ ràng. Bản thân Nam nhìn cách mọi người tiếp nhận món đồ một cách thực tế như vậy thì trong lòng lại càng cảm thấy dễ chịu.

Đội khảo sát phía bắc chính thức lên đường rời khỏi thành Thanh Hà vào buổi sáng đầu tiên của tuần lễ thứ hai trong tháng. Ngay từ khoảnh khắc cả đoàn bảy người khoác hành lý bước chân ra khỏi cổng viện Tây Sơn, không khí của chuyến đi lần này đã lộ rõ sự khác biệt so với đợt đi kiểm tra hang đá hồi tháng trước, những chiếc ba lô vải trên lưng ai nấy đều phồng to hơn, trọng lượng đồ đạc đè lên vai nặng hơn và bảng kế hoạch lộ trình cũng được vạch ra chi tiết hơn gấp bội. Ngồi ở bàn làm việc ngoài gian cổng, Hứa An nắm rõ mồn một từng thông tin cốt lõi, đoàn đi gồm những ai, dự kiến tới ngày thứ mấy thì quay về tới thành, và nếu trễ hẹn quá cột mốc ngày nào thì ở nhà bắt buộc phải coi là có tình huống bất thường xảy ra.

Trên tấm bảng lịch công việc khổ lớn vừa được treo cố định lên bức tường gỗ ngay cạnh bàn cổng, từng dòng ghi chú đã được Hứa An điền mực đen rõ ràng, dòng của Ronan ghi lịch đi hộ tống ở tuyến phía tây từ ngày mồng chín đến hết ngày mười hai, dòng của bộ ba Harpe, Soma và Zero ghi lịch đi khảo sát vùng núi phía bắc xuất phát từ ngày mồng tám và dự kiến trở về vào khoảng ngày mười bốn hoặc mười lăm, dòng của Ciel đánh dấu lịch hẹn sang làm việc với Ngô Thành vào ngày mười một, dòng của Shiroma cố định lịch sang Lương y quán vào hai ngày mồng mười và mười ba, còn dòng của cậu nhóc A Thạch thì được ghi chú giữ lịch cơ động loanh quanh trong nội thành Thanh Hà nhiều hơn trong suốt khoảng thời gian đội chủ lực đi vắng.

Nam đứng chắp tay sau lưng ngó nghiêng tấm bảng lịch mới treo trên tường rồi quay sang hỏi cậu quản sự: “Trên bảng này đệ còn cẩn thận ghi sẵn cả ngày giờ dự kiến quay về của từng người nữa cơ à?”

“Nếu không ghi rõ mốc ngày về dự kiến lên bảng thì tới lúc quá hạn làm sao chúng ta biết được là đoàn đi đang bị trễ lịch hả huynh?”

“Muốn biết đoàn đi tới đâu rồi thì cứ bấm bộ đàm hỏi thử một câu là được chứ gì.”

“Bộ đàm liên lạc chỉ đi qua khỏi sườn núi phía bắc nửa ngày đường là đã mất sạch tín hiệu rồi còn đâu huynh.”

Nam chợt nhớ ra giới hạn vùng phủ sóng mà Triệu Khải từng đánh dấu hồi tháng trước liền gật gù: “Ờ nhỉ, đệ nhắc huynh mới nhớ ra chuyện mất sóng.”

Hứa An tiện tay rút thêm một mảnh giấy ghi chú nhỏ hơn kẹp vào góc dưới của tấm bảng lớn rồi viết thêm một dòng chữ nhắc việc: “Theo kế hoạch này, nếu như bước sang hết ngày mười sáu mà ở nhà vẫn chưa nhận được bất kỳ tin tức hay tín hiệu bộ đàm nào của đoàn báo về, lúc đó viện mình sẽ cử người sang báo cho Tạ trưởng lão biết nhé huynh?”

Nam cúi đầu nhìn dòng chữ vừa mới viết xong trên mảnh giấy nhỏ của cậu em: “Đợt này chính Tạ Vân cũng đang trực tiếp đi cùng trong đoàn khảo sát trên núi với bọn họ luôn rồi cơ mà.”

Hứa An dừng ngòi bút bi lại, cúi mắt nhìn kỹ lại dòng chữ mình vừa mới viết ra trên giấy mất hai giây rồi mới khẽ thốt lên một tiếng: “À phải rồi, đệ quên mất.”

Nam đứng bên cạnh chứng kiến cảnh tượng đó thì không nhịn được phải bật cười thành tiếng. Tính từ ngày Hứa An về làm quản sự cho viện Tây Sơn tới giờ, đây quả thực là một trong những lần hiếm hoi nhất mà hắn bắt gặp cậu em cẩn trọng của mình mắc phải một sự nhầm lẫn ngớ ngẩn đến thế.

Hứa An bình tĩnh lấy bút gạch ngang cái tên vừa viết rồi sửa lại ngay bên dưới: “Vậy nếu quá ngày mười sáu chưa có tin thì đệ sẽ cử người cầm giấy sang báo thẳng cho đầu mối trực ban của Lạc Hà tông ở trong thành.”

Nam gật đầu nghiệm thu ngay: “Phương án này thì chuẩn rồi đấy.”

Thực tế thì chẳng có ai ở nhà kỳ vọng rằng đoàn đi khảo sát trong rừng sâu sẽ phải tìm cách liên lạc báo cáo tình hình về viện mỗi ngày một lần cả, bởi điều kiện địa hình hiểm trở trên đó vốn không cho phép làm chuyện ấy. Bảng lịch trình treo ở cổng đơn giản chỉ giúp những người ở lại hậu phương xác định được một cột mốc ranh giới rõ ràng để biết chính xác từ thời điểm nào trở đi thì sự vắng mặt của đoàn khảo sát mới thực sự biến thành chuyện đáng phải lo lắng.

Trước lúc cả đoàn chính thức bước chân ra khỏi cổng, Mina còn cẩn thận đi kiểm tra lại các túi lương thực buộc trên ba lô của từng người thêm một lượt cuối cùng, đặc biệt là cô quản gia tỏ ý không mấy tin tưởng vào khả năng tự quản lý khẩu phần ăn đường của Soma.

Chàng thanh niên tóc trắng thấy bạn gái cứ săm soi mãi cái túi lương khô của mình liền lên tiếng phản đối: “Em làm như bình thường anh là cái đứa cứ thấy đồ ăn ngon trước mắt là lôi ra ăn uống vô tội vạ không bằng ấy.”

Mina ngước mắt nhìn thẳng vào mặt anh: “Lúc đi làm nhiệm vụ trên đường thì đúng là anh không bị rơi vào cảnh ăn uống vô độ thật.”

“Đấy thấy chưa, chính miệng em cũng vừa mới công nhận rồi nhé.”

“Sở dĩ trên đường đi anh không ăn lố sang phần của ngày hôm sau là bởi vì trước khi đi lần nào em cũng đã tự tay chia nhỏ khẩu phần từng bữa ra sẵn từng túi cho anh rồi đấy.”

Soma ngậm miệng không cãi thêm được nửa lời. Đứng buộc lại quai kiếm ở ngay bên cạnh, tán tu Triệu Khải nghe trọn câu chuyện giữa hai người họ thì không nhịn được mà bật cười khanh khách: “Hóa ra bí quyết quản lý lương thực của các ngươi là nằm ở chỗ này đây.”

Soma quay đầu sang lườm gã tán tu một cái: “Ông làm ơn đừng có đứng đó mà học đòi theo cách nói chuyện của cô ấy nhé.”

Triệu Khải lại càng gật đầu với vẻ mặt hết sức nghiêm túc: “Được thôi, ta hứa không học theo đâu.”

Mina phớt lờ màn đấu khẩu của hai người đàn ông, cô đưa thêm một chiếc túi vải dày đã buộc chặt miệng cho Soma rồi dặn dò kỹ lưỡng: “Mấy hộp đồ ăn bằng sắt này anh nhớ xếp xuống dưới lớp đáy ba lô cho đằm. Dọc đường đi nếu chưa gặp tình huống thực sự cần thiết thì đừng có vội vàng khui ra ăn trước đấy.”

Soma đón lấy chiếc túi nặng trịch trên tay rồi thắc mắc hỏi lại: “Sao lại phải cất kỹ để dành tới cuối mới ăn thế?”

“Thứ nhất là vì mấy chiếc hộp sắt này vốn nặng, tuy ăn trước sẽ giúp nhẹ bớt cái ba lô trên vai, nhưng đổi lại mấy túi bánh nướng khô với gạo rang kia nếu chẳng may gặp trời mưa ẩm sẽ dễ bị mốc hỏng hơn nhiều, cho nên nguyên tắc đi đường dài là phải ưu tiên dùng hết những loại lương thực dễ hỏng trước tiên.”

Triệu Khải đứng nghe cách sắp xếp thứ tự ưu tiên vô cùng chặt chẽ đó của cô gái trẻ thì phải gật gù thán phục: “Cô nương tính toán chuyện ăn đường nghe có lý lắm.”

Soma đưa bàn tay lên vò nhẹ mái tóc trắng của mình rồi thở dài thú nhận: “Riêng trong mấy cái chuyện bếp núc hậu cần kiểu này thì lúc nào cô ấy nói cũng đúng hết cả.”

Mina đứng bên cạnh nghe thấy lời tự thú đó liền thản nhiên đáp nhận: “Chuyện đó thì đương nhiên rồi.”

Nam đứng khoanh tay tựa cột hiên ở gần đó chỉ lặng lẽ mỉm cười nhìn theo mà không chêm vào câu nào, bởi sở thích tao nhã nhất của ông chủ xưởng vốn là đứng nhìn người khác tự miệng thừa nhận sự thật trước mặt Mina.

Ba ngày đầu tiên của hành trình khảo sát phía bắc trôi qua một cách hết sức êm ả mà không bắt gặp bất kỳ hiện tượng nào đáng để gọi là kỳ dị. Và chính cái sự bình thường phẳng lặng đó lại là điều khiến cho người làm công tác phân tích như Harpe cảm thấy hài lòng hơn cả, bởi nếu như cứ đi thêm mỗi một dặm đường rừng mà lại đụng phải một dấu vết bí ẩn mới thì toàn bộ tập dữ liệu thu thập được sẽ trở nên cực kỳ đáng ngờ theo một chiều hướng khác.

Đoàn khảo sát bảy người di chuyển xuyên qua khu vực địa hình đã từng được kiểm tra hồi tháng trước, men theo sườn dốc đi xuống lại tuyến đường mòn nằm gần cái hang lang thú bỏ trống rồi mới bắt đầu chuyển hướng rẽ sâu lên phía bắc thông qua một khe núi hẹp khác. Những chiếc đèn đội đầu sạc điện mang theo bên người vẫn phát huy tác dụng rất tốt khi cả đoàn phải băng qua vài đoạn hẻm đá khuất nắng, nhưng trong phần lớn thời gian di chuyển ban ngày thì chúng đều được tắt nguồn cất gọn bên trong túi áo. Những chiếc bộ đàm cầm tay cũng chính thức mất sạch tín hiệu liên lạc với trạm hậu phương ngay sau khi kết thúc ngày hành quân đầu tiên. Trong chuyến đi dài ngày lần này, thiết bị bay trinh sát của Ciel đã chủ động được để lại ở nhà chứ không mang theo, bởi tuyến đường khảo sát phía trước nằm cách quá xa viện Tây Sơn, dọc đường không có phương tiện nạp lại nguồn điện thuận tiện cho khối pin công suất lớn, hơn nữa những khu vực trọng điểm cần quan sát dấu vết lần này đều nằm khuất sâu bên dưới tán rừng rậm rạp hoặc dưới đáy các khe vực hẹp.

Đều đặn vào mỗi buổi chiều khi dừng chân nghỉ ngơi, Harpe lại mở cuốn sổ tay bọc da ra để ghi chép lại thông số thực địa của từng ngày một. Anh lần lượt ghi rõ diễn biến thời tiết, phương hướng di chuyển trên la bàn, mật độ dấu vết động vật bắt gặp dọc đường, vị trí các mạch nước ngọt có thể lấy dùng và những tọa độ gờ đất cao đủ điều kiện an toàn để hạ trại qua đêm. Anh chỉ chọn lọc ghi lại đúng những dữ liệu thực tế có thể đem ra đối chiếu về sau.

Bước sang ngày hành quân thứ hai, cả đoàn phát hiện ra một chuỗi dấu chân của một bầy thú ăn cỏ móng guốc in trên nền đất ẩm, tất cả các mũi móng đều hướng thẳng về phía nam.

Triệu Khải ngồi xổm xuống bên vệ cỏ kiểm tra độ khô của vết đất rồi nhận định ngắn gọn: “Đám dấu chân này để lại đây cũng khá cũ rồi.”

Harpe cầm sẵn cây bút chì trên tay hỏi ngay: “Theo kinh nghiệm của huynh đài thì nó có từ khoảng bao lâu trước?”

“Nhìn lớp đất mặt bị mưa rửa trôi thế này thì chí ít cũng phải hơn một tuần lễ rồi.”

“Dấu chân của bầy thú lúc đi qua đây là dấu đi kiếm ăn bình thường hay là đang cắm đầu chạy trốn?”

“Chưa tới mức hoảng loạn tháo chạy như bầy lang thú tháng trước, nhưng rõ ràng là chúng đang di chuyển với tốc độ khá nhanh.”

“Trong đàn thú móng guốc này có lẫn dấu chân của con non đi kèm không?”

“Có đấy, nằm xen ở giữa hàng.”

Harpe cẩn thận ghi chép toàn bộ những câu trả lời xác nhận đó vào trang sổ tương ứng với tọa độ trên bản đồ mà không vội vàng viết thêm bất kỳ dòng kết luận chủ quan nào.

Đến ngày hành quân thứ ba, dọc suốt tuyến đường rừng mà cả đoàn đi qua lại không phát hiện thêm bất kỳ dấu hiệu di cư bất thường nào nữa. Thậm chí mật độ sinh hoạt của các loài động vật nhỏ ở khu vực sườn đồi này còn có phần nhộn nhịp hơn hẳn vùng thung lũng bên dưới: trên vòm cây bắt đầu nghe thấy tiếng chim rừng hót gọi bầy, dưới lớp cỏ dại lấp ló những vết chân thỏ hoang mới tinh, và thỉnh thoảng lại có một con yêu thú cấp thấp cỡ nhỏ vừa thoáng trông thấy bóng dáng đoàn người từ xa đã vội vã quay đầu phóng biến vào bụi rậm.

Soma vừa vạch một nhánh cây rừng chắn lối vừa quay lại nhận xét với mọi người: “Nếu như một người lạ chỉ đi ngang qua đúng khu vực rừng này rồi nhìn quanh một lượt, chắc chắn họ sẽ bảo rằng mọi thứ ở đây đều đang diễn ra hết sức bình thường.”

Tạ Vân đi ở phía sau khẽ gật đầu đồng tình với quan sát đó: “Vậy thì trong sổ ghi chép của đoạn đường hôm nay cứ giữ nguyên đúng hai chữ bình thường như thực tế đi.”

Harpe hạ bút ghi nguyên văn trạng thái bình thường vào hồ sơ của ngày thứ ba. Trong một chuyến đi khảo sát thực tế, chẳng có ai lại đi đặt ra cái chỉ tiêu vô lý là cứ hễ tới cuối mỗi ngày làm việc thì cả đoàn bắt buộc phải bới móc ra cho bằng được một hiện tượng kỳ bí mới mẻ nào đó.

Thế nhưng tới khoảng quá nửa buổi chiều của ngày thứ ba ấy, bầu trời phía trên các rặng núi bắt đầu kéo mây xám xịt rồi đổ mưa rào. Lúc mới bắt đầu chỉ là những hạt mưa bụi lất phất bay qua tán lá, nhưng chỉ chừng nửa khắc sau đó thì lượng nước trút xuống đã nặng hạt dần lên trông thấy, khiến cho mặt đường đất thịt dưới chân cả đoàn biến đổi trạng thái nhanh chóng mặt.

Triệu Khải ngước mắt nhìn sắc mây đen kịt đang vần vũ trên đỉnh hẻm núi phía trước rồi quay lại cảnh báo: “Tối nay chúng ta không thể dừng chân hạ trại ở dưới đáy khe núi này được đâu.”

Tạ Vân tán đồng với phán đoán an toàn của người dẫn đường. Thế là cả đội bảy người buộc phải đội mưa rảo bước đi thêm gần một canh giờ đồng hồ nữa mới tìm ra được một mỏm đá cao ráo nằm tách biệt hẳn khỏi luồng chảy của nước lũ trên sườn đồi để dựng lều bạt. Tới lúc căng xong tấm vải bạt chắn gió mưa thì cơn mưa rừng đã trở nên xối xả tới mức công việc đi kiếm củi nhóm lửa biến thành một cực hình đúng nghĩa, tất nhiên với bản lĩnh của các thành viên trong đoàn thì việc gom cành cây ướt lại rồi dùng linh lực hay kỹ thuật để ép lửa cháy lên chẳng phải chuyện bất khả thi, chỉ có điều làm vậy sẽ ngốn rất nhiều thời gian và công sức giữa lúc quần áo ai nấy đều đã ướt lạnh và cái bụng thì đang đói meo.

Triệu Khải ngồi dưới mái bạt nhìn ra màn mưa trắng xóa bên ngoài rồi lại quay vào nhìn mấy chiếc túi hành lý ẩm nước đặt ở góc lều.

Soma ngồi bên cạnh thấy ánh mắt đó của gã tán tu liền vỗ nhẹ lên chiếc ba lô của mình rồi nói: “Bữa tối nay đến lúc đem đồ hộp ra dùng rồi đấy.”

Harpe đang ngồi lau khô bìa sổ tay cũng gật đầu tán thành ngay. Và đây chính là khoảnh khắc đầu tiên trong suốt hành trình mà lô phần thưởng năm mươi hộp thức ăn của hệ thống chứng minh được giá trị thực chiến đắt giá nhất của nó. Giữa lúc cả bảy người đang ngồi dưới tấm bạt che mưa giữa rừng sâu, chẳng ai còn muốn mất thêm nửa canh giờ vật lộn với đống củi ướt sũng để nấu một nồi thức ăn nóng.

Họ nhanh chóng lấy ra sáu chiếc hộp kim loại từ dưới đáy ba lô để khui nắp, bởi Zero vốn không có nhu cầu nạp thức ăn sinh học như con người. Một hộp thịt bò hầm rau củ cỡ lớn được Harpe chủ động chia đôi ra cho hai người đệ tử của Lạc Hà tông dùng trước, bởi lúc kiểm tra hành lý thì phát hiện mép túi vải đựng bánh nướng khô của hai người họ đã chẳng may bị nước mưa ngấm ướt một góc, phần thức ăn đóng hộp để nguội tuy lớp nước sốt có hơi đặc và ngấy hơn so với lúc được hâm nóng ở nhà, nhưng ít nhất là mọi người có thể bỏ ngay vào miệng nhai nuốt mà chẳng cần phải ngồi đợi đống lửa nào đun sôi nước cả.

Triệu Khải dùng đũa gắp thử một miếng cá kho trong hộp của mình bỏ vào miệng nhai kỹ rồi chép miệng nhận xét: “Vị ướp trong cái hộp cá này làm hơi mặn đấy nhỉ.”

Soma đang ngồi ăn ở bên cạnh liền chỉ tay vào túi lương khô của gã: “Món cá đó ông phải bẻ thêm miếng bánh ăn kèm vào mới vừa miệng.”

Triệu Khải nghe lời bẻ thử một góc bánh khô bỏ vào miệng nhai chung với miếng cá rồi gật gù công nhận: “Ừ, ăn kèm với bánh khô thấy đỡ mặn hơn hẳn thật.”

Ở góc lều phía bên kia, sau khi đã dùng xong phần ăn của mình, Tạ Vân cầm chiếc vỏ hộp bằng kim loại đã trống không trên tay ngắm nghía một thoáng rồi dặn mọi người: “Ăn xong thì tất cả nhớ thu gom toàn bộ mấy cái vỏ hộp sắt này cất lại vào túi đấy.”

Harpe hơi ngước mắt lên nhìn vị trưởng lão hỏi lại: “Chúng ta giữ lại vỏ hộp rỗng làm gì vậy?”

“Đừng vứt lại những thứ rác rưởi kỳ lạ thế này ở giữa rừng sâu.”

Harpe gật đầu hiểu ý ngay, bởi nguyên tắc cơ bản của một đội đi điều tra thực địa là không được để lại những dấu vết lạ làm nhiễu loạn hiện trường của khu vực. Xuyên suốt bữa ăn tối dã chiến dưới mưa ấy, không có bất kỳ cảnh tượng kịch tính nào kiểu như những tu sĩ bản địa của Đại Càn phải trố mắt kinh ngạc hay trầm trồ quá mức trước một hộp thức ăn chế biến sẵn cả.

Sau khi ăn no bụng, điều duy nhất khiến một người thực tế như Triệu Khải cảm thấy tò mò chỉ là câu hỏi: “Cái thứ thức ăn đóng kín trong hộp sắt kiểu này nếu cứ để nguyên như vậy thì giữ được trong bao lâu mà không thiu?”

Soma vừa lấy khăn lau miệng vừa đáp gọn: “Giữ được lâu lắm.”

“Thì ta đang hỏi cụ thể cái chữ lâu lắm của ngươi là tính bằng mấy tháng hay mấy năm cơ mà?”

Soma cầm chiếc vỏ hộp lên cúi nhìn dòng chữ số in dập nổi trên nắp sắt mất hai giây rồi lại ngẩng lên lặp lại: “Nói chung là để được khá lâu đấy.”

Triệu Khải nhìn bộ dạng ậm ờ đó của chàng thanh niên tóc trắng là bắt bài được ngay: “Thực ra chính bản thân ngươi cũng chẳng biết cách đọc cái dòng ký hiệu ngày tháng in trên nắp hộp kia chứ gì.”

“Tôi không đọc ra chính xác từng con số trên đó thì cũng đâu có ảnh hưởng gì tới chuyện tối hôm nay chúng ta mở nó ra ăn no bụng đâu.”

Harpe ngồi nghe màn đối đáp cùn của Soma mà không nhịn được phải bật cười thành tiếng. Ở ngay phía rìa ngoài của tấm bạt che mưa, Zero vẫn đang ngồi im lặng phóng tầm mắt canh gác màn mưa rừng tối đen phía trước.

Soma ăn xong liền tiện tay cầm chiếc vỏ hộp kim loại rỗng của mình chìa sang phía người đồng đội áo đỏ: “Này Zero, cậu cầm hộ tôi cái vỏ hộp này một lát nhé.”

Zero lẳng lặng vươn tay đón lấy chiếc vỏ hộp rỗng mà không hỏi han gì. Triệu Khải ngồi bên cạnh chứng kiến cảnh tượng đó liền trố mắt nhìn Soma: “Này, bản thân người ta đã không được ăn miếng nào rồi mà tới lúc ăn xong ngươi lại còn sai người ta cầm hộ vỏ rác nữa là sao hả?”

Soma thản nhiên chỉ tay sang phía Zero mà giải thích với lý lẽ hết sức tỉnh rụi: “Thì tại trong lúc tất cả chúng ta đều đang bận hai tay để cầm đũa ăn cơm, chỉ có mỗi mình cậu ấy là đang rảnh cả hai bàn tay thôi còn gì nữa.”

Zero hơi quay đầu lại nhìn thẳng vào mặt Soma một cái. Bắt gặp ánh mắt nghiêm nghị của người đồng đội, Soma liền bật cười xua tay đính chính ngay: “Tôi chỉ đùa một chút thôi mà, đưa đây tôi cất cho.”

Thế nhưng Zero vẫn không trả lại mà tự tay bỏ luôn chiếc vỏ hộp rỗng đó vào trong túi đựng đồ tạp vật bên hông mình. Tạ Vân ngồi ở góc lều nhìn cảnh tượng quen thuộc giữa hai người họ thì chỉ biết khẽ lắc đầu mỉm cười. Một chuyến đi khảo sát thực địa kéo dài nhiều ngày ở nơi hoang vu thực chất luôn được lấp đầy bởi hàng loạt những giờ phút vụn vặt và bình thường như thế, chẳng có manh mối chấn động nào lộ diện mỗi giờ, cũng chẳng có những trận kịch chiến long trời lở đất, mà chỉ toàn là chuyện quần áo ướt mưa, cơ thể nhiễm lạnh, ngồi nhai đồ hộp nguội, hong khô giày tất bên đống than nhỏ, tự kiểm tra vết phồng rộp dưới lòng bàn chân rồi tranh thủ chợp mắt chờ trời sáng. Và chính những giờ phút sinh tồn đời thường khắc nghiệt ấy mới là thước đo rõ ràng nhất cho thấy công tác chuẩn bị hậu cần ở nhà đóng vai trò sống còn đến mức nào, bởi giữa chốn rừng thiêng nước độc này, chỉ cần sơ suất để thiếu hụt một ngày lương thực, quần áo ấm không kịp hong khô, một thành viên trong đoàn bị sưng tấy cổ chân, đèn chiếu sáng cạn sạch pin, dây thừng bảo hiểm bị sờn đứt hay tấm bản đồ ghi sai một khe nước nhỏ thôi là toàn bộ kế hoạch di chuyển của cả đoàn đã phải thay đổi. Mà đối với phần lớn những rắc rối vụn vặt mang tính sinh tồn ấy, sức mạnh chiến đấu cao siêu cỡ nào cũng chẳng thể tự dưng nhảy ra giải quyết thay được.

Trong suốt khoảng thời gian đội khảo sát bảy người đang lội rừng ở phía bắc, guồng quay công việc hàng ngày tại viện Tây Sơn vẫn tiếp tục vận hành đều đặn chứ không ngưng nghỉ. Và đây cũng chính là lúc mà tấm bảng lịch trình công việc do Hứa An dày công kẻ vẽ ở gian cổng chứng minh được giá trị điều phối thực tế rõ rệt nhất của nó.

Ngay vào buổi sáng ngày thứ hai sau khi đoàn phía bắc lên đường, có một vị khách quen cũ đã tìm tới tận bàn cổng của viện để hỏi thuê đích danh Ronan.

Hứa An chỉ cần ngước mắt nhìn lướt qua tấm bảng gỗ treo trên tường là có thể trả lời ngay: “Dạ, hiện tại Ronan đại ca đã lên đường đi làm nhiệm vụ hộ tống ở phía tây từ sáng hôm qua rồi ạ.”

“Thế tới khoảng buổi chiều tối nay cậu ấy đã quay về tới viện chưa?”

“Dạ chưa đâu ạ, chiều nay đại ca ấy vẫn còn đang đi theo sát đoàn xe hàng trên đường bộ.”

Vị khách quen nghe vậy liền chuyển hướng sang hỏi người tiếp theo: “Nếu Ronan bận rồi thì cho ta thuê cậu Soma đi thay cũng được.”

“Dạ Soma đại ca hiện tại cũng không có mặt ở thành Thanh Hà ạ.”

“Thế còn vị tráng sĩ mặc giáp đỏ tên là Zero thì sao?”

“Zero đại ca cũng đã đi công tác xa cùng một đoàn với Soma đại ca luôn rồi ạ.”

Vị thương nhân nghe tới câu từ chối thứ ba liên tiếp thì không khỏi trố mắt ngạc nhiên hỏi lại: “Ủa, nói như vậy là hiện giờ trong cái viện Tây Sơn này của các ngươi đã hết sạch người làm việc rồi hay sao?”

Hứa An bình tĩnh nhìn thẳng vào vị khách đang sốt ruột trước mặt rồi mới ôn tồn đáp lại: “Dạ không phải là trong viện hết người, mà là những nhân sự chuyên đảm trách mảng hộ tống đường dài hiện đều đã nhận kín lịch từ tuần trước rồi ạ.”

Vị khách nghe câu giải thích rành mạch đó thì ngừng lời không vặn vẹo nữa. Đúng là trong khuôn viên viện Tây Sơn không phải chỉ có vỏn vẹn ba người vừa được nhắc tên kia, nhưng chuyện trong nhà đang có người ở lại không đồng nghĩa với việc bất cứ ai đang có mặt ở nhà cũng đều phù hợp để đem ra gán vào công việc mà vị khách đang yêu cầu. Cụ thể là vị thương nhân này đang cần thuê một cao thủ có võ lực vững vàng để đi hộ tống một chuyến xe chở hàng giá trị cao băng qua một cung đường đèo từng có tiền lệ xuất hiện sơn tặc cướp bóc, trong khi hiện tại Ronan đang bận đi hộ tống ở tuyến đường ngược lại, còn Soma, Zero cùng với Harpe thì đều đã đi sâu vào vùng núi phía bắc mất sóng liên lạc. Cậu nhóc A Thạch ở nhà vốn chỉ chuyên làm công việc đưa tin và khảo sát đường sá chứ đâu phải hộ vệ áp tải chính, còn bản thân ông chủ Lê Mai Nam thì đương nhiên không bao giờ nhận mấy việc đánh đấm ngoài đường.

Hứa An mở cuốn sổ ghi chép dự phòng ra rồi hỏi kỹ lại nhu cầu của khách: “Chuyến xe hàng đó của ngài bắt buộc phải xuất phát vào ngày mồng mấy trong tháng ạ?”

“Chậm nhất là tới sáng ngày mười ba tháng này đoàn xe của ta phải lăn bánh rời thành rồi.”

Cậu quản sự trẻ tuổi đưa ngón tay dò dọc theo dòng lịch của Ronan trên bảng, nơi ghi rõ ngày dự kiến kết thúc chuyến hộ tống phía tây là vào chiều ngày mười hai: “Nếu ngày mười ba mới xuất phát thì về mặt thời gian là có khả năng thu xếp kịp đấy ạ.”

“Ngươi nói có khả năng kịp nghĩa là đã dám hứa chắc chắn nhận lời với ta chưa?”

“Dạ đệ chưa thể hứa chắc chắn một trăm phần trăm với ngài ngay lúc này được, phải đợi tới chiều ngày mười hai khi Ronan đại ca thực sự đặt chân về tới cổng viện an toàn thì bên chúng tôi mới dám ký giấy nhận cọc chính thức ạ.”

Vị thương nhân nghe cách trả lời quá đỗi nguyên tắc đó thì trên mặt thoáng lộ vẻ hơi phật ý: “Chẳng lẽ ngươi quên mất ta vốn là chỗ khách quen từng thuê người của viện các ngươi mấy lần rồi hay sao?”

Hứa An vẫn giữ nguyên thái độ lễ phép, khẽ cúi đầu gật nhẹ: “Dạ chuyện ngài là khách quý lâu năm của viện thì tất nhiên là đệ vẫn luôn ghi nhớ rất rõ ạ.”

“Đã nhớ là chỗ khách quen cũ thế sao bên viện các ngươi không linh động xếp lịch ưu tiên cho chuyến hàng của ta trước?”

“Dạ mong ngài thông cảm cho, nguyên tắc làm ăn từ ngày đầu mở cổng của viện Tây Sơn là mối công việc nào đã nhận lời và nhận cọc của người ta từ trước thì bắt buộc phải ưu tiên hoàn thành cho trọn vẹn trước tiên ạ.”

Vị thương nhân đứng nhìn chăm chăm vào gương mặt điềm đạm của cậu quản sự trẻ tuổi hồi lâu. Tuy trong lòng ông ta chưa thực sự quen với cái kiểu có tiền đi thuê người mà lại phải đứng chờ xếp lượt như thế này, nhưng trước thái độ vừa lịch sự vừa sòng phẳng không chê vào đâu được của đối phương thì ông ta cũng chẳng tới mức nổi giận đùng đùng bỏ đi.

Sau một thoáng cân nhắc thiệt hơn, vị khách đành thở dài nhượng bộ: “Thôi được rồi, vậy ngươi cứ ghi tên giữ chỗ trước cho đoàn xe của ta vào sáng ngày mười ba đi, ta sẽ đợi câu trả lời xác nhận của các ngươi tới hết chiều ngày mười hai.”

Hứa An cầm bút bi ghi rõ dòng chữ chờ xác nhận vào đúng ô ngày mười ba trên bảng lịch, không buông lời hứa hẹn quá khả năng kiểm soát của mình. Ở bên trong gian nhà chính ngay gần đó, Nam vừa ngồi uống trà vừa lắng nghe không sót một chữ nào của toàn bộ cuộc thương lượng ngoài cổng.

Đợi cho bóng lưng của vị thương nhân đã đi khuất hẳn ra ngoài đường lớn, ông chủ xưởng mới thong thả bước ra hiên khen một câu: “Vụ tiếp khách vừa rồi đệ đứng ra xử lý đúng chuẩn lắm đấy Hứa An.”

Hứa An vẫn đang bấm thu ngòi bút bi lại, nghe ông chủ khen liền ngước lên đáp gọn: “Dạ, bản thân đệ cũng tự biết là mình xử lý đúng quy tắc mà huynh.”

Nam hơi nhướng mày nhìn bộ dạng tỉnh rụi của cậu em quản sự: “Này, được ông chủ đích thân ra mặt khen ngợi mà đệ không biết đường nói lại một câu cảm ơn cho phải phép à?”

“Ủa, câu nói vừa rồi của Nam huynh là đang khen ngợi đệ thật đấy ạ?”

“Chứ không khen đệ thì huynh mất công đi ra tận đây nói làm gì.”

“Dạ vâng, vậy thì tiểu đệ xin đa tạ lời khen của Nam huynh ạ.”

Nam đứng nhìn vẻ mặt cảm ơn hết sức miễn cưỡng cho xong chuyện đó của Hứa An mà chỉ biết lắc đầu cười trừ, thôi không thèm chấp nhặt thêm nữa.

Thế nhưng câu chuyện điều phối nhân sự của ngày hôm đó vẫn chưa dừng lại ở đấy. Đến khoảng xế chiều cùng ngày, bất ngờ có một gã phu xe quần áo lấm lem bùn đất hớt hải chạy bộ từ trục đường phía đông thành lao thẳng vào cổng viện Tây Sơn, miệng thở hồng hộc báo tin khẩn cấp rằng vừa mới có một cỗ xe ngựa chở đầy gỗ lim bị trượt bánh lật nhào ở ngay đoạn dốc đá ngoài thành, hiện đang có tới hai người thợ bốc vác bị những thân gỗ lớn đè kẹt cứng ở bên dưới chưa kéo ra được.

Ngay khi nghe tin báo tai nạn, Hứa An hỏi rõ ngay số lượng người bị thương cùng tình trạng tỉnh táo hiện tại của nạn nhân, đồng thời phóng tầm mắt nhìn thẳng lên tấm bảng lịch công việc trên tường để rà soát xem trong viện hiện đang còn những ai ở nhà. Trên bảng lịch thể hiện rõ mồn một, Ronan đang ở phía tây, bộ ba Soma, Zero và Harpe đang ở tận rừng sâu phía bắc, cô bé Shiroma chiều nay đang có mặt ở Lương y quán, Ciel đang làm việc trong xưởng kỹ thuật, còn ở sân trước lúc này chỉ có mỗi Nam và cậu nhóc A Thạch. Tai nạn lật xe đè người rõ ràng là chuyện cứu mạng khẩn cấp tính bằng từng khắc một chứ không thể nào ghi sổ hẹn sang ngày mai mới giải quyết, thế nhưng điều đó cũng không có nghĩa là cái viện Tây Sơn đang vắng hết chủ lực chiến đấu này phải tự mình ôm đồm gánh vác toàn bộ công việc cứu hộ bằng tay không.

Chỉ mất đúng vài giây suy tính thực tế, Nam đã chỉ tay ra cổng phân công ngay cho A Thạch chạy nhanh sang Lương y quán để gọi Lương đại phu cùng với cô bé Shiroma mang theo hòm thuốc cấp cứu ra thẳng hiện trường, đồng thời cử thêm người chạy qua xưởng mộc của Lão Tề để báo tin nhờ bác thợ cả điều động đám thợ mộc khỏe mạnh mang theo đòn bẩy và con đội chuyên dụng ra hỗ trợ nâng gỗ: “Đệ cho người chạy đi gọi bên chỗ Lão Tề ngay đi, bên đấy chắc có sẵn nhân công quen việc nặng.”

Hứa An gật đầu ghi nhận phương án điều phối cực kỳ chuẩn xác đó, đoạn quay sang hỏi thêm một câu: “Thế còn phía bên chỗ chị Ciel trong xưởng kỹ thuật thì sao hả huynh?”

Nam đưa mắt nhìn về phía cánh cửa gỗ đóng kín của gian xưởng ở sân sau rồi mới trả lời: “Để huynh tự chạy vào trong đó hỏi qua bà ấy một tiếng xem trong kho có sẵn cái kích cơ khí hay phương án kê chèn nào an toàn để cho mượn mang đi hay không thôi. Nếu không thực sự cần thiết tới thao tác kỹ thuật phức tạp thì cũng chẳng việc gì phải bắt bà ấy tự mình chạy ra tận hiện trường vụ lật xe làm gì.”

Hứa An cầm bút ghi nhanh hướng xử lý vào sổ trực ban. Thực tế chứng minh rằng trên đời này chẳng có bất kỳ một tấm bảng lịch trình nào có thể dự đoán trước được những tai nạn bất ngờ ập tới, thế nhưng sự tồn tại của tấm bảng lịch trước mắt đã giúp cho người đứng mũi chịu sào ở viện Tây Sơn biết ngay những ai đang ở quá xa không thể gọi về, từ đó chuyển hướng sang huy động các nguồn lực phối hợp ở xung quanh thay vì ngồi luống cuống chờ đợi. Nhờ phương án điều phối nhịp nhàng đó, cả hai người thợ bị kẹt dưới đống gỗ lim đều đã được giải cứu ra ngoài an toàn ngay trước khi bóng tối kịp buông xuống, nhờ vào sức vóc của đám thợ bên xưởng Lão Tề, sự chung tay phụ sức của người dân sống quanh chân dốc cùng với bộ con đội cơ khí chịu tải mà viện Tây Sơn cho mượn. Tại hiện trường, cô bé Shiroma đã kịp thời dùng kỹ năng sơ cứu để băng bó cầm máu cho một người thợ bị dằm gỗ cứa rách sâu ở bắp chân, trong khi đích thân Lương đại phu thì trực tiếp bắt mạch và nắn chỉnh cho người thợ còn lại bị thân gỗ ép mạnh vào vùng mạng sườn. Xuyên suốt toàn bộ ca cứu hộ khẩn cấp buổi chiều hôm ấy, không có lấy một thành viên chuyên chiến đấu nào của viện Tây Sơn có mặt tại hiện trường, thế nhưng sự cố nguy hiểm vẫn được giải quyết trọn vẹn đâu vào đấy.

Đến lúc trời tối hẳn, khi mấy người phu xe đi cùng đoàn chở gỗ mang trả lại bộ dụng cụ kích nâng về tới bàn cổng của viện Tây Sơn, một người trong nhóm vì quá cảm kích đã buột miệng cảm thán một câu lớn tiếng: “Xem ra bây giờ cái viện Tây Sơn này của các vị đúng là đứng ra cai quản luôn sự an nguy của cả cái vùng ngoại thành này rồi còn gì nữa.”

Nam lúc đó đang ngồi uống trà ở ngay chiếc ghế gần bàn cổng, vừa nghe thấy câu tâng bốc đó lọt vào tai là hắn lên tiếng phủ nhận thẳng thừng: “Không có chuyện đó đâu nhé.”

Người phu xe đang cười nói rôm rả bỗng dưng ngơ ngác đứng sững lại. Nam vẫn ngồi yên tại chỗ, giữ nguyên tông giọng bình thản thường ngày để giải thích rõ ràng ranh giới trách nhiệm cho đối phương hiểu: “Chiều hôm nay bên viện chúng tôi đứng ra hỗ trợ gọi người và cho mượn đồ nghề đơn giản là vì đúng lúc hôm nay chúng tôi có điều kiện giúp được các ông thôi.”

“Nhưng mà rõ ràng là nhờ có viện của các vị đứng ra thu xếp thì hai người huynh đệ của chúng tôi mới thoát nạn...”

“Nếu chẳng may lần sau trên đường lại xảy ra chuyện tương tự vào đúng cái hôm toàn bộ người của viện tôi đều đã đi công tác xa ngoài thành hết cả, lúc đó các ông bắt buộc vẫn phải tự biết đường chạy đi báo cho nha môn quan phủ, hô hào bà con hàng xóm quanh vùng, tìm tới đệ tử của Lạc Hà tông hoặc chạy thẳng tới y quán gọi đại phu, nghĩa là phải chủ động tìm tới bất cứ ai có chuyên môn phù hợp đang ở gần nhất. Đừng bao giờ hình thành cái thói quen gặp chuyện nguy cấp là cứ ngồi im một chỗ chờ người của Tây Sơn chạy tới giải quyết hết cho mình.”

Người phu xe nghe những lời thẳng thắn không chút khách sáo đó thì vẻ mặt hơi lúng túng. Bản thân Nam khi nói ra những câu ấy cũng chẳng hề mang thái độ nặng lời hay hách dịch gì cả, hắn chỉ cần xác lập một nguyên tắc thật rõ ràng ngay từ đầu: “Mối công việc nào mà viện chúng tôi đã chính thức nhận lời và ký giấy với khách, chúng tôi sẽ chịu trách nhiệm tới cùng. Còn dọc đường đi nếu bắt gặp người bị nạn thập tử nhất sinh ngay trước mắt, trong khả năng cứu được thì đương nhiên chúng tôi sẽ ra tay cứu giúp. Nhưng viện Tây Sơn này mở ra là để làm ăn, chúng tôi không phải là đội tuần tra có nghĩa vụ đứng canh gác cho toàn bộ thành Thanh Hà này.”

Đứng ghi chép sổ sách ở ngay đầu bàn bên cạnh, Hứa An ngẩng đầu lên nhìn ông chủ của mình, và Ciel lúc đó vừa bước ra nhận lại bộ dụng cụ cơ khí cũng đứng nghe trọn vẹn từng chữ. Không một ai trong viện lên tiếng phản đối quan điểm đó của Nam, bởi việc khóa chặt giới hạn trách nhiệm bắt buộc phải được làm rõ ngay từ bây giờ, trước khi cái danh tiếng tốt bụng ngoài đường tự động đẻ thêm hàng tá nghĩa vụ vô lý mà không một ai trong cái nhà này từng gật đầu đồng ý gánh vác.

Ngay sáng ngày hôm sau, Hứa An đã chủ động viết thêm một dòng ghi chú ngắn gọn vào trang đầu của cuốn sổ quy tắc tiếp nhận công việc đặt tại bàn cổng. Dòng ghi chú nhỏ ấy giúp cậu luôn nhớ rõ nguyên tắc mỗi khi có khách quen thuận miệng bảo có việc gấp cứ gọi Tây Sơn: viện không nhận lời hứa trực chiến sẵn hai mươi tư giờ, mọi sự việc phát sinh đột xuất đều phải tùy thuộc vào nhân sự thực tế đang có mặt ở nhà.

Nam đi ngang qua bàn cổng cúi nhìn dòng chữ mới viết của cậu em rồi gật đầu: “Ghi ngắn gọn thế này là được rồi đấy.”

Hứa An vừa cài lại cây bút bi vào mép sổ vừa đáp: “Thì toàn bộ nội dung dòng chữ này vốn là lời của chính miệng Nam huynh vừa mới nói ra hồi tối hôm qua chứ đâu.”

“Ừ, thì huynh nói lúc tối qua.”

“Huynh đã nói ra thành lời rồi thì đệ cứ thế chép lại vào sổ để làm chuẩn thôi.”

“Rồi, huynh biết rồi.”

Mọi nguyên tắc sống còn ở cái viện này đều được đưa vào vận hành nhẹ nhàng như thế, chẳng cần phải biến nó thành một bản tuyên ngôn ồn ào làm gì.

Trên vùng núi phía bắc, bước sang ngày hành quân thứ tư thì bầu trời đã tạnh ráo hẳn sau trận mưa rào chiều hôm trước. Thế nhưng lượng nước mưa rừng dồn từ các sườn đồi đổ xuống đã làm cho một khe suối đầu xuân dâng cao đột ngột, dòng nước đục ngầu tràn qua làm ngập lấp mất đúng dải bãi bùn ven bờ mà đoàn khảo sát dự định dùng làm điểm nút để đối chiếu dấu chân thú hoang. Thực chất việc tung mình nhảy vượt qua một khe nước chảy xiết cỡ đó chẳng phải là thử thách gì khó khăn đối với tu vi của Triệu Khải hay hai người đệ tử Lạc Hà tông, và bản thân trưởng lão Tạ Vân lại càng không coi con suối nhỏ ấy là vật cản đường. Vấn đề nằm ở chỗ nếu cả đoàn cứ thế nhảy vọt thẳng sang bờ đá đối diện để đi tiếp thì họ sẽ vô tình bỏ sót lại cả một phân đoạn dấu vết quan trọng chưa kịp kiểm chứng, nhất là trong bối cảnh dòng nước lũ vừa mới cuốn trôi mất không ít vết chân cũ ở vùng đất thấp. Chính vì vậy, cả đội quyết định điều chỉnh lộ trình rẽ ngược lên phía thượng lưu của con suối, kiên nhẫn men theo những gờ đất cao chưa bị ngập nước để lần tìm những vết móng còn sót lại, đồng thời đánh dấu rõ lên bản đồ những đoạn bờ suối đã bị nước mưa xóa mất bằng chứng hiện trường. Quyết định làm việc cẩn trọng đó đã khiến cho tiến độ di chuyển chung của toàn đội bị chậm lại mất gần nửa ngày đường, nhưng đổi lại chuỗi dữ liệu thu thập được không bị đứt gãy và cũng không có bất kỳ ai trong đoàn gặp phải chấn thương đáng tiếc nào.

Sang tới ngày thứ năm của cuộc hành trình, đoàn khảo sát bảy người đã chính thức đặt chân tới khu vực hẻm núi thấp thứ hai nằm trong kế hoạch. Tại địa bàn mới này, những dấu hiệu bất thường về mặt sinh thái bắt đầu lộ diện rõ nét hơn hẳn so với khu vực đầu tiên, trong rừng vẫn có sự hiện diện của các loài động vật hoang dã, nhưng quy luật phân bố nơi ở của chúng lại bị xáo trộn một cách kỳ lạ.

Triệu Khải chính là người đầu tiên phát hiện ra sự sai lệch đó khi anh nhận thấy một giống thú gặm nhấm nhỏ vốn chỉ quen đào hang sinh sống ở vùng thung lũng ẩm thấp dưới chân núi nay lại xuất hiện với mật độ dày đặc ở những sườn đồi đất đá khô cằn nằm trên cao.

Harpe đứng bên cạnh vừa mở trang sổ ghi chép vừa đặt câu hỏi kiểm chứng: “Liệu hiện tượng chúng dạt lên vùng đất cao này có thể giải thích bằng quy luật thay đổi theo mùa được không?”

Triệu Khải suy tính một thoáng rồi gật đầu: “Cũng có khả năng là do thời tiết chuyển mùa ấm sớm.”

“Thế có khả năng nào là do mực nước ngầm dưới đáy thung lũng dâng cao sau đợt băng tan khiến hang của chúng bị ngập nước không?”

“Khả năng bị ngập nước hang dưới thấp cũng có thể xảy ra.”

“Vậy còn khả năng thứ ba là do chúng bị một áp lực nào đó từ vùng rừng phía bắc ép phải chạy dạt lên sườn đồi này thì sao?”

Triệu Khải quay sang nhìn thẳng vào đôi mắt điềm tĩnh của vị cựu chỉ huy rồi lại gật đầu: “Khả năng đó cũng có lý luôn.”

Harpe cầm bút ghi đầy đủ cả ba giả thuyết đó nằm ngang hàng nhau trên trang giấy mà không tự ý gạch bỏ hay chọn bừa lấy một nguyên nhân nào làm kết luận chính. Trong lúc đó, Tạ Vân cũng đã nhắm mắt đứng tĩnh tâm để cảm nhận dòng chảy linh khí trong toàn bộ khu vực hẻm núi, nhưng kết quả thu về vẫn không phát hiện thấy bất kỳ một vùng dao động linh lực quy mô lớn nào đủ rõ rệt để định vị.

Ở cách đó vài chục bước chân, một người đệ tử của Lạc Hà tông bất ngờ gọi mọi người lại gần khi tìm thấy một loạt vết móng vuốt cào xước ăn sâu vào lớp vỏ của một thân cây cổ thụ.

Triệu Khải bước tới đưa ngón tay ướm thử vào rãnh vết cào trên gỗ rồi khẳng định: “Vết móng rộng và sâu cỡ này chắc chắn là do một loài thú lớn tạo ra.”

“Huynh đài có nhận diện được chính xác nó thuộc về giống yêu thú nào không?”

“Vết cào trên vỏ cây đã bị nhựa cây đùn ra phủ lấp một phần rồi nên ta chưa dám khẳng định chắc chắn là loài nào.”

“Vết tích này được tạo ra từ cách đây khoảng bao lâu?”

“Nhìn độ khô của lớp gỗ bên trong thì ít nhất cũng phải từ vài tháng trước rồi, khoảng tầm cuối mùa thu năm ngoái.”

Harpe lại tiếp tục cúi đầu ghi chép thông số niên đại của vết cào vào sổ. Ở ngay bên cạnh gốc cây cổ thụ, Soma đang đứng khoanh tay phóng tầm mắt nhìn đăm đăm vào khoảng rừng rậm âm u phía trước mà không nói năng gì.

Tạ Vân bước lại gần thấy vẻ mặt trầm tư khác thường của chàng thanh niên tóc trắng liền cất tiếng hỏi: “Đứng ở đây ngươi có cảm nhận được luồng khí tức nào quen thuộc không?”

Soma khẽ lắc đầu đáp lại: “Các Soul bên trong cơ thể tôi hiện tại không có cái nào phát ra phản ứng cảnh báo cả.”

“Ta đang hỏi cảm giác trực giác của cá nhân ngươi cơ, chứ không hỏi cơ chế kỹ năng của mấy thứ đó.”

Soma nghe vậy thì khẽ nở một nụ cười nhẹ rồi thành thật nói ra cảm nhận của mình: “Nếu nói về cảm giác cá nhân thì tôi chỉ thấy khu rừng trước mặt này nó yên tĩnh quá mức bình thường thôi.”

Tạ Vân nghe xong liền đưa mắt nhìn bao quát một vòng quanh các tán cây rừng. Thực tế thì khu rừng này cũng chẳng tới mức chết lặng, trên cành cao thỉnh thoảng vẫn có bóng chim chuyền cành, dưới thảm lá mục vẫn nghe thấy tiếng côn trùng rả rích kêu, chỉ có điều không cảm nhận được hơi thở hay tiếng bước chân của bất kỳ một loài thú rừng cỡ vừa và lớn nào quanh đây cả. Harpe mở tấm bản đồ tổng thể ra đối chiếu vị trí đứng hiện tại của cả đoàn, tọa độ hẻm núi thứ hai này nằm ăn sâu hơn hẳn về phía bắc so với cái vòng tròn bằng bút chì mà anh từng khoanh vùng từ hồi mùa thu năm ngoái. Vị trí này giúp điền thêm một chấm tọa độ mới vào bức tranh chung đang dần mở rộng.

Bước sang ngày hành quân thứ sáu, đội khảo sát tìm thấy một bãi đất trống từng là khu vực săn mồi cố định của một loài dã thú lớn. Số lượng xương cốt con mồi chất đống rải rác quanh các hốc đá cho thấy trước đây từng có một kẻ săn mồi đứng đầu chuỗi thức ăn hoạt động rất mạnh mẽ tại lãnh địa này, thế nhưng toàn bộ những mảnh xương còn sót lại hiện giờ đều đã cũ kỹ và khô mục: quanh bãi săn không có xác con mồi mới, không có phân tươi, cũng chẳng còn mùi nước tiểu đánh dấu lãnh địa. Ngay cả bản thân con thú săn mồi hung dữ từng làm bá chủ khu vực hẻm núi này hóa ra cũng đã lẳng lặng cuốn gói rời đi từ lúc nào không hay.

Triệu Khải đứng ở ngay chính giữa bãi đất trống ngập xương khô, nét mặt của gã tán tu lúc này đã không còn giữ được vẻ cười cợt thoải mái như mấy hôm trước nữa: “Theo lẽ tự nhiên ở trong rừng, chuyện kẻ đi săn phải di chuyển rời đi sau khi bầy con mồi đã chạy trốn hết sang vùng khác vốn là chuyện hết sức bình thường.”

Vừa nói, gã vừa chỉ mũi giày vào những bộ xương thú ăn cỏ chồng chất dưới chân mình rồi đặt ra một câu hỏi lớn: “Thế nhưng nếu như vùng thung lũng này trước đây vốn có nguồn thức ăn dồi dào tới mức nuôi sống được cả một chuỗi sinh thái như thế, vậy thì rốt cuộc là cái thứ gì đã xuất hiện và khiến cho cả kẻ đi săn lẫn con mồi đều phải đồng loạt bỏ xứ mà đi như vậy?”

Không một ai trong đoàn vội vàng mở miệng đưa ra câu trả lời cho câu hỏi hóc búa đó. Tạ Vân không hấp tấp quy kết nguyên nhân cho một con đại yêu truyền thuyết nào, Harpe không tự tiện cầm bút vẽ bừa hình thù một con quái vật vào tâm bản đồ, và bản thân Soma cũng không kích hoạt các kỹ năng dò tìm theo cái kiểu nôn nóng cho rằng chỉ cần lôi cổ ra được một mục tiêu to xác để chém gục là mọi bí ẩn ở đây sẽ tự khắc có lời giải.

Zero sau khi đi một vòng quan sát kỹ các vách đá và thân cây cổ thụ bao quanh bãi săn mới dừng bước lên tiếng nhận xét: “Xung quanh khu vực này không có dấu vết bị phá hủy bằng ngoại lực.”

Chi tiết quan sát ngắn gọn ấy của chiến binh áo đỏ thực sự rất đáng để lưu tâm, bởi nếu như từng có một sinh vật khổng lồ nào đó càn quét đi xuyên qua cánh rừng này, hoặc từng nổ ra một cuộc giao tranh giành lãnh địa khốc liệt giữa các loài yêu thú lớn, thì cảnh quan cây cối và đất đá quanh bãi săn bắt buộc phải lưu lại hàng loạt thương tổn vật lý rõ rệt như cây cối gãy đổ hay mặt đất cày xới. Đằng này, toàn bộ cây rừng và thảm cỏ xung quanh bãi xương cũ vẫn giữ nguyên vẻ nguyên vẹn bình thường đến lạ kỳ, và chính cái sự bình thường không một vết xước đó lại càng làm cho người đi điều tra cảm thấy gai người hơn.

Harpe cúi đầu nắn nót viết thêm một dòng nhận xét khách quan vào sổ tay của ngày thứ sáu: tại hiện trường không ghi nhận dấu vết tàn phá vật lý tương xứng với quy mô di cư của các loài động vật đã quan sát được, hiện vẫn chưa đủ dữ kiện để kết luận nguyên nhân gốc rễ. Chỉ một dòng ngắn gọn chuẩn xác như vậy là đủ cho báo cáo.

Đêm ngày thứ sáu ấy, cả đoàn bảy người lại quyết định khui đồ ăn đóng hộp ra dùng lần thứ hai trong chuyến đi. Cả ngày leo trèo qua các vách đá dựng đứng của hẻm núi thứ hai đã khiến ai nấy đều thấm mệt. Khi đoàn tìm được một hốc đá khuất gió để hạ trại nghỉ chân thì sắc trời đã tối muộn, và trưởng lão Tạ Vân cũng chủ động nhắc mọi người đêm nay ở sâu trong vùng lõi không nên đốt lửa trại quá lớn để tránh gây sự chú ý không cần thiết. Thế là Harpe lặng lẽ lấy dụng cụ khui một hộp thịt, Triệu Khải bên cạnh cũng mở một hộp cá, còn Soma thì lục tìm đúng cái hộp thịt bò hầm rau củ mà mình tâm đắc nhất.

Chàng thanh niên tóc trắng vừa xúc một miếng thịt bò bỏ vào miệng đã gật gù khen ngay: “Công nhận là cái vị thịt hầm này ăn nguội vẫn cứ là ngon hơn hẳn mấy hộp kia.”

Triệu Khải ngồi bên cạnh vừa nhai vừa liếc mắt sang hỏi: “Ngươi chỉ nhìn qua cái vỏ sắt bên ngoài mà vẫn nhớ chính xác được hộp nào hầm món gì ở bên trong cơ à?”

“Chuyện liên quan tới miếng ăn bỏ vào bụng thì đương nhiên là tôi phải nhớ kỹ rồi.”

Zero lúc đó đang ngồi nghỉ ở ngay tảng đá gần đó. Soma vừa cạy xong cái nắp hộp sắt liền hết sức tự nhiên vươn tay đưa luôn miếng nắp kim loại sắc cạnh sang cho người đồng đội.

Zero cúi mắt nhìn miếng nắp sắt trên tay Soma rồi hỏi gọn một chữ: “Lại nữa à?”

Soma nhe răng cười đáp tỉnh rụi: “Tại chỗ cậu ngồi ngay cạnh túi đựng vỏ rỗng nên đưa cho cậu cất là thuận tay nhất mà.”

Triệu Khải ngồi đối diện chứng kiến màn sai vặt trơ trẽn lần thứ hai đó thì không nhịn được phải bật cười thành tiếng.

Harpe vừa ăn vừa ngẩng lên nhắc nhẹ một câu theo đúng quy định: “Ăn xong nhớ gom sạch toàn bộ vỏ hộp sắt mang về đấy nhé.”

Soma bật cười bất lực rồi gật đầu: “Biết rồi mà, tôi có định vứt lại cái nào đâu.”

Triệu Khải sau khi vét sạch miếng thức ăn cuối cùng trong hộp của mình liền cầm chiếc vỏ kim loại rỗng lên lật qua lật lại ngắm nghía rồi đưa ra lời đánh giá công tâm: “Phải thừa nhận là cái thứ thức ăn đóng hộp sắt này đem theo trong mấy chuyến đi rừng dài ngày dùng cũng không tệ chút nào đâu.”

Harpe ngồi bên cạnh gật đầu tiếp lời: “Nhược điểm lớn nhất của nó là vỏ kim loại khá nặng.”

“Ừ, cầm nặng tay thật.”

“Nó cũng không thể thay thế cho các loại lương khô nhẹ cân được.”

“Đúng thế.”

“Thế nhưng vào những lúc trời mưa gió hoặc đêm tối không tiện nhóm lửa nấu nướng như hôm nay thì có sẵn nó để ăn lại cực kỳ tốt.”

Triệu Khải gật đầu tán đồng ngay mà không cần phải bàn luận thêm bất cứ lời nào nữa, bởi chính hoàn cảnh thực tế của đêm hạ trại thứ sáu này đã tự khắc đặt món đồ đó vào đúng vị trí hữu dụng nhất của nó. Sau khi thu gom toàn bộ các vỏ hộp kim loại rỗng xếp gọn vào trong một chiếc túi vải dày, gã tán tu thử nhấc bổng chiếc túi lên cân thử trên tay rồi khẽ lắc đầu cười khổ: “Khổ một nỗi là cái thứ đồ hộp này lúc ăn hết phần ruột bên trong rồi mà cái phần vỏ sắt bên ngoài vẫn cứ phải cõng theo trên lưng đi tiếp mới chết chứ.”

“Vậy nên ông nhớ chừa sẵn một góc trống cố định ở bên hông ba lô để buộc túi vỏ đi,” Harpe vừa buộc lại dây giày vừa dặn. “Sáng ngày mai lúc chúng ta rút quân xuống núi là còn phải đi qua một đoạn dốc đá khá gắt đấy.”

Soma ngồi bên cạnh thấy Zero đã lặng lẽ đứng dậy đi kiểm tra lại độ căng của các sợi dây neo lều trại quanh mỏm đá trước khi cả đội đi ngủ, anh liền chủ động vươn tay cầm lấy chiếc túi vải đựng vỏ hộp rỗng từ tay Triệu Khải rồi tự mình buộc chặt nó vào đai phụ bên ngoài chiếc ba lô của chính mình. Triệu Khải nhìn thấy hành động tự giác đó của chàng thanh niên tóc trắng thì chỉ khẽ nhướng mày một cái chứ không mở miệng trêu chọc thêm câu nào nữa.

Đoàn khảo sát bảy người chính thức quay trở về tới thành Thanh Hà vào chiều ngày thứ tám kể từ lúc xuất phát, tức là trễ hơn một ngày so với dự tính ban đầu nhưng vẫn nằm phía trước cột mốc ngày thứ mười sáu mà Hứa An quy định là có biến cố bất thường. Ngay từ lúc quá trưa khi cả đoàn bắt đầu đi ra khỏi vùng khuất sóng của hẻm núi phía bắc, chiếc bộ đàm cầm tay đã bắt lại được tín hiệu liên lạc với trạm trung chuyển ở nhà, và người trực tiếp cầm máy nghe thấy tiếng gọi đầu tiên chính là cậu nhóc A Thạch.

Từ trong loa bộ đàm phát ra giọng nói trầm ổn hơi rè rè của Harpe: “Báo cho bàn cổng biết là cả đoàn sẽ về tới viện trước khi trời tối hôm nay.”

A Thạch vừa nghe xong câu thông báo ngắn gọn đó liền mừng rỡ ôm chiếc bộ đàm chạy ù một mạch từ ngoài sân vào thẳng bàn làm việc ở gian cổng: “Hứa huynh ơi!”

Hứa An đang cúi đầu viết sổ liền dừng bút ngẩng lên hỏi: “Có chuyện gì mà chạy vội thế đệ?”

“Đội khảo sát đi núi phía bắc của nhà mình đang trên đường quay về rồi huynh ạ!”

Cậu quản sự trẻ tuổi nghe tin báo liền quay sang nhìn tấm bảng lịch công việc treo trên tường, cầm bút bi gạch một dấu xác nhận gọn gàng vào ô ngày thứ tám trên dòng của cả ba người.

Nam lúc đó đang đứng uống nước ở ngay gần cửa gian chính, nhìn thấy biểu cảm quá đỗi bình thản trên gương mặt của cậu em quản sự thì không khỏi ngạc nhiên hỏi: “Nghe tin mọi người đi rừng dài ngày trở về bình an mà trong bụng đệ không thấy vui mừng chút nào à?”

“Dạ có chứ huynh, trong bụng đệ tất nhiên là đang rất vui rồi ạ.”

“Miệng đệ bảo đang vui mà sao nhìn cái nét mặt điềm nhiên của đệ chẳng thấy có nét nào giống người đang vui thế?”

“Tại vì lúc này mọi người mới chỉ gọi bộ đàm báo tin từ ngoài đường về thôi, chứ đã thực sự bước chân về tới trong cổng viện của chúng ta đâu huynh.”

Nam đứng ngẫm nghĩ câu trả lời đó mất hai giây rồi cũng phải thầm công nhận trong bụng rằng cái kiểu suy nghĩ cẩn trọng tới tận phút chót ấy đúng là phong cách đặc trưng không lẫn vào đâu được của Hứa An.

Khoảng gần hai canh giờ đồng hồ sau đó, cả đoàn khảo sát bảy người mới thực sự đặt chân bước qua cánh cổng gỗ của viện Tây Sơn. Nhìn qua một lượt từ đầu tới chân, may mắn là không có bất kỳ thành viên nào trong đoàn gặp phải chấn thương đáng kể, chỉ có quần áo giày dép trên người ai nấy đều bám đầy bùn đất khô và gương mặt lộ rõ vẻ mệt mỏi sau tám ngày trời ăn sương ngủ gió. Số lương thực khô mang theo trong các túi vải đã được tiêu thụ gần như cạn sạch, và trong tổng số mười chín hộp thức ăn bằng sắt xuất kho mang đi thì lúc này chỉ còn dư lại đúng ba hộp nguyên vẹn được nộp trả về bàn cổng.

Nam cúi đầu nhìn ba chiếc hộp sắt đặt trên mặt bàn rồi nhẩm tính: “Tính ra chuyến này ở trên núi mọi người đã khui ăn hết mười sáu hộp tất cả cơ à?”

Soma vừa tháo chiếc ba lô nặng trịch khỏi vai vừa gật đầu đáp: “Ừ, dùng hết đúng mười sáu hộp đấy.”

“Ăn hết chừng đó cũng gọi là nhiều phết đấy chứ.”

“Thì tổng thời gian cả đi lẫn về của chuyến này kéo dài tới tận tám ngày đường trên núi cơ mà.”

“Ờ nhỉ, tính ra đi mất tám ngày thật.”

Mina từ trong nhà bước ra đón lấy các túi hành lý rỗng, cô quay sang hỏi thăm tình hình bảo quản lương thực dọc đường: “Thế còn mấy túi bánh nướng khô với gạo rang tôi đóng gói cho mọi người mang theo thì sao, còn dư lại chút nào không?”

Harpe vừa cởi dây buộc chiếc túi vải phụ bên hông ra vừa đưa cho cô quản gia xem thử mấy chiếc bánh nướng đã bị đè ép tới mức cong vênh cả hình dạng nhưng may mắn là bề mặt vẫn khô ráo chưa bị lên mốc: “Số bánh khô còn dư lại chừng này vẫn đủ để ăn thêm được một ngày đường nữa, chỉ có phần vải ở sát đáy túi hôm trước đi mưa bị ngấm hơi ẩm một chút nên lát nữa nhờ cô Mina kiểm tra lại giúp nhé.”

Khi mọi người ngồi quây quần quanh chiếc bàn rộng ở gian cổng để tổng kết chuyến đi, không một ai coi mấy hộp thức ăn tiện lợi kia là câu chuyện trung tâm của cuộc hành trình cả. Bởi những thứ mà đoàn khảo sát mang được về tới bàn làm việc của viện Tây Sơn rõ ràng có sức nặng quan trọng hơn gấp nhiều lần, đó là những tấm bản đồ địa hình đã được cập nhật chi tiết, cuốn sổ tay ghi chép đầy đủ thông số từng ngày của Harpe, ba khu vực thung lũng khác nhau cùng ghi nhận dấu vết động vật hoang dã dịch chuyển lùi xuống phía nam, một bãi săn mồi cổ xưa nay đã vắng bóng kẻ đi săn đứng đầu chuỗi thức ăn, cùng với hàng loạt tọa độ nghi vấn cần phải tiếp tục theo dõi thêm. Xuyên suốt toàn bộ dải hẻm núi vừa đi qua vẫn không phát hiện thấy bất kỳ dấu vết tàn phá vật lý quy mô lớn nào, và bản thân Tạ Vân cũng chưa tìm ra được một nguồn biến đổi linh khí ổn định nào đủ lớn để dùng làm lời giải thích chung cho toàn bộ hiện tượng di cư kia, vị trưởng lão của Lạc Hà tông chỉ cẩn thận đánh dấu lại một điểm dị thường nhỏ về mặt kết cấu địa chất ở đáy hẻm núi thứ hai để sau này cử người có chuyên môn sâu về trận văn địa mạch lên xem xét lại, chứ chưa vội vàng gán ghép nó vào câu chuyện bí ẩn ở phía bắc.

Sau khi tiếp nhận toàn bộ xấp hồ sơ báo cáo từ tay Harpe, công việc đầu tiên mà Hứa An thực hiện lại là việc kiểm tra kỹ tình trạng thể lực của từng người vừa trở về và điều chỉnh lại bảng lịch nghỉ ngơi, bởi cậu quản sự hiểu rất rõ rằng những con người vừa mới ròng rã trèo đèo lội suối suốt tám ngày trời kia suy cho cùng vẫn là những thành viên đang sống và làm việc lâu dài tại viện Tây Sơn.

Hứa An quay sang nhìn chiến binh áo đỏ dặn ngay câu đầu tiên: “Sáng ngày mai Zero đại ca nhớ sang bên gian xưởng để chị Ciel kiểm tra bảo trì lại toàn bộ cơ thể một lượt nhé.”

Zero khẽ gật đầu đồng tình ngay. Tiếp đó, Hứa An đưa ngón tay dò tới dòng lịch của Harpe vào chiều ngày hôm sau, nơi đang có ghi chú một buổi đi gặp khách hàng nhỏ ở trong thành, rồi cậu dứt khoát cầm bút gạch chéo một đường để hủy lịch: “Cái lịch hẹn nhỏ vào chiều mai của Harpe đại ca để đệ nhắn người dời sang tuần sau luôn nhé.”

Harpe đang uống chén trà nóng nghe vậy liền ngạc nhiên ngẩng đầu lên hỏi: “Vì sao lại phải dời cái lịch hẹn đó đi thế?”

“Thì đại ca vừa mới đi bộ ròng rã suốt tám ngày trời ở trên núi về tới nhà xong còn gì nữa.”

“Chuyến đi này đâu có giao chiến gì nặng nhọc đâu, sức khỏe của tôi hiện tại vẫn bình thường không sao cả mà.”

Hứa An không nói thêm lời nào mà chỉ lặng lẽ ngước đôi mắt điềm tĩnh nhìn thẳng vào vị cựu chỉ huy, trong khi ông chủ Lê Mai Nam cũng đang đứng khoanh tay ở ngay bên cạnh bàn nhìn sang với ánh mắt đồng tình. Trước sự quan tâm nghiêm túc không lời ấy của hai anh em quản lý viện, Harpe trầm ngâm mất vài giây rồi cuối cùng cũng phải mỉm cười gật đầu nhượng bộ: “Thôi được rồi, ngày mai tôi sẽ ở nhà nghỉ ngơi và chú ý giữ sức.”

Hai năm cầm sổ sắp xếp công việc đã giúp Hứa An biết rõ lúc nào một người vừa miệng nói không sao nhưng thực chất vẫn cần để trống hẳn nửa ngày nghỉ ngơi.

Đến khoảng cuối tuần lễ thứ ba của tháng giữa xuân, tấm bảng lịch trình công việc treo ở bức tường gian cổng đã được điền chữ gần như kín mít các dòng. Tất nhiên cũng chưa tới mức tất cả mọi ô vuông ngày tháng trên giấy đều bị gạch chéo không còn kẽ hở, nhưng chỉ cần một người khách từ ngoài cổng bước vào nhìn lướt qua tấm bảng đó là đủ để nhận ra ngay nhịp độ làm ăn của viện Tây Sơn ở năm thứ tư này đã khác hẳn so với hồi mới lập xưởng, trên bảng phân chia rành mạch đâu là lịch đi hộ tống đường dài, đâu là lịch chế tác sửa chữa trong gian xưởng, đâu là lịch đi khảo sát thực địa xa thành và đâu là lịch phân công người ở lại trông coi nhà cửa.

Thậm chí một số vị khách quen từng nhiều lần giao dịch với viện nay khi bước chân qua cổng cũng đã bắt đầu hình thành thói quen chủ động hỏi dò lịch trống trước khi mở lời đặt việc: “Này Hứa tiểu ca, sang tuần lễ tiếp theo thì vị kỵ sĩ Ronan của viện các ngươi có còn ngày nào để trống lịch không đấy?”

Hoặc có người lại hỏi thẳng vào nhân sự mình muốn tìm: “Không biết tầm hai ngày nữa thì cậu Soma có đang ở lại trong thành Thanh Hà hay là lại đi vắng rồi?”

Hay những vị khách cần tư vấn đường sá thì hỏi thăm: “Chừng nào thì vị Harpe tiên sinh kia mới đi công tác về tới viện thế?”

Trước tất cả những câu hỏi thăm dò chỉ đích danh từng cá nhân như vậy, nguyên tắc làm việc của Hứa An là không bao giờ vội vàng gật đầu hứa hẹn giao người theo tên gọi nếu như chưa hỏi rõ ràng nội dung công việc cụ thể mà vị khách đó đang cần giải quyết là gì.

Có một hôm, một vị thương nhân buôn lụa khá giàu có tìm tới bàn cổng và tuyên bố thẳng thừng ngay từ câu đầu tiên: “Chuyến hàng sắp tới của ta nhất định phải thuê cho bằng được đích thân vị kỵ sĩ Ronan đi hộ tống mới được.”

Hứa An không tỏ ra vội vã trước lời đề nghị hậu hĩnh đó, cậu mở sổ nháp ra rồi điềm đạm hỏi lại theo đúng trình tự: “Xin hỏi cụ thể công việc mà ngài đang muốn thuê người làm là việc gì ạ?”

“Thì là thuê người đi theo bảo vệ đoàn xe chở hàng của ta chứ còn việc gì nữa.”

“Đoàn xe đi chuyến này của ngài tổng cộng có bao nhiêu người và bao nhiêu cỗ xe tất cả ạ?”

“Chỉ có hai cỗ xe ngựa chở vải lụa đi cùng với bốn người phu xe của tiệm ta thôi.”

“Tuyến đường mà đoàn xe của ngài sắp đi qua có đoạn nào hiểm trở hay đang có tin đồn cướp bóc nguy hiểm gì không ạ?”

“Đó chỉ là tuyến đường quan đạo bằng phẳng nối sang huyện bên cạnh thôi, xưa nay vốn rất bình thường.”

Nghe xong toàn bộ thông số chuyến đi, Hứa An liền đặt bút xuống và trả lời rất thẳng thắn: “Nếu chỉ là áp tải hai xe hàng đi trên trục đường quan đạo an toàn như vậy thì thực sự chưa chắc đã cần phải huy động tới đích thân Ronan đại ca đi theo đâu ạ.”

Vị thương nhân buôn lụa nghe câu trả lời trái ý đó thì gương mặt lộ vẻ không hài lòng: “Chuyện có cần thiết hay không là do ta quyết định, miễn sao ta trả đủ số tiền công theo đúng mức giá thuê cậu ấy là được chứ gì.”

Hứa An vẫn giữ nguyên giọng điệu ôn tồn nhưng vô cùng kiên định: “Dạ mong ngài hiểu cho, cách sắp xếp nhân sự của viện chúng tôi là dựa theo tính chất thực tế của công việc chứ không phải chỉ tính bằng chuyện tiền công cao hay thấp ạ.”

Ngồi đọc sách ở phía bên trong khung cửa sổ nhà chính, Nam nghe thấy câu trả lời đanh thép ấy của cậu em quản sự thì khóe miệng bất giác cong lên muốn bật cười. Cậu em Hứa An của hắn đã nắm bắt được cái hồn cốt làm ăn của viện Tây Sơn chuẩn xác tới từng chân tơ kẽ tóc. Giả sử như đúng vào những ngày đó Ronan đang phải đảm nhận một chuyến hộ tống đi qua vùng đèo dốc thực sự nguy hiểm đến tính mạng con người, thì viện Tây Sơn đời nào lại đi rút anh về chỉ vì ở trong thành có một ông chủ giàu có thích bỏ thêm tiền bạc ra để mua cái danh tiếng của chàng kỵ sĩ về đi dạo mát cùng hai xe vải lụa trên đường cái quan. Chuyện khách hàng cũ truyền tai nhau giới thiệu khách hàng mới tìm tới cửa đã bắt đầu làm nảy sinh hiện tượng người ngoài chỉ thích gọi đích danh từng ngôi sao nổi tiếng của viện. Hiện tượng đó xét về mặt doanh thu thì vừa là tín hiệu tốt, nhưng xét về mặt vận hành lâu dài thì lại kéo theo không ít phiền toái đau đầu, bởi viện Tây Sơn bắt buộc phải học cách cung cấp năng lực giải quyết vấn đề cho khách hàng mà không được phép biến từng thành viên trong gia đình mình thành những món hàng trưng bày có gắn sẵn bảng giá thuê đắt rẻ cứng nhắc. Thực lòng mà nói thì ở thời điểm hiện tại, cả bản thân Nam lẫn Hứa An đều vẫn chưa tìm ra được một công thức hoàn chỉnh tuyệt đối cho bài toán khó nhằn đó, mà hai anh em mới chỉ tạm thời thống nhất với nhau một nguyên tắc căn bản nhất: công việc có độ khó cỡ nào thì cử người có năng lực phù hợp cỡ đó đi làm, chứ không bao giờ phân bổ người theo cái túi tiền to nhất của người thuê. Và đối với quy mô của viện Tây Sơn lúc này, chỉ một nguyên tắc ngắn gọn ấy thôi đã là quá đủ để giữ vững trật tự rồi.

Vào một buổi chiều gần cuối tháng, vị quản sự phụ trách đoàn thương đội từng được cứu thoát khỏi vụ sạt lở đất đá hồi mùa thu năm ngoái bất ngờ ghé thăm lại viện Tây Sơn. Ông ta tiện đường đi ngang qua thành Thanh Hà nên ghé vào uống chén trà nóng và biếu mọi người ít đặc sản vùng cao.

Trong lúc ngồi trò chuyện ở bàn tiếp khách, vị quản sự thương đội đưa mắt nhìn lên tấm bảng lịch công việc khổ lớn treo trên bức tường gỗ rồi mỉm cười hỏi: “Xem chừng quy củ làm ăn ở viện Tây Sơn bây giờ đã khác xưa nhiều rồi nhỉ, khách khứa muốn nhờ vả việc gì chắc là đều phải tới đăng ký đặt lịch trước cả tuần lễ phải không?”

Hứa An vừa rót thêm nước trà nóng vào chén cho khách vừa lễ phép đáp: “Dạ, nếu vị khách nào muốn giữ chắc chắn một ngày xuất phát cố định trong tháng thì đúng là nên nhắn báo trước để bên đệ xếp lịch ạ.”

“Ta nhớ hồi năm ngoái mỗi lần đoàn xe của bọn ta có việc đột xuất chạy tới cổng hỏi thăm là trong viện các ngươi lúc nào cũng có sẵn người xách kiếm đi cùng được ngay cơ mà.”

“Dạ, tại hồi năm ngoái số lượng đầu việc mà viện chúng tôi nhận làm còn ít hơn bây giờ nhiều lắm ạ.”

Vị khách quen nghe câu trả lời thật thà đó thì bật cười sảng khoái: “Nói như vậy có nghĩa là công việc làm ăn của viện Tây Sơn năm nay đang ngày càng phát đạt thịnh vượng lên rồi đấy.”

Nam đang ngồi vắt chân trên chiếc ghế mây ở ngay gần đó liền chêm vào một câu cảm thán từ tận đáy lòng: “Làm ăn đông khách lên thì có, nhưng mà kéo theo đó là đủ thứ chuyện phiền phức đau đầu hơn hồi xưa nhiều lắm ông ạ.”

Vị quản sự thương đội quay sang nhìn ông chủ trẻ tuổi của viện Tây Sơn với ánh mắt hết sức kỳ lạ: “Trên đời này ta đi buôn mấy chục năm trời mới thấy có một người mở cửa làm ăn mà thấy khách khứa kéo tới đông đúc lại ngồi than phiền như chưởng quầy đấy nhé.”

“Thì cứ mỗi lần có khách bước chân vào cổng đặt việc là người trong nhà tôi lại phải vất vả xách đồ đi làm chứ có được ngồi không đâu.”

“Ủa, thế chẳng lẽ bản thân Nam chưởng quầy lại là bậc thanh cao tới mức không thích thu nhiều tiền bạc vào túi à?”

“Tiền bạc chảy vào két thì tất nhiên là tôi phải thích lắm rồi.”

“Đã thích thu nhiều tiền thế sao có nhiều việc làm ra tiền lại còn ngồi kêu ca?”

“Thì cái chuyện trong bụng thích có nhiều tiền với cái chuyện bản thân không thích phải làm nhiều việc vốn dĩ là hai chuyện khác hẳn với nhau chứ có ăn nhập gì đâu.”

Nghe câu triết lý lười biếng vô tiền khoáng hậu đó, vị khách quen chỉ còn biết ngửa cổ lên trời mà bật cười ha hả: “Cái tính nết này của Nam chưởng quầy nhà các ngươi đúng thực là...”

Ông ta cười tới mức nhất thời chẳng tìm ra được từ ngữ nào trong từ điển giao tiếp để hình dung cho chuẩn xác. Đúng lúc ấy, Mina đang bê một chiếc rổ tre đi ngang qua hiên nhà liền thản nhiên nhắc bài hộ vị khách đúng hai chữ ngắn gọn: “Đồ lười.”

Vị quản sự thương đội vỗ đùi cái đét rồi gật đầu lia lịa: “Đúng, chuẩn xác là hai chữ đó đấy cô nương!”

Nam ngồi trên ghế mây quay đầu nhìn lướt qua cả hai người họ một lượt rồi mới bất lực lên tiếng: “Ông mới chỉ ghé qua cổng nhà tôi ngồi uống có một chén trà thôi mà đã học được thói hùa theo bà ấy để nói xấu chủ nhà nhanh thế rồi à?”

Tất nhiên là chẳng có ai ở đó buồn bận tâm tới lời kháng nghị yếu ớt của ông chủ xưởng cả. Sau màn trò chuyện vui vẻ ấy, trước lúc đứng dậy cáo từ, vị quản sự thương đội mới sực nhớ ra và nhắn lại rằng ông ta có một người bạn đồng nghiệp đang cần tìm người có kinh nghiệm đi khảo sát mở một tuyến đường vận chuyển hàng hóa mới vào tháng sau. Vì đây không phải là công việc gấp gáp gì, Hứa An liền thong thả mở sổ nháp ra hỏi kỹ từng thông tin cơ bản từ khoảng thời gian dự kiến, khu vực địa lý, số lượng người đi cùng cho tới mục đích cuối cùng của chuyến đi, nhằm phân định rõ xem mối việc này thực chất cần cử cao thủ võ lực đi bảo vệ an toàn hay chỉ cần cử người thông thuộc địa hình đi đo vẽ đường sá là đủ. Vị khách quen sau khi cung cấp hết thông tin liền vui vẻ nhận lấy một mảnh giấy hẹn có ghi rõ ngày giờ quay lại bàn bạc cụ thể, cẩn thận gấp gọn bỏ vào túi áo ngực rồi mới chắp tay rời đi. Ở lại bàn cổng, Hứa An lấy chiếc khăn vải ẩm lau sạch một vệt nước trà vừa bị sánh ra trên mép cuốn sổ cái trước khi tiếp tục cầm bút bi ghi tên vị khách tiếp theo vào danh sách. Nam ngồi bên cạnh liếc mắt nhìn lướt qua tấm bảng lịch trên tường, bất giác nhận ra trên dòng lịch công việc của kỵ sĩ Ronan trong tháng này hiện chỉ còn trơ lại đúng hai ô vuông nhỏ là đang để trống.

Vào đầu một buổi sáng tiếp khách khác trong tuần, có một vị thương nhân từng được người của viện Tây Sơn cứu thoát khỏi dòng nước lũ hồi năm ngoái đã đích thân dẫn theo một ông chủ kho hàng cỡ nhỏ ở ngoại thành tìm tới tận bàn cổng để hỏi xem bên viện có nhận lời đi kiểm tra độ an toàn của một tuyến đường xe thồ giúp họ hay không. Vị chủ kho hàng mới tới này vì trước đó đã được nghe người bạn thương nhân kể lại đủ thứ chuyện thần kỳ về bản lĩnh của bộ ba Ronan, Soma và Zero, thành thử vừa mới ngồi xuống ghế ông ta đã hồn nhiên đinh ninh rằng chỉ cần mình chịu chi tiền thuê là sẽ có được cả ba vị cao thủ lừng danh đó cùng lúc đi kèm cỗ xe của mình.

Hứa An ngồi nghe vị khách mới trình bày nguyện vọng mà không ngắt lời giữa chừng, cậu kiên nhẫn đợi cho đối phương nói rõ toàn bộ nhu cầu thực tế của chuyến hàng xong xuôi rồi mới từ tốn lật tấm bảng lịch công việc trên bàn ra giải thích: “Theo như những gì ngài vừa mô tả, công việc thực tế mà bên kho hàng của ngài đang cần giải quyết lúc này là cử người đi kiểm tra lại nền đất của đoạn đường đê chạy qua bến phà, đồng thời đánh giá xem kết cấu mặt đường sau đợt mưa xuân vừa rồi có đủ độ cứng để cho xe ngựa chở hàng nặng đi qua mà không bị sụt lún bánh hay không. Tính chất công việc khảo sát mặt đường như vậy không cần phải huy động tới một đội hình chuyên chiến đấu đi theo làm gì cho tốn kém ạ.”

Vị chủ kho hàng nghe lời phân tích thẳng thắn và tiết kiệm chi phí cho khách ấy thì gương mặt thoáng chút ngượng ngùng, ông ta thật thà thú nhận rằng từ trước tới nay tiệm của mình chưa từng đi thuê dịch vụ khảo sát đường sá chuyên nghiệp kiểu này bao giờ nên cứ tưởng phải thuê người mạnh nhất mới yên tâm. Đứng ở ngay bên cạnh bàn cổng lúc đó, cậu nhóc A Thạch sau khi nghe rõ tọa độ đoạn đường đê liền chủ động đề xuất phương án rằng cậu sẽ đi khảo sát tuyến đường đó cùng với một bác phu xe lâu năm ở địa phương vốn đã thuộc nằm lòng từng ổ gà trên đoạn bến phà kia, và tiền công lao động của mỗi người sẽ được tách bạch ghi rõ thành hai khoản riêng biệt.

Khi vị chủ kho hàng cẩn thận hỏi thêm một câu rằng liệu sau khi viện Tây Sơn đã cử người đi khảo sát xong thì có đứng ra ký giấy cam đoan bảo đảm toàn bộ các chuyến xe chở hàng của ông ta đi qua con đường đó từ nay về sau sẽ không bao giờ bị thất thoát hay gặp sự cố gì nữa không, Hứa An đã ôn tồn lắc đầu trả lời ngay rằng trên đời này không một ai có thể đứng ra viết giấy cam đoan thay cho sự thất thường của thời tiết mưa nắng, tay nghề điều khiển ngựa của người đánh xe cũng như muôn vàn tình huống bất ngờ có thể phát sinh dọc đường. Trách nhiệm mà viện Tây Sơn có thể cam kết gánh vác luôn gói gọn trong đúng phạm vi dữ liệu thực tế đã được khảo sát vào thời điểm kiểm tra và những điều khoản cụ thể được hai bên viết rõ trên mặt giấy hợp đồng.

Vị thương nhân quen đứng ở giữa nghe tới đó bèn mỉm cười lên tiếng giải thích giúp cho người bạn của mình hiểu rõ hơn: ông ta giới thiệu bạn mình tới Tây Sơn vì người ở đây luôn chịu khó nghe kỹ hoàn cảnh thực tế của từng đoàn xe để tư vấn đúng việc. Nghe lời giải thích chí tình ấy, vị chủ kho hàng thông suốt mọi chuyện và vui vẻ gật đầu ký giấy thuê một buổi đi khảo sát thực địa đúng theo phạm vi mà Hứa An vừa tư vấn. Đến ngày cuối tuần, sau khi hoàn thành công việc trở về, A Thạch không chỉ nộp lại cho bàn cổng một bản ghi chép chi tiết về độ lún của đoạn đường bến phà mà còn mang về thêm cả một lời giới thiệu khách hàng mới từ chính ông chủ kho kia, có điều Hứa An chỉ điềm tĩnh kẹp mảnh giấy giới thiệu đó vào ô chờ rà soát lịch trống của tháng sau, chứ không vì ham làm đẹp con số doanh thu trên sổ cái mà vội vàng gật đầu nhận bừa khi chưa xếp được người.

Một cuộc thảo luận nhỏ nhưng thú vị khác cũng đã diễn ra ngay tại bàn cổng vào hôm Lương đại phu cử người sang hỏi thăm xem liệu viện Tây Sơn có thể thu xếp cử một nhân sự chạy chân nhanh mang giúp một hộp vật tư sơ cứu khẩn cấp ra giao cho một đoàn xe chở hàng đang chuẩn bị nhổ neo rời khỏi cổng thành hay không. Đúng vào giờ khắc đó, cô bé Shiroma đang bận xử lý một mẻ thuốc sấy ở sân sau và theo nguyên tắc cô bé cũng không tự mình nhận ca đi chữa trị lưu động cho người ngoài, bản thân Lương đại phu khi gửi lời nhắn sang cũng chỉ nhờ chuyển đồ chứ không có ý định điều động cô học trò nhỏ. Cậu nhóc A Thạch chạy lại nhìn lên tấm bảng lịch công việc trên tường, nhưng rồi phải nhăn mặt nhận ra khung giờ chạy đi giao hộp thuốc ngoài cổng thành lại trùng khít với một mối việc chạy tin có nhận tiền công mà cậu đã chốt hẹn từ hôm trước.

Không mất quá nhiều thời gian đắn đo, Hứa An đề xuất phương án bước ra đầu phố thuê ngay một anh phu chạy chân chuyên nhận giao hàng vặt ở địa phương mà viện vẫn hay hợp tác, trả đủ tiền cước phí chạy đường theo giá thị trường và ghi rõ tên tuổi người nhận hàng vào tờ phiếu giao nhận. Phía bên Lương đại phu khi nghe báo lại phương án đó cũng gật đầu đồng ý ngay, bởi mục tiêu quan trọng nhất của y quán lúc này là chuyển được hộp vật tư băng bó tới tận tay đoàn xe đúng trước giờ xuất phát chứ đâu phải là cuộc thi xem nhân sự của nhà ai chạy bộ nhanh hơn. Trước khi anh phu giao hàng địa phương ôm chiếc hộp gỗ chạy đi, anh ta còn cẩn thận hỏi lại Hứa An rằng nhỡ như lúc mang đồ tới nơi mà bên đoàn xe báo là đang có người bị thương nặng sẵn rồi thì anh ta phải xử lý thế nào. Hứa An chỉ rõ địa chỉ liên hệ nhanh nhất của Lương y quán được ghi sẵn trên mặt phiếu, đồng thời dặn kỹ anh phu giao hàng rằng nếu gặp người bị thương thì chỉ việc chạy về báo rõ mức độ nguy cấp cho thầy thuốc biết, không được tự ý cạy nắp bộ sơ cứu ra rồi táy máy băng bó chữa trị thay cho đại phu.

Đến khoảng quá trưa hôm ấy, anh phu giao hàng đã hoàn thành nhiệm vụ quay trở lại bàn cổng, nộp lại tờ biên nhận có đóng dấu điểm chỉ của người nhận hàng và vui vẻ nhận đủ số tiền công chạy việc của mình. Phía Lương đại phu sau đó cũng gửi lời cảm ơn sang viện, còn Hứa An thì cẩn thận ghi chú khoản chi này vào sổ dưới danh mục phối hợp vận chuyển vật tư y tế, phân định rạch ròi rằng đây chỉ là một lần hỗ trợ giao nhận hàng hóa chứ viện Tây Sơn không mở thêm dịch vụ nhận khám chữa bệnh dạo ngoài thành. Nam ngồi trên ghế mây nghe thuật lại cách giải quyết gọn gàng đó của cậu quản sự thì tỏ ra vô cùng tâm đắc, một việc làm có ích cho người khác đã được hoàn thành trọn vẹn bằng cách trả tiền công xứng đáng cho đúng người có chuyên môn chạy việc, không cần phải bắt ép bất kỳ thành viên nào trong viện phải bỏ dở công việc riêng của mình để chạy đi làm thay.

Đến buổi chiều ngày áp chót của tháng, Hứa An bắt đầu ngồi cộng sổ tổng kết hoạt động của cả viện. Thứ được cậu quản sự đưa ra rà soát trước tiên trong buổi chiều nay là tấm bảng lịch trình công việc của tháng thứ ba mươi tám.

Hứa An cầm tấm bảng lịch cùng cuốn sổ theo dõi bước tới đặt lên chiếc bàn nhỏ trước mặt Nam. Ông chủ xưởng cúi đầu nhìn tờ giấy lớn chi chít những đường gạch ngang và ký hiệu mực đỏ mực đen rồi ngước lên hỏi: “Có chuyện gì cần báo cáo thế đệ?”

“Dạ, tính tổng cộng trong suốt tháng vừa rồi bàn cổng của viện mình đã chủ động từ chối cả thảy ba mối công việc khách tìm tới thuê ạ.”

Nam hơi nhướng mày hỏi lại: “Lý do từ chối cả ba vụ đó là vì việc khó quá sức người của viện mình không làm nổi à?”

“Dạ không phải vì khó ạ. Trong đó có hai mối việc phải từ chối là vì khách yêu cầu đi gấp vào đúng những ngày nhân sự của viện mình đã kín sạch lịch, còn một mối việc thứ ba đệ từ chối thẳng là vì tính chất công việc đó không đáng để viện mình nhận làm.”

“Mối việc thứ ba đó cụ thể là người ta thuê làm cái trò gì mà đệ bảo không đáng nhận?”

“Dạ, có một ông chủ tiệm cầm đồ ở phố nam tìm tới cổng hỏi thuê đích danh Zero đại ca sang đứng gác cổng kho hàng cho ông ta suốt ba đêm liền, lý do ông ta đưa ra là vì nghe đồn ở ngoài phố rằng vị tráng sĩ áo đỏ của Tây Sơn ban đêm không cần phải ngủ.”

Nam nghe xong câu chuyện đó thì ngồi im thin thít mất đúng ba giây, đoạn mới gật đầu phán một câu dứt khoát: “Vụ đó đệ thẳng tay từ chối là đúng đấy.”

Hứa An gật đầu ghi nhận rồi tiếp tục đọc báo cáo thống kê từng người trên bảng: “Tính riêng trong tháng này, Ronan đại ca đã hoàn thành trọn vẹn hai chuyến hộ tống đường dài.”

“Ừ.”

“Soma đại ca cũng giải quyết xong hai mối việc ở phía đông và phía nam, chưa tính chuyến đi núi.”

“Ừm.”

“Zero đại ca ngoài chuyến đi khảo sát phía bắc tám ngày thì có thêm một buổi đi hỗ trợ thử nguồn năng lượng ở xưởng ngoài.”

“Ồ.”

“Harpe đại ca ngoài chuyến đi núi phía bắc cũng đã hoàn thành một buổi tư vấn lộ trình riêng cho khách.”

“Hừm.”

“Còn về phần đệ tử A Thạch thì trong tháng vừa rồi cậu nhóc đã chạy tổng cộng mười một chuyến việc lớn nhỏ cả trong lẫn ngoài thành.”

Nghe tới con số mười một chuyến của cậu nhóc chạy việc, ngón tay đang gõ nhẹ trên thành ghế của Nam dừng lại: “Đệ vừa nói bao nhiêu cơ, một tháng mà thằng nhóc chạy tới mười một chuyến việc á?”

“Dạ, tất nhiên trong số mười một chuyến đó cũng có gộp cả mấy chuyến chỉ chạy đưa tin ngắn ở quanh vùng ngoại ô thôi ạ.”

“Dù có tính cả chuyến ngắn vào đi chăng nữa thì một tháng chạy mười một đầu việc vẫn là nhiều quá mức rồi.”

Hứa An gật đầu đồng tình với nhận xét của ông chủ: “Dạ vâng, vậy nên sang lịch phân công của tháng sau đệ đã tính phương án cắt giảm bớt số chuyến của cậu ấy xuống rồi ạ.”

Nam ngước mắt nhìn cậu em quản sự với vẻ hài lòng: “Chuyện cắt giảm lịch cho A Thạch là tự bản thân đệ nhìn bảng tổng kết rồi nhận ra đấy à?”

“Dạ vâng, lúc cộng dồn các gạch đầu dòng lại nhìn thấy con số mười một là đệ tự thấy nhiều rồi ạ.”

Nam cúi đầu nhìn kỹ lại mười một vạch mực đen nằm san sát nhau trong dòng ô của A Thạch trên mặt giấy, đoạn ngước mắt nhìn xuyên qua khung cửa ra ngoài khoảng sân gạch trước nhà. Ở ngoài góc hiên lúc này, cậu nhóc A Thạch đang ngồi cúi đầu dùng kim chỉ khâu gia cố lại phần quai đeo đã sờn vải của chiếc túi chạy tin quen thuộc, cứ khâu được vài mũi là bàn tay cậu nhóc lại phải đưa lên dụi nhẹ hai mí mắt vì dư âm của chuyến đi về muộn tối hôm qua.

Nam thu ánh mắt về, dùng đầu ngón tay gõ nhẹ lên một cột ô vuông còn đang để trống vào dịp cuối tuần trên bảng lịch mới: “Sang tháng tới đệ nhớ chừa riêng ra cho thằng nhóc đó thêm một ngày nghỉ ngơi cố định trong tuần nhé.”

Hứa An cúi nhìn theo ngón tay của ông chủ rồi hỏi: “Vậy đệ đánh dấu ngày nghỉ cố định của A Thạch vào thứ mấy trong tuần được hả huynh?”

“Cứ gọi thằng nhóc vào rồi bảo chính miệng nó tự chọn lấy ngày nào nó thích nghỉ thì đánh dấu ngày đó.”

“Dạ được ạ.”

“Nhớ là để tự bản thân nó chọn ngày nghỉ đấy nhé, đệ đừng có cầm bút ấn định chọn hộ nó.”

“Dạ đệ nhớ rồi mà huynh.”

Nam lúc này mới yên tâm ngả lưng tựa vào thành ghế mây rồi hỏi tiếp: “Ngoài dòng của A Thạch ra thì trên bảng còn vấn đề của ai nữa không?”

“Dạ ở dòng dưới có lịch của Ciel tỷ, tháng vừa rồi chị ấy có tới ba buổi hẹn đi làm việc ở các xưởng bên ngoài viện Tây Sơn.”

“Một tháng đi ngoài ba buổi như thế đối với bà ấy có bị nhiều quá không?”

“Dạ cả ba lịch hẹn đó đều là do chính miệng Ciel tỷ cảm thấy hứng thú với đề tài kỹ thuật nên tự gật đầu nhận lời đấy ạ.”

Nam đưa mắt nhìn về phía gian xưởng kỹ thuật ở sân sau rồi mới nói: “Thôi được rồi, chuyện lịch làm việc của bà Ciel thì để lát nữa huynh tự đi sang xưởng nói chuyện riêng với bà ấy.”

Hứa An gật đầu ghi chú vào sổ rồi điểm tới cái tên tiếp theo: “Thế còn lịch của Shiroma muội muội vào tháng tới thì sao ạ?”

“Cứ giữ nguyên định mức mỗi tuần lễ sang Lương y quán phụ việc hai ngày cố định như cũ là vừa đẹp, tất nhiên là không tính những trường hợp có ca cấp cứu khẩn cấp bất ngờ.”

“Dạ, vậy đệ cứ giữ nguyên lịch của Shiroma muội muội như vậy.”

“Thế còn lịch nhận việc của Ronan vào tháng sau?”

“Cường độ làm việc của Ronan đại ca thì cứ để tự anh ấy cân nhắc theo sức mình là ổn nhất ạ.”

“Còn phần của cậu Harpe?”

“Harpe đại ca cũng giống như thiếu gia của anh ấy thôi, tự anh ấy biết cách sắp xếp rất chuẩn rồi ạ.”

Hứa An vừa nghe vừa nắn nót viết các nguyên tắc phân bổ của tháng mới vào lề sổ. Nam ngồi nhìn bàn tay cầm bút thoăn thoắt của cậu em quản sự, bất giác buột miệng nói một câu nửa đùa nửa thật: “Nhìn cách đệ ngồi phân tích từng dòng thế này, huynh thấy đệ đang chuyển sang lập lịch quản lý con người luôn rồi chứ chẳng phải chỉ lập lịch công việc nữa đâu.”

Hứa An dừng bút ngước lên giải thích ngay: “Đệ kẻ bảng ghi rõ ra thế này chỉ cốt để các đầu việc trong viện không bị chồng chéo đè bẹp lên nhau thôi mà huynh.”

“Thì huynh biết mục đích của đệ rồi.”

“Bản thân đệ lúc viết lịch cũng chỉ đứng ở góc độ sắp xếp thông tin thôi, chứ không bao giờ tự ý đứng ra quyết định hộ phần việc của mọi người đâu ạ.”

Nam nghe câu khẳng định chắc chắn đó của Hứa An thì khẽ gật đầu hài lòng. Câu nói ngắn gọn vừa rồi của cậu em quản sự thực sự rất quan trọng đối với bầu không khí sống chung của cả cái viện này. Tấm bảng lịch trình treo ở gian cổng chỉ là công cụ hỗ trợ để tránh chồng việc, không ai trong viện muốn vì chuyện làm ăn khấm khá lên mà đóng khung từng người vào những ô giờ cứng nhắc. Và nhìn cách xử lý tinh tế của Hứa An, Nam biết cậu em quản sự của mình đã thấu hiểu nguyên tắc đó hơn ai hết.

Cũng vào những ngày cuối cùng của tháng thứ ba mươi tám ấy, bản báo cáo tổng hợp về chuyến khảo sát vùng núi phía bắc đã được Harpe cùng với trưởng lão Tạ Vân chính thức hoàn thiện xong trên bàn làm việc. Tất nhiên trong bản báo cáo lần này vẫn chưa thể đưa ra được một lời giải đáp cuối cùng cho toàn bộ bí ẩn, thế nhưng bức tranh tổng thể về chuỗi hiện tượng đã hiện lên với những đường nét rõ ràng và có sức nặng hơn trước rất nhiều.

Trên tấm bản đồ khu vực, Harpe đã cẩn thận sắp xếp và đánh số thứ tự toàn bộ các sự kiện bất thường theo đúng trục thời gian phát sinh từ mùa thu năm ngoái cho tới tận giữa mùa xuân năm nay, khởi đầu là vụ con yêu thú Thiết Bối Hùng rời bỏ lãnh địa cũ, tiếp đến là sự hình thành của một dải rừng rộng lớn vắng bóng động vật, rồi tới cái hang lớn bị cả bầy lang thú mang theo con non vội vã bỏ trống, hàng loạt luồng dấu chân của nhiều loài thú ăn cỏ đồng loạt dịch chuyển lùi về phía nam, và mới đây nhất là việc phát hiện ra cả một bãi săn mồi cổ xưa cũng đã bị chính kẻ đi săn đứng đầu chuỗi thức ăn bỏ lại phía sau. Toàn bộ những hiện tượng rời bỏ lãnh địa đó tuy không diễn ra vào cùng một ngày và cũng không tập trung tại duy nhất một hẻm núi, nhưng khi đặt cạnh nhau trên bản đồ thì chúng lại chỉ rõ ra một xu hướng vận động không thể chối cãi: mật độ sinh sống của cả các loài thú lớn lẫn thú nhỏ đều đang suy giảm nhanh chóng dọc theo một dải địa hình kéo dài ở phía bắc, trong khi tại hiện trường lại không tìm thấy dấu vết của các cuộc săn giết hay tàn phá vật lý tương ứng.

Tạ Vân đứng bên bàn bản đồ, đưa ngón tay chỉ vượt qua ranh giới phía trên cùng của tờ giấy vẽ rồi trầm giọng nói: “Với phạm vi dịch chuyển rộng như thế này, bước khảo sát tiếp theo bắt buộc phải mở rộng ra bên ngoài địa giới quản lý của thành Thanh Hà mới tìm được điểm khởi nguồn.”

Nam ngồi trên ghế mây nghe vậy liền ngước lên hỏi ngay: “Mở rộng ra ngoài địa giới Thanh Hà là cụ thể phải đi xa thêm khoảng bao nhiêu dặm đường nữa?”

“Hiện tại khi chưa đối chiếu với bản đồ vùng biên của tông môn thì ta cũng chưa thể nói trước được con số chính xác.”

“Thế ở các vùng lãnh thổ nằm ngoài địa giới Thanh Hà đó bên phía Lạc Hà tông của cô có sẵn nhân sự đóng chốt để đi kiểm tra không?”

“Tất nhiên là trong tông môn có sẵn các đội chấp sự phụ trách những vùng đó rồi.”

Nghe câu xác nhận ấy, Nam chốt luôn phân công trách nhiệm mà không cần đắn đo: “Nếu bên quý tông đã có sẵn người ở ngoài đó rồi thì phần lớn công việc khảo sát mở rộng sắp tới cứ để cho nhân sự của Lạc Hà tông tự đảm nhận đi.”

Tạ Vân hơi quay đầu lại nhìn thẳng vào mặt ông chủ xưởng Tây Sơn. Nam vẫn giữ nguyên vẻ mặt điềm nhiên nói tiếp: “Về phía viện Tây Sơn chúng tôi, những hạng mục công việc nào nằm trong phạm vi năng lực phù hợp và thu xếp được lịch trình thì chúng tôi vẫn sẵn sàng cử người đi hỗ trợ như cũ. Có điều viện chúng tôi chỉ là một cơ sở nhỏ ở địa phương, chắc chắn là không thể đứng ra nhận thầu quản lý toàn bộ vùng rừng núi phía bắc mênh mông kia được đâu.”

Nghe lời phân định ranh giới thẳng thắn và thực tế đó của Nam, Tạ Vân liền khẽ gật đầu đồng tình ngay: “Bản thân ta khi mang bản đồ sang đây bàn bạc cũng chẳng hề có ý định biến viện Tây Sơn của các ngươi thành một đội tuần tra biên giới của Lạc Hà tông đâu mà lo.”

Câu trả lời sòng phẳng của vị trưởng lão khiến Nam cảm thấy nhẹ nhõm hẳn đi trong lòng. Thế nhưng ngay lúc đó, Harpe đang đứng xếp lại các tập hồ sơ ghi chép bên cạnh bàn lại bất chợt lên tiếng bổ sung: “Tuy phạm vi chung sẽ giao lại cho bên Lạc Hà tông mở rộng rà soát, nhưng ở quanh khu vực hẻm núi thứ hai vừa rồi vẫn còn một vài điểm nghi vấn nhỏ mà cá nhân tôi muốn tự mình quay lại kiểm tra thêm vào lúc thích hợp.”

Nam quay sang nhìn vị cựu chỉ huy của mình rồi hỏi: “Chuyện cậu muốn tự đi kiểm tra lại mấy điểm đó là tính vào lịch công việc chung của viện hay là việc tìm hiểu cá nhân?”

“Cứ coi là phần việc nghiên cứu tiếp nối đi, nhưng chắc chắn là tôi chưa đi ngay vào tháng sau đâu.”

“Nếu không gấp gáp phải đi ngay trong tháng tới thì cứ để thong thả rồi tính.”

Cách quản lý của Nam đối với những người đồng đội trong nhà xưa nay vẫn luôn đơn giản như vậy, hắn không bao giờ ra lệnh cấm đoán sự chủ động của họ, mà cũng chẳng bao giờ đứng sau lưng thúc ép họ phải lao đi, cứ để cho dữ liệu thực tế dẫn tới đâu thì bước chân của họ tự khắc đi tới đó.

Vào buổi chiều ngày cuối cùng của tháng thứ ba mươi tám, Hứa An đứng bên bức tường gỗ ở gian cổng để tháo tấm bảng lịch công việc cũ xuống và thay thế bằng một tờ lịch mới. Cậu không vứt tờ lịch cũ đã kín chữ mà gấp lại ngay ngắn theo từng nếp, dùng bút bi ghi rõ dòng chữ tháng thứ ba mươi tám ở góc trên bên phải rồi đem cất chung vào trong ngăn tủ lưu trữ cùng với các cuốn sổ cái.

Nam đứng uống trà ở gần đó nhìn thấy thao tác cất giữ tỉ mỉ ấy liền tò mò hỏi: “Đến cả cái tờ giấy ghi lịch làm việc đã qua rồi mà đệ cũng phải gấp gọn đem cất vào tủ khóa kỹ thế cơ à?”

“Dạ phải giữ lại chứ huynh, lưu trữ thế này để sau này nhìn lại còn biết chính xác trong năm có những tháng nào viện mình bận rộn nhất và tháng nào vắng khách.”

“Biết được tháng nào bận tháng nào rảnh để làm cái gì mới được chứ?”

“Dạ cứ lưu lại đó để dành cho công việc tính toán sau này thôi ạ.”

Nam nghe câu trả lời ngắn gọn ấy thì chỉ biết ngả lưng tựa hẳn vào thành ghế mây mà chép miệng cảm thán: “Trong cái viện này thì câu trả lời để dành cho sau này của đệ chính là câu nói mang tính dự báo nguy hiểm nhất đối với sự nhàn nhã của huynh đấy.”

Hứa An mỉm cười không đáp, cậu dùng đinh ghim cố định tờ giấy lịch mới tinh còn thơm mùi mực lên mặt tường gỗ. Trên tấm bảng lịch của tháng mới lúc này mới chỉ lác đác vài dấu ký hiệu được điền sẵn từ trước, dòng của Ronan đã có một chuyến hộ tống đặt lịch vào đầu tuần, dòng của Ciel có một buổi hẹn kiểm tra thiết bị, dòng của Shiroma vẫn giữ nguyên hai ngày cố định mỗi tuần ở Lương y quán, dòng của Harpe có một vị khách quen đang chờ anh xác nhận lịch tư vấn, còn riêng dòng của cậu nhóc A Thạch ở phía dưới thì hiện tại vẫn đang để trắng tinh chưa điền bất kỳ đầu việc cố định nào.

Nam đưa mắt nhìn vào dòng kẻ trống trơn mang tên A Thạch rồi nhắc nhẹ một câu: “Đệ nhớ bảo thằng nhóc điền cái ngày nghỉ cố định của nó vào đấy nhé.”

“Dạ đệ nhớ rồi huynh.”

Đúng lúc đó cậu nhóc A Thạch cũng vừa mới ôm một bó củi khô từ ngoài sân bước chân qua cửa gian cổng, nghe loáng thoáng thấy hai chữ ngày nghỉ liền ngơ ngác dừng bước hỏi: “Ủa, Nam ca với Hứa huynh đang nói chuyện ngày nghỉ lễ gì ở trong tháng mới thế ạ?”

Nam quay đầu sang nhìn thằng nhóc rồi thông báo luôn: “Bắt đầu từ tháng sau trở đi, mỗi tuần lễ đệ được phép tự chọn ra thêm một ngày cố định không phải chạy việc để ở nhà nghỉ ngơi.”

A Thạch nghe xong câu thông báo bất ngờ đó thì trố mắt đứng ngơ ra giữa cửa: “Ơ kìa, tại sao tự dưng ca lại bắt đệ phải nghỉ làm thêm một ngày mỗi tuần thế ạ?”

“Tại vì tính tổng kết trong suốt tháng vừa rồi một mình đệ đã chạy ngoài đường tới tận mười hai chuyến việc tất cả rồi đấy.”

“Chạy có mười hai chuyến trong cả một tháng dài thì đâu có nhiều nhặn gì đâu ca.”

Hứa An đang đứng bên cạnh bàn quay sang chốt gọn đúng một chữ: “Nhiều.”

A Thạch vội vàng đưa mắt nhìn qua nhìn lại giữa ông chủ và vị quản sự rồi ra sức phân trần: “Nhưng mà bản thân đệ hiện giờ vẫn thấy trong người khỏe re chứ có thấy mệt mỏi chút nào đâu ạ.”

Nam nhấp một ngụm trà rồi điềm nhiên đáp lại: “Nguyên tắc nghỉ ngơi là phải nghỉ từ lúc người còn đang khỏe, chứ đợi tới lúc đệ chạy việc tới mức đổ bệnh nằm bẹp ra giường rồi mới cho nghỉ thì nói làm gì nữa.”

A Thạch nghe vậy vẫn còn định há miệng nói thêm câu nữa để xin đi chạy việc tiếp, thế nhưng đúng lúc ấy cô bé Shiroma vừa mới bê mẹt thảo dược từ ngoài sân đi ngang qua sau lưng cậu nhóc liền nhẹ nhàng lên tiếng bồi thêm một câu: “Nam ca với Hứa huynh nói đúng đấy đệ ạ.”

Chỉ một câu tán đồng nhẹ nhàng của cô bé pháp sư vừa vang lên, A Thạch đã ngậm chặt miệng lại và ngoan ngoãn đứng im không cãi thêm nửa lời.

Nam ngồi trên ghế mây chứng kiến cảnh tượng đổi thái độ nhanh như chớp đó thì không khỏi nheo mắt nhìn thằng nhóc: “Này A Thạch, sao nãy giờ huynh nói khô cả cổ thì đệ cứ đứng cãi nhem nhẻm, mà chị Shiroma của đệ vừa mới đi ngang qua buông có đúng một chữ là đệ đã nghe lời răm rắp thế hả?”

A Thạch gãi đầu cười hì hì rồi trả lời một câu hết sức khéo léo: “Dạ đâu có chuyện đệ nghe lời ai hơn ai đâu ca, tại đệ thấy cả ba người đều cùng nói một ý nên đệ nghe theo thôi mà.”

Bản thân Nam tất nhiên là biết thừa sự thật trong bụng thằng nhóc đang nghĩ gì, nhưng ông chủ xưởng cũng chẳng buồn vạch trần ra làm gì cho mất vui. Đúng lúc đó, Mina vừa mới bưng một chiếc rổ đựng rau củ từ dưới gian bếp đi lên, cô dừng bước nhìn tấm bảng lịch mới tinh vừa treo trên tường rồi quay sang hỏi Hứa An: “Này cậu Hứa An, chỗ đồ ăn đóng hộp trong kho từ tháng trước tới giờ hiện còn dư lại bao nhiêu hộp thế?”

Hứa An không cần phải mở sổ ra xem lại mà đọc vanh vách con số nằm lòng trong đầu: “Dạ tính tới chiều hôm nay thì ở trên kệ trong kho vẫn còn nguyên mười ba hộp chưa khui dùng tới chị Mina ạ.”

Nam đang ngồi uống trà nghe tới con số mười ba liền vội vàng quay phắt đầu sang hỏi lại: “Ủa khoan đã, sao lại chỉ còn có mười ba hộp là thế nào? Huynh nhớ rõ ràng lúc đoàn khảo sát phía bắc xuất phát thì ở nhà vẫn còn cất trong kho tới hai mươi lăm hộp cơ mà?”

“Dạ thì đoàn đi núi phía bắc mang theo mười chín hộp, dọc đường ăn hết mười sáu hộp nên lúc về trả lại vào kho ba hộp. Trong suốt thời gian tám ngày đoàn đi vắng cùng với mấy hôm mưa gió cuối tháng vừa rồi, ở nhà chị Mina cũng đã lấy ra dùng hết mười lăm hộp cho các bữa ăn nhanh của viện mình. Cộng thêm năm hộp khui ăn thử hồi ngày đầu tiên và một hộp mang sang biếu riêng cho Lương đại phu là tất cả đều có ghi chép ngày giờ xuất kho riêng biệt hết đấy huynh.” Hứa An vừa giải thích rành rọt vừa đẩy cuốn sổ kiểm kê lương thực sang trước mặt ông chủ để chứng minh. “Nam huynh cứ thử cộng tổng tất cả các khoản đó lại với mười ba hộp đang nằm trong kho mà xem, con số tổng cộng vẫn khớp đúng năm mươi hộp không sai một hộp nào đâu ạ.”

Nam cúi đầu nhìn những con số ghi chép rõ ràng từng dòng trên trang sổ của Hứa An, giơ bàn tay lên không trung để xin đầu hàng: “Thôi được rồi, huynh tin đệ rồi.”

Hứa An nghe vậy mới chịu thu cuốn sổ kiểm kê về chỗ cũ. Nam đưa mắt nhìn về phía cánh cửa gian kho vật tư ở góc sân rồi khẽ gật gù trong bụng, tổng cộng năm mươi hộp thức ăn chế biến sẵn của đợt quay thưởng tháng này, sau một tháng đưa vào vận hành thực tế nay vẫn còn giữ lại được mười ba hộp dự phòng trên kệ. Một kết quả phân bổ nguồn lực không tệ chút nào. Cả cái viện Tây Sơn này không ai đem cất kỹ chúng vào góc tủ như thể cất giữ báu vật gia truyền không dám ăn, mà cũng chẳng có ai vì thấy đây là đồ miễn phí từ trên trời rơi xuống mà lôi ra khui ăn phá phách cho bằng hết, tất cả mọi chiếc hộp được mở ra đều nằm đúng vào những hoàn cảnh thực tế cần tới sự tiện lợi của nó. Chỉ bấy nhiêu đó thôi là đã quá đủ cho giá trị của một lượt quay thưởng rồi.

Ở ngoài khoảng sân gạch rộng rãi trước mặt, sắc nắng ấm áp của tiết giữa xuân đã hiện lên rõ rệt trên từng nhành cây ngọn cỏ. Những tán lá cây hòe ngoài cổng đã chuyển sang màu xanh mướt mắt hơn hẳn hồi đầu tháng, mặt đường đất ngoài phố sau những cơn mưa rào cũng đã se khô nhanh chóng và dòng người qua lại giao thương mỗi ngày một thêm tấp nập. Viện Tây Sơn bây giờ đã trở thành một địa chỉ quen thuộc đón tiếp nhiều khách khứa tìm tới hơn xưa. Tuy rằng ở trên tấm bản đồ vùng núi phía bắc treo trong phòng vẫn đang ngày một xuất hiện thêm những ký hiệu khoanh vùng mới khiến cho một người sợ rắc rối như Nam nhìn vào chẳng mấy vui vẻ gì, nhưng thứ thay đổi rõ rệt và thiết thực nhất của viện Tây Sơn trong suốt tháng thứ ba mươi tám này lại nằm ngay ở tấm bảng giấy treo nơi gian cổng kia. Trên mặt giấy trắng chia ô ấy thể hiện rõ ràng hôm nay trong nhà ai đang đi đâu, ai đã trót nhận lời làm việc gì cho khách, tới ngày mồng mấy thì người đi xa phải quay trở về, mối việc nào đang nằm chờ xác nhận và mối việc nào bắt buộc phải từ chối thẳng. Nhìn qua thì tấm bảng lịch đó chẳng có vẻ gì là to tát hay ghê gớm cả, thế nhưng suốt ba năm về trước cái viện nhỏ này chưa bao giờ cần tới sự tồn tại của nó, còn bước sang năm thứ tư này thì nó đã trở thành thứ không thể thiếu được nữa rồi.

Nam thong thả đứng dậy vươn vai một cái rồi lại đi về ngồi phịch xuống chiếc ghế mây quen thuộc đặt dưới bóng mát mái hiên. Mina đang đứng nhặt rau ở gần đó nhìn thấy bộ dạng của ông chủ xưởng liền lên tiếng hỏi: “Từ nãy tới giờ anh vừa mới đứng ở bàn cổng làm cái việc gì thế?”

“Tôi đứng kiểm tra lại tấm bảng lịch làm việc của cả viện chứ làm gì.”

“Thế đã xem xét xong xuôi hết chưa?”

“Ừ, xem xong hết cả rồi.”

“Xem xong rồi thì sao?”

“Thì sau khi hoàn thành công việc kiểm tra vất vả xong xuôi, bây giờ bản thân tôi xứng đáng được nằm xuống đây nghỉ ngơi dưỡng sức chứ sao nữa.”

Chẳng đợi cho Mina kịp mở miệng buông lời châm chọc, Nam đã vội vàng lên tiếng kể công chặn trước: “Bà đừng có coi thường nhé, nãy giờ đứng ở bàn cổng là tôi vừa mới phải duyệt xong kế hoạch công việc của cả một tháng trời cho toàn viện đấy.”

“Nãy giờ tôi đứng đây nhìn rõ mồn một là anh chỉ mới cúi đầu ngó qua cái tờ giấy lịch do cậu Hứa An viết sẵn được có mấy phút thôi.” Mina vừa đáp vừa không nhịn được mà bật cười thành tiếng.

Ở phía bên trong gian cổng, Hứa An đã bắt đầu cầm bút bi viết cái tên của vị khách hàng đầu tiên đặt lịch trong tháng mới lên ô vuông trên bảng. Chẳng có một ai ở thành Thanh Hà này gọi viện Tây Sơn là lực lượng bảo hộ chính thức của toàn vùng, và bản thân những người sống trong viện cũng không bao giờ cho phép người ngoài mặc định rằng mọi biến cố khẩn cấp xảy ra trên đời đều thuộc về nghĩa vụ giải quyết của họ. Thế nhưng chỉ tính riêng những mối công việc vừa sức mà họ đã chính thức gật đầu nhận lời làm cho khách hàng thôi cũng đã nhiều tới mức bắt buộc phải kẻ bảng chia ngày để hẹn lịch trước. Sự thay đổi âm thầm mà lớn lao ấy của viện Tây Sơn diễn ra tự nhiên, chẳng có bất kỳ luồng ánh sáng hệ thống hay dòng thông báo trang trọng nào hiện lên để đánh dấu cả, đơn giản chỉ là cái xưởng nhỏ ngày nào giờ đây đã trở nên bận rộn tới mức người quản sự ngồi ở cổng bắt buộc phải nắm rõ xem sáng ngày mai trong nhà còn có ai ở lại.

Nam vừa mới nhắm mắt lim dim trên ghế mây được một lúc ngắn thì từ ngoài bàn cổng, giọng nói quen thuộc của Hứa An lại cất lên gọi vọng vào: “Nam huynh ơi.”

“Lại có chuyện gì nữa thế?”

“Dạ, vừa mới có người mang tới một tờ giấy hỏi đặt việc mới ạ.”

Nam khẽ hé một bên mắt ra nhìn về phía bàn cổng: “Vị khách đó muốn đặt lịch đi vào ngày mồng mấy?”

“Dạ họ muốn đặt lịch đi vào tuần đầu tiên của tháng sau, có điều trong giấy gửi tới vẫn chưa ghi rõ là họ muốn nhờ đích danh ai trong viện mình đi làm cả.” Hứa An vừa nói vừa đặt tờ giấy nhắn của khách xuống mặt bàn gỗ.

“Nếu khách chưa biết cần tìm ai thì đệ khoan hãy viết tên người của mình vào ô lịch trước nhé,” Nam vừa chống tay đứng dậy vừa dặn. “Đưa tờ giấy đó đây để huynh đọc xem cụ thể cái việc người ta cần làm là việc gì đã.”

Hứa An bước lại đưa tờ giấy nhắn cho ông chủ. Nam cầm tờ giấy đọc lướt từ trên xuống tới dòng ghi chú quãng đường di chuyển và địa hình vận chuyển thì đôi lông mày hơi cau nhẹ lại: “Cái tuyến đường bộ ghi trong giấy này trước khi dám gật đầu nhận lời là bắt buộc phải gọi thằng nhóc A Thạch vào hỏi kỹ tình trạng mặt đường trước đã. Hôm nay nó đang được nghỉ bù thì cứ để yên cho nó nghỉ, đợi tới sáng ngày mai rồi hẵng gọi vào hỏi sau.”

“Dạ, trong bụng đệ lúc nãy đọc xong cũng đang định thu xếp đúng như vậy đấy huynh.” Hứa An mỉm cười đón lại tờ giấy từ tay ông chủ, cẩn thận kẹp nó vào góc quy định dành cho các công việc đang chờ xác nhận trên bảng lịch, ngay bên cạnh một hàng ô vuông trống trơn mà cậu quản sự vẫn chưa điền tên của bất kỳ ai vào.

💬 Bình luận (0)