🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google
← GACHA VẠN GIỚI

Ch.37: Đèn pin đội đầu

~106 phút đọc · 21155 từ · · ⚠️ Báo cáo

Đầu xuân năm thứ tư ở thành Thanh Hà bắt đầu bằng bùn lầy. Lớp băng mỏng đóng trên miệng chum nước mỗi sáng biến mất trước tiên, nhường chỗ cho những cơn gió đầu mùa vẫn còn lạnh cắt da. Nắng xuân trên cao hãy còn nhợt nhạt nhưng cũng đủ sức làm lớp đất đóng cứng suốt mấy tháng cuối đông mềm dần ra. Những đoạn đường cái bằng phẳng đón gió thì ráo mặt trước, riêng mấy chỗ trũng thấp lại biến thành thứ bùn quánh dính tới mức ngày nào A Thạch đi chạy việc về tới xưởng Tây Sơn cũng phải ngồi cạo nguyên một lớp đất dày dưới đế giày.
Lê Mai Nam thấy tiết đầu xuân còn phiền phức hơn cả lúc giữa đông. Trời rét đậm thì người ta còn lấy cớ đóng cửa ngồi ru rú trong nhà sưởi than, chứ tới mùa bùn lầy thì mình không bước chân ra khỏi cổng cũng có người khác đi ngoài đường rồi tha về đầy sân.
Mina đứng ngay giữa khoảng sân trước, nhìn hàng dấu chân bết đất kéo dài một vệt từ cổng gỗ thẳng tới bậc thềm gian nhà chính rồi cất tiếng gọi: “Nam.”
Nam đang ngồi tựa lưng trên chiếc ghế trúc dưới mái hiên, đáp ngay không cần suy nghĩ: “Chuyện này không phải tại tôi đâu nhé.”
Mina quay đầu sang nhìn hắn: “Anh biết tôi định nói gì rồi đấy à?”
“Hàng dấu chân in dưới đất kia to hơn cỡ giày của tôi rõ ràng.”
“Nhưng vừa nãy anh cũng giẫm chân đi qua đoạn đó.”
“Thì lúc tôi đi qua là người khác đã làm bẩn sẵn từ trước rồi.”
Mina đứng im nhìn hắn mất hai giây, sau đó chỉ buông đúng một chữ ngắn gọn: “Quét.”
Nam đưa mắt nhìn cây chổi tre dựng ở góc tường, còn đang định mở miệng lý sự tiếp thì Mina đã bồi luôn hai chữ: “Đồ lười.”
“Bây giờ bà bắt đầu lấy câu đó ra để thay cho mọi lập luận luôn rồi đấy à?”
“Miễn hiệu quả là được.”
Rốt cuộc ông chủ xưởng vẫn phải đứng dậy cầm lấy cán chổi. Hắn chịu nhấc người dậy hoàn toàn chẳng phải vì bị lý lẽ của Mina thuyết phục, mà đơn thuần vì đúng lúc ấy Hứa An vừa từ gian phòng cổng bước vào sân, cúi nhìn vệt bùn trên gạch rồi nói bằng giọng hết sức tự nhiên: “Tiện tay huynh quét luôn đoạn ngoài cửa cổng giúp tiểu đệ với.”
Nam dừng tay quét, ngẩng lên nhìn cậu thư sinh: “Này, cậu có còn nhớ ai mới là chủ của cái nhà này không đấy?”
Hứa An điềm nhiên đáp: “Là người đang cầm chổi trong tay.”
Ở ngay ngoài bậu cửa cổng, thằng nhóc A Thạch vừa đi về tới nơi đang cố cúi gằm đầu xuống thật thấp, hai bả vai rung lên bần bật. Nam liếc mắt nhìn thẳng ra cổng: “Đứng ngoài đó mà cười thêm tiếng nữa là vào cầm chổi quét chung luôn đấy.”
Bóng dáng A Thạch lập tức biến mất tăm khỏi khung cửa.
Tháng đầu tiên trong năm thứ tư của xưởng Tây Sơn đã khởi đầu theo cái cách bình dị như thế. Tờ giấy ghi các phương án thương lượng giá mua lại khu xưởng vẫn nằm yên trong ngăn kéo bàn làm việc của Hứa An, chưa có bất kỳ chữ ký nào được đặt xuống. Qua đợt nghỉ Tết Nguyên đán, phía chủ đất đã đồng ý hạ giá xuống thêm một chút, có điều con số ấy vẫn chưa giảm tới cái ngưỡng khiến Nam sẵn sàng vét quỹ dự phòng ra để trả đứt một lần. Hai bên thống nhất cứ để việc thương lượng tiếp tục kéo dài trong năm nay. Tiền thuê mặt bằng định kỳ vẫn đóng đủ như cũ, riêng Hứa An thì chủ động kẻ thêm một dòng mục mới vào cuốn sổ quỹ của xưởng với cái tên: Dự phòng mua đất.
Nam vừa ngó thấy dòng chữ đó đã lên tiếng phản đối ngay: “Ghi thế này nghe cứ như thể mình đã chốt mua chắc chắn rồi ấy.”
Hứa An cầm bút đáp: “Bản thân Nam huynh vốn đã quyết mua rồi còn gì.”
“Ta chỉ quyết mua nếu như bên kia đưa ra cái giá hợp lý thôi.”
“Thì cứ để riêng khoản tiền đó ở đấy.”
“Nhưng cậu đừng có ghi cái tên mục nghe như thể tháng sau là phải đem bạc đi chồng đủ cho người ta ngay lập tức thế kia.”
Hứa An cúi đầu gạch nhẹ hai chữ, viết sửa lại thành: Dự phòng nếu mua đất.
Nam nhìn dòng chữ mới sửa xong, chép miệng: “Viết thế lại càng dài dòng hơn.”
“Nhưng rõ nghĩa hơn.”
Nam đành chịu thua cậu thư sinh, không buồn đôi co chuyện chữ nghĩa nữa.
Tiết đầu xuân ấm dần cũng kéo công việc làm ăn nhộn nhịp trở lại. Qua rằm tháng Giêng, các thương đội bắt đầu đánh xe chạy hàng ra vào thành Thanh Hà tấp nập hơn hẳn. Người trong thành đi buôn chuyến xa, khách từ các trấn ngoài cũng đổ về giao dịch. Riêng Ronan đã có sẵn hai hợp đồng hộ tống được khách đặt lịch từ trước Tết. Soma cũng vừa nhận một đầu việc nhỏ ở mạn phía đông. Lão Tề hôm qua có nhắn người sang hỏi Ciel xem trong xưởng cơ khí có cần lấy thêm gỗ thông phơi khô để đóng dãy giá để đồ mới hay không. Bên Lương y quán, Lương đại phu cũng vừa sai A Thạch xách về cho Shiroma một túi lớn dược liệu mùa xuân mới thu hoạch. Công việc ở xưởng Tây Sơn quay lại guồng quay đều đặn, chưa tới mức bận tối mắt tối mũi nhưng cũng đủ để câu chuyện bỏ ngỏ ở vùng rừng phía bắc không thể kéo tuột toàn bộ nhân sự trong nhà bỏ dở việc làm ăn mà chạy đi xem xét. Nam cảm thấy cực kỳ hài lòng với nhịp độ hiện tại.
Sự yên ổn ấy duy trì cho tới đúng buổi sáng diễn ra lượt quay Gacha thứ ba mươi bảy.
Lúc đó Hứa An đang ngồi trực ở bàn cổng, A Thạch đã chạy vào trong thành đưa giấy tờ, còn Shiroma thì sang bên Lương y quán phụ việc từ sớm. Ronan cùng với Harpe cũng đã ra phố gặp đại diện thương đội để thống nhất lộ trình cho chuyến hộ tống vào tuần sau. Trong khuôn viên xưởng chỉ còn Mina đang lúi húi dưới bếp, Ciel ở trong gian xưởng cơ khí, cùng với Soma và Zero đang nghỉ ở sân sau.
Bản thân Nam nhận được tín hiệu báo lượt quay của hệ thống đúng vào lúc hắn đang đứng kiểm tra một bao than củi đặt cạnh vách gian nhà sau. Nói cho chính xác hơn thì hắn đang đứng nhìn chằm chằm vào cái bao tải nặng trịch đó và cân nhắc xem mình có nhất thiết phải tự tay bê nó vào kho hay không, thì cảm giác quen thuộc báo hiệu lượt quay mới bỗng nhiên xuất hiện.
Nam lập tức bỏ mặc cái bao than đấy, quay đầu bước về gian chính: “Có việc rồi.”
Mina từ trong cửa bếp ngó ra hỏi: “Tới giờ quay rồi đấy à?”
“Ừ.”
Cô đưa mắt nhìn cái bao than vẫn đang nằm chình ình bên vách tường: “Quay xong rồi nhớ ra bê nốt vào kho đấy nhé.”
Nam tảng lờ coi như không nghe thấy câu dặn sau cùng. Đợi cho Mina khép cánh cửa thông ra sân ngoài lại, mấy người đang ở nhà mới tụ tập về gian nhà chính. Luồng sáng quen thuộc của hệ thống lóe lên trên sàn gạch rồi tắt phụt đi rất nhanh. Không có bóng dáng con người nào bước ra, cũng chẳng có binh khí sát phạt. Trên nền nhà chỉ xuất hiện một chiếc thùng giấy cỡ lớn.
Nam bước tới mở nắp thùng. Bên trong là mười hai chiếc đèn chiếu sáng cỡ nhỏ được gắn liền vào những sợi dây đai vải có độ đàn hồi, xếp ngay ngắn thành hai hàng trên lớp xốp mỏng. Mỗi chiếc đều có cụm bóng chiếu ở chính giữa mặt trước, công tắc bấm ở cạnh trên, khóa nhựa điều chỉnh độ rộng của dây đeo và một cổng cắm sạc nhỏ được đậy kín bằng nắp cao su mềm.
【Lượt quay thứ 37 hoàn tất. Phần thưởng: Đèn đội đầu sạc điện ×12.】
Nam vừa nhấc một chiếc đèn lên khỏi hộp thì bàn tay của Ciel ở bên cạnh cũng đã cầm lấy chiếc thứ hai gần như cùng một lúc. Cô lật nhẹ phần thân đèn qua lại rồi nhận xét ngay: “Loại này dùng pin tích hợp ở bên trong.”
Nam quay sang nhìn cô: “Sao bà nhìn lướt qua cái đã biết nhanh thế?”
“Bên hông vỏ nhựa có làm cổng sạc.”
“Biết đâu cái lỗ đó người ta chỉ đúc làm cảnh để trang trí thì sao.”
Ciel chẳng buồn trả lời câu nói đùa vô bổ ấy. Ngón tay cô ấn nhẹ một cái vào nút công tắc phía trên. Luồng ánh sáng trắng mạnh mẽ lập tức chiếu thẳng vào giữa mặt Nam khiến hắn phải nhắm tịt mắt lại theo phản xạ: “Này Ciel.”
“Đèn hoạt động tốt đấy.”
“Thử đèn thì cũng đừng có chĩa thẳng vào mắt người khác thế chứ.”
Ciel bình thản bẻ khớp nối cho cụm đèn chúc nhẹ xuống phía dưới sàn nhà. Đứng ở bên cạnh, Zero cũng cầm lấy một chiếc khác, kéo giãn phần dây đai đàn hồi để ướm thử rồi tròng lên đầu mình. Do vướng cấu trúc mũ giáp đặc trưng trên đầu, hắn phải nới khóa điều chỉnh dây đeo ra khá nhiều nhưng sợi đai vải co giãn vẫn bám giữ rất chắc chắn.
Soma đứng khoanh tay nhìn sang, gật gù bình phẩm: “Trông hợp phết đấy.”
Zero lập tức quay đầu sang nhìn cậu. Luồng sáng trắng từ trán hắn quét thẳng một vệt chói lòa vào mặt Soma khiến cậu thanh niên tóc trắng phải vội vàng giơ bàn tay lên che ngang mắt: “Thôi được rồi, tôi biết nó sáng rồi.”
Mina đứng cạnh bàn nhìn cảnh đó thì bật cười thành tiếng. Nam cũng lấy một chiếc đèn tự đeo thử lên trán mình. Cả hai bàn tay phía dưới hoàn toàn rảnh rang, đầu quay nhìn về hướng nào là luồng ánh sáng tự động quét theo đúng góc nhìn hướng đó. Trong đầu hắn lập tức nảy ra ngay một chữ: “Hang.”
Soma hạ tay xuống, gật đầu đồng tình ngay: “Ừ, dùng để chui vào hang là chuẩn nhất.”
Câu chuyện về cái hang yêu thú bỏ trống ở mạn rừng phía bắc vẫn đang nằm chờ trên bàn làm việc của Hứa An từ hồi cuối tháng Chạp năm ngoái. Trưởng lão Tạ Vân tuy chưa chốt ngày xuất phát cụ thể, nhưng trước Tết đã từng nhắn lời rằng đợi tiết đầu xuân ấm lên sẽ cử người đi kiểm tra thực địa một vài địa điểm cũ. Đó chưa phải là một chiến dịch khảo sát quy mô lớn, mục tiêu trước mắt chỉ đơn thuần là xác nhận xem những dấu vết bất thường rải rác suốt mấy tháng qua có thực sự liên kết với nhau hay không.
Nam tháo chiếc đèn khỏi đầu, đặt lại lên mặt bàn: “Món này ra đúng lúc thật đấy.”
Mina liếc nhìn hắn, nhắc khéo: “Anh đừng có bắt đầu tin vào mấy cái thuyết hệ thống biết đọc trước tương lai đấy nhé.”
“Làm gì có chuyện.”
“Nhìn cái vẻ mặt đăm chiêu của anh vừa nãy là giống đang tin lắm.”
“Chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thôi.”
Trong lúc hai người đang nói chuyện thì Ciel đã cầm gọn một chiếc đèn trên tay và xoay người bước ra phía hành lang dẫn về xưởng cơ khí. Nam vội vàng gọi với theo: “Này, bà mang đi đâu đấy?”
“Đem về xưởng kiểm tra dòng sạc.”
“Chỉ được cắm thử sạc thôi, cấm tháo tung nó ra đấy nhé.”
Ciel dừng bước ngay tại bậu cửa, ngoái đầu lại đáp gọn: “Tôi không tháo vỏ đâu.”
Mina đứng bên cạnh nhìn ông chủ xưởng, tủm tỉm cười: “Dạo này anh cũng rút kinh nghiệm nhanh gớm nhỉ.”
“Tôi chỉ đang làm tròn trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của xưởng thôi.”
Mina khẽ bĩu môi nói nhỏ: “Đồ keo kiệt.”
Nam nghe rõ mồn một từng chữ nhưng quyết định không thèm cãi lại.
Tới buổi chiều cùng ngày, Ciel đã kiểm tra xong toàn bộ mười hai chiếc đèn và xác nhận tất cả đều vận hành hoàn hảo. Thời lượng pin thực tế chưa được đo tới mức cạn sạch bởi cô thẳng thừng từ chối cái phương án kiểm tra thủ công kiểu bật sáng cả loạt rồi ngồi nhìn đồng hồ chờ đèn tắt của Nam. Tuy nhiên, dựa trên thông số dung lượng bộ tích điện và mức tiêu hao dòng điện đo được ở các nấc sáng, cô tính toán mỗi chiếc hoàn toàn đủ sức chiếu sáng liên tục trong nhiều canh giờ nếu người dùng không bật chế độ công suất tối đa suốt cả quãng đường. Nguồn điện dự trữ trong xưởng cơ khí có thể sạc đầy lại cho toàn bộ số đèn này thông qua một bộ đổi nguồn đa năng mà Ciel đã chế tạo sẵn từ trước cho các thiết bị khác.
Nam cầm một chiếc đèn đã nạp đầy pin lên săm soi, hỏi kỹ thêm các điều kiện thực địa: “Món này đi đường gặp nước có bị chập không?”
“Nếu chỉ dính nước mưa nhỏ hoặc hơi sương thì gioăng cao su che cổng sạc vẫn chắn được.”
“Trong hang đá thường rất ẩm đấy.”
“Miễn đừng đánh rơi cả cái đèn ngâm thẳng xuống vũng nước là được.”
“Vỏ nhựa này có dễ vỡ không?”
“Đừng cầm đập thẳng vào vách đá thì không sao cả.”
Nam gật gù thấy cực kỳ hợp lý. Tới chiều muộn, khi Hứa An giải quyết xong việc ngoài cổng và bước vào gian nhà chính, cậu thư sinh chỉ được thông báo ngắn gọn rằng trong kho của xưởng Tây Sơn vừa mới nhập thêm mười hai chiếc đèn chiếu sáng kiểu mới. Hứa An hoàn toàn không hỏi một lời nào về chuyện số đèn này được mua từ tiệm buôn nào hay do ai mang tới. Cậu chỉ lặng lẽ cầm lấy một chiếc, tự chỉnh dây đeo lên trán rồi đi thẳng vào trong gian kho chứa đồ đang đóng kín cửa tối om.
Một lát sau, Hứa An bước trở ra, tháo đèn đặt xuống bàn và gật đầu xác nhận: “Dùng rất tốt ạ.”
Nam ngồi uống trà bên bàn ngạc nhiên nhìn cậu: “Chỉ có thế thôi à?”
“Dạ vâng.”
“Cậu không định hỏi thêm câu nào nữa thật đấy à?”
“Tiểu đệ phải hỏi chuyện gì cơ ạ?”
Nam lập tức ngậm miệng lại, dẹp luôn ý định bịa lý do giải thích nguồn gốc hàng hóa. Hứa An đứng bên bàn đã chủ động tách riêng bốn chiếc đèn đặt sang một góc, hỏi luôn vào việc chính: “Số này là để chuẩn bị cho đội đi khảo sát phía bắc dùng đúng không Nam huynh?”
Nam nhìn cậu thư sinh mất hai giây rồi mới hỏi lại: “Sao cậu biết nhanh thế?”
“Lúc chiều bên Lạc Hà có cho người nhắn tin qua cổng, báo rằng sáng ngày mai Tạ trưởng lão sẽ đích thân ghé xưởng để bàn chuyện nhân sự đi chuyến này ạ.”
“À, thảo nào.”
“Vậy số đèn còn lại thì cất ở đâu hả huynh?”
“Cứ đem cất vào trong kho thôi.”
Hứa An chưa vội bê hộp đi ngay mà quay đầu sang nhìn Ciel: “Bên xưởng cơ khí của Ciel tỷ có cần giữ lại chiếc nào để dùng không ạ?”
Ciel ngẫm nghĩ một chút rồi đáp: “Để lại cho xưởng của tôi hai chiếc.”
Hứa An nhẩm tính ngay: “Vậy là trong kho còn giữ lại sáu chiếc.”
“Ừ, cứ cất kỹ sáu chiếc đó đi.”
Cậu thư sinh rút cây bút từ trong tay áo ra, ghi chép cẩn thận số lượng đèn vào cuốn sổ quản lý mượn đồ, điền rõ tên người nhận và ngày bàn giao ở cột bên cạnh. Nam ngồi nhìn ngòi bút của cậu lướt nhanh qua cái tên của Ciel trên mặt giấy, cảm thấy sự chuyên nghiệp này thực sự giúp hắn đỡ tốn nước bọt hơn rất nhiều. Lúc ấy Hứa An đã quay sang hỏi Zero xem phần dây đai đàn hồi khi đeo thực tế có bị cấn vào gờ mũ giáp hay không để cậu còn biết đường ghi chú.
Sáng ngày hôm sau, Tạ Vân cùng với Triệu Khải tìm tới xưởng Tây Sơn đúng như lời nhắn. Đi theo sau hai người họ còn có thêm hai đệ tử của phái Lạc Hà, cả hai đều là những người có kinh nghiệm theo Tạ Vân đi khảo sát địa hình vùng rừng núi ngoài thành nhưng trước nay chưa có dịp ghé qua xưởng Tây Sơn nhiều lần.
Điều đầu tiên khiến Nam cảm thấy hài lòng trong buổi làm việc sáng hôm ấy là Tạ Vân bước vào bàn hoàn toàn không mở miệng hỏi câu "Trong xưởng này ai là người đánh khỏe nhất". Vị nữ trưởng lão chỉ nhìn qua một lượt rồi hỏi thẳng vào trọng tâm: “Những ai đi tốt được trên địa hình đường rừng xấu?”
Soma ngồi bên bàn lập tức gật đầu. Về phần Zero thì thậm chí chẳng cần phải hỏi tới câu đó. Triệu Khải đứng bên cạnh vỗ nhẹ lên túi đồ, lên tiếng: “Đoạn đường rừng bên ngoài để ta dẫn lối cho.”
Tạ Vân trải tấm bản đồ vùng phía bắc ra mặt bàn, ngón tay chỉ vào một điểm đánh dấu nằm giữa các đường đồng mức: “Còn về cấu trúc bên trong cái hang đó thì phía Lạc Hà chúng ta vẫn còn giữ một bản vẽ phác thảo cũ.”
Harpe đang đứng quan sát ở ngay cạnh mép bàn liền hỏi: “Bản phác thảo đó được vẽ từ cách đây bao lâu rồi ạ?”
“Khoảng mười một năm trước.”
Harpe khẽ nhíu mày. Triệu Khải thấy vậy thì bật cười nói: “Cái hang nằm trong lòng núi đá chứ có mọc chân chạy đi đâu được mà lo.”
Harpe điềm tĩnh đáp lại: “Hang thì không tự chạy đi đâu được, nhưng các ngách đường đá ở bên trong thì hoàn toàn có thể bị sập qua từng ấy năm.”
Triệu Khải lập tức gật đầu thừa nhận ngay, không hề tự ái: “Ngươi nói đúng.”
Trong gian phòng không một ai tranh cãi về điểm đó. Tấm bản đồ vẽ từ mười một năm trước được thống nhất chỉ đem theo để làm tài liệu tham khảo phương hướng chung. Địa điểm cần kiểm tra lần này nằm ở vùng rừng núi phía bắc thành Thanh Hà, gần một khu vực hẻm núi thấp nơi cánh thợ săn bản địa từ lâu đã biết tới sự tồn tại của một hệ thống hang động tự nhiên ăn sâu vào vách đá. Theo như hồ sơ ghi chép của phái Lạc Hà, trước đây khu vực này vốn có một đàn yêu thú thuộc giống lang thú chiếm giữ một trong những khoang hang lớn nhất làm sào huyệt. Bọn lang thú này không phải là giống đại yêu hung hãn tới mức cần các trưởng lão trong tông môn phải đích thân xuất thủ đi dẹp bỏ. Chúng vốn có tập tính tránh xa khu dân cư, chỉ săn bắt thú rừng để kiếm ăn, họa hoằn lắm mới xảy ra va chạm với những người dân đi hái thuốc nếu chẳng may họ đi lạc quá sâu vào vùng lãnh địa của chúng. Vấn đề bất thường nằm ở chỗ suốt thời gian gần đây không còn một thợ săn nào nhìn thấy bóng dáng của đàn lang thú ấy nữa.
Tạ Vân đưa mắt nhìn quanh gian nhà chính một lượt rồi hỏi: “Hôm nay Ronan không có ở đây à?”
Hứa An đứng cạnh bàn lễ phép đáp: “Ronan huynh hiện có một chuyến hộ tống thương đội đã nhận lịch từ trước Tết, sáng nay đang đi bàn lộ trình với khách rồi ạ.”
“Vậy thì không cần phải cho người đi gọi cậu ta về đâu.”
Nam ngồi nghe câu đó lập tức cảm thấy thiện cảm với vị trưởng lão này tăng lên thêm mấy phần. Ở bên cạnh bàn, Harpe nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ với vẻ mặt rõ ràng là cũng đang muốn đi theo chuyến này. Nam liếc nhìn hắn một cái, nhưng chưa cần Nam phải lên tiếng thì Tạ Vân đã nói rõ tiêu chí chọn người: “Chuyến đi này ta chỉ cần những người quen di chuyển ở địa hình hiểm trở và đủ khả năng tự xử lý nhanh nếu chẳng may đụng phải tình huống bất ngờ không dự đoán trước. Hoàn toàn không cần thiết phải kéo cả xưởng Tây Sơn đi theo.”
Harpe đứng cân nhắc vài giây rồi gật đầu chấp nhận ngay: “Nếu vậy thì để tôi ở nhà lập sẵn danh sách các câu hỏi thực địa cần đội khảo sát xác nhận giúp.”
Nam nhìn chàng thanh niên tóc trắng với ánh mắt tán thưởng. Rất tỉnh táo. Đâu phải cứ là người giỏi phân tích điều tra thì chuyến nào cũng phải tự mình xách kiếm trèo đèo lội suối.
Hứa An mở sổ ghi chép ra, hỏi tiếp về mặt hậu cần: “Chuyến khảo sát này dự kiến đi trong khoảng mấy ngày ạ?”
Triệu Khải tính nhẩm rồi đáp: “Nếu cả đội đi nhanh thì mất khoảng hai ngày là cả đi lẫn về.”
Tạ Vân lập tức chỉnh lại: “Đi khảo sát thực địa thì đừng bao giờ tính theo tốc độ đi nhanh nhất.”
Hứa An cầm bút sửa lại con số trên giấy ngay tức khắc: “Vậy tiểu đệ tính theo khung ba ngày nhé?”
“Cứ chuẩn bị lương thực và đồ dùng đủ cho bốn ngày.”
Nam ngồi bên cạnh hỏi thêm một câu: “Chuyến này có cần cho thằng nhóc A Thạch đi theo chạy việc không?”
Triệu Khải lắc đầu dứt khoát: “Mạn hẻm núi phía bắc này ngày thường thằng nhóc đó ít khi bén mảng tới. Đường sá trên ấy ta nắm rõ hơn nó nhiều.”
May mắn là lúc này A Thạch đang đi vắng nên không có mặt ở nhà để nài nỉ phản đối. Nam lại càng thấy hài lòng hơn. Không việc gì phải lôi cổ một đứa nhóc đi theo vào rừng sâu chỉ vì ngày thường nó vốn là chân chạy việc quen thuộc của xưởng. Đội hình xuất phát cuối cùng được chốt lại gọn gàng gồm sáu người: Soma, Zero, Triệu Khải, Tạ Vân cùng với hai đệ tử của phái Lạc Hà. Không có Nam, không cần Ronan hay Harpe, cũng chẳng kéo theo Shiroma, Ciel hay Mina. Nhân sự vừa vặn đúng mức cần thiết cho một chuyến trinh sát.
Hứa An bắt đầu chuyển sang bước phân bổ vật tư mang theo. Bốn chiếc đèn đội đầu được cậu xếp riêng từ chiều hôm qua nay đã được lấy thêm trong kho ra thành sáu chiếc. Nam nhìn đống đèn trên bàn, buột miệng hỏi: “Sao lại lấy ra tới sáu chiếc?”
“Đội đi có sáu người thì chia cho mỗi người đeo một chiếc ạ.”
“Huynh cứ tưởng hai vị đệ tử Lạc Hà kia đã quen cầm đuốc đi rừng rồi chứ.”
Hứa An ngước mắt lên nhìn ông chủ xưởng: “Trong nhà đang có sẵn đèn tiện dụng thì cứ phát đèn cho người ta dùng luôn chứ huynh.”
Nam cứng họng, hoàn toàn không tìm ra lý do gì để phản bác lại câu đó. Ngay sau đấy, hắn lại thấy cậu thư sinh thò tay vào hộp lấy tiếp ra thêm hai chiếc đèn nữa đặt cạnh túi hành lý. Nam nhướng mày: “Sao lại thành tám chiếc rồi?”
“Mang dư ra hai chiếc để làm đồ dự phòng lỡ khi có chiếc bị trục trặc giữa đường ạ.”
“Thế là trong kho ở nhà chỉ còn lại đúng bốn chiếc thôi đấy à?”
“Vâng, bốn chiếc để ở nhà dùng là đủ rồi ạ.”
Nam ngẫm nghĩ một lúc rồi cũng gật đầu thấy hợp lý. Ở dưới gian bếp, Mina đã bắt tay vào chuẩn bị các túi lương khô đóng gói gọn gàng. Đúng lúc Shiroma vừa từ Lương y quán trở về, nghe mọi người kể lại lịch trình ngày mai xong, cô bé liền chủ động mang hộp thuốc sơ cứu ra kiểm tra lại toàn bộ rồi bổ sung thêm vài lọ thuốc trị thương và giải độc mùa xuân. Chẳng có ai trong nhà mở miệng ép cô phải đi theo đoàn chỉ vì cô là người biết phép trị thương, mà bản thân Shiroma cũng không hề đòi đi cùng chỉ để chứng tỏ vai trò của mình.
Cô bé chỉ đóng nắp túi thuốc lại, đưa tận tay cho Soma rồi dặn dò: “Nếu ở ngoài đó chẳng may bị thương mà chưa rõ nguyên nhân hay độc tính thế nào thì anh Soma tuyệt đối đừng có tự ý lôi mấy cái năng lực Soul linh tinh ra để tự xử lý đấy nhé.”
Soma cầm lấy túi thuốc, dở khóc dở cười nhìn cô bé: “Trong mắt em thì anh là cái kiểu người hay làm liều thế cơ à?”
Shiroma mỉm cười đáp: “Em cứ phải dặn trước cho chắc chắn.”
Lúc ấy Zero đang đứng kiểm tra lại dây đeo ba lô ở ngay gần đó. Shiroma liền quay đầu sang phía hắn, nghiêm giọng nói tiếp: “Cả anh Zero nữa, có chuyện gì cũng phải chú ý cẩn thận đấy ạ.”
Zero khẽ gật đầu đáp lại. Soma đứng bên cạnh nhìn cảnh phân biệt đối xử ấy thì thở dài một tiếng: “Sao anh cứ có cảm giác là em tin tưởng anh ấy hơn hẳn anh thế nhỉ.”
“Tại bình thường anh Zero ít khi nào mở miệng nói cái câu ‘để tôi thử xem sao’ hơn anh Soma nhiều.”
Nam ngồi uống trà ở bàn bên cạnh nghe câu trả lời chuẩn xác ấy thì không nhịn được mà bật cười thành tiếng.
Sáng sớm ngày hôm sau, đội khảo sát sáu người chính thức lên đường rời khỏi xưởng Tây Sơn. Bầu trời đầu xuân trong trẻo nhưng mặt đất dưới chân vẫn còn ẩm mềm sau đợt tan giá. Trên suốt chặng đường đi ra khỏi vùng ngoại ô thành Thanh Hà, Triệu Khải luôn giữ vị trí đi đầu dẫn lối, còn Soma thì sải bước đi song song ngay bên cạnh. Hai người họ vốn đã từng phối hợp đi rừng với nhau qua không ít chuyến từ năm ngoái nên những quy tắc di chuyển cơ bản hoàn toàn chẳng cần phải nhắc lại.
Đi qua một đoạn đường trũng bết đất sét, Triệu Khải liếc mắt nhìn xuống đôi giày đã dính đầy bùn của Soma rồi lên tiếng trêu: “Xem chừng ngươi vẫn chẳng ưa nổi cái thứ bùn lầy này nhỉ?”
Soma nhăn mặt đáp: “Trên đời này làm gì có ai thích lội bùn đâu cơ chứ.”
“Hồi trước ta nghe nói ngươi có cái năng lực linh hồn gì giúp đi lại trên cát nhẹ tênh mà?”
“Thì cái đó là năng lực đi trên cát khô, còn dưới chân mình hiện giờ là bùn nhão.”
“Thế trong người ngươi không tích trữ sẵn cái năng lực nào chuyên dùng để đi trên bùn à?”
Soma quay đầu sang nhìn gã thợ săn kỳ cựu: “Trong người tôi đúng là có rất nhiều loại Soul khác nhau thật, nhưng như thế đâu có đồng nghĩa với việc thứ quái quỷ gì trên đời này cũng có một viên tương ứng đâu.”
Triệu Khải nghe vậy thì bật cười khoái chí: “Cuối cùng thì trên đời cũng có một loại địa hình bắt ép được ngươi phải cuốc bộ khổ sở giống hệt như người bình thường rồi.”
Soma bước lên một phiến đá khô, gõ nhẹ mũi giày vào cạnh đá cho cục bùn đất nặng trịch rơi ra rồi hỏi lại: “Chuyện đó làm ông thấy vui tới mức ấy cơ à?”
“Cũng thấy vui khá nhiều đấy.”
Zero bước đi đều đặn ở ngay phía sau lưng hai người, nghe rõ toàn bộ cuộc đối thoại vô thưởng vô phạt ấy nhưng hoàn toàn không góp lời nào. Trong khi đó, trưởng lão Tạ Vân cùng hai đệ tử Lạc Hà lại tập trung quan sát địa thế dọc hai bên đường đi nhiều hơn. Khi cả đoàn đã bỏ lại khu vực ruộng canh tác ở phía sau và bắt đầu tiến sâu vào vùng đồi đất lẫn đá sỏi ở mạn bắc, những dấu hiệu chuyển mùa của tiết đầu xuân hiện ra ngày một rõ rệt. Trên các cành cây khô đã bắt đầu nhú lên những mầm lá non xanh biếc, dòng nước chảy dưới các khe suối hẹp cũng dồi dào hơn hẳn hồi cuối đông, và nhiều vách đá ven đường vẫn còn đọng vệt nước ướt sũng do sương giá tan ra hòa cùng mấy trận mưa bụi rải rác từ vài hôm trước.
Tới khoảng giữa trưa, lộ trình của cả đội đã tách hẳn ra khỏi những tuyến đường mòn mà dân thường hay đi lại. Chiếc bộ đàm mang theo bên người vẫn còn giữ được liên lạc với trạm thu phát ở phía sau thêm một quãng đường nữa, nhưng càng tiến sâu vào giữa các dãy đồi đá thì tín hiệu bắt đầu đứt quãng dần. Zero dừng chân bấm nút gọi thử về nhà. Giọng trả lời của Hứa An phát ra từ loa bộ đàm lúc này chỉ còn nghe được từng tiếng được tiếng mất, bị nhiễu sóng méo mó.
Tạ Vân đứng cạnh nghe thấy vậy liền lên tiếng: “Vào tới địa hình này thì không thể dựa dẫm vào chiếc máy truyền tin đó được nữa đâu.”
Chẳng ai trong đội phản đối nhận định đó. Bộ đàm đúng là một công cụ liên lạc cực kỳ hữu ích, nhưng nó vận hành bằng sóng vô tuyến vật lý chứ không phải phép màu có thể xuyên thủng qua hàng trùng núi đá. Triệu Khải lập tức rút tấm bản đồ ra, dùng bút chì đánh dấu rõ vị trí điểm cuối cùng còn bắt được sóng liên lạc. Nếu ở chặng sau có xảy ra tình huống khẩn cấp bắt buộc phải báo tin về xưởng Tây Sơn, người đưa tin sẽ phải lùi ngược về đúng tọa độ này hoặc tìm cách trèo lên một đỉnh đồi thoáng đãng cao hơn.
Cả đội dừng chân nghỉ ngơi uống nước một lát rồi lại tiếp tục tiến về phía khu vực hẻm núi đá. Lối dẫn vào sào huyệt của đàn yêu thú hoàn toàn không giống kiểu một cái cửa hang khổng lồ mở toang hoác ngay trên vách núi như người ta vẫn hay tưởng tượng. Nó nằm khuất sâu phía sau một đoạn khe đá hẹp, bị những bụi cây gai rậm rạp và mấy tảng đá mồ côi lớn che khuất đi mất quá nửa tầm nhìn. Nếu không phải là người nắm rõ vị trí từ trước thì dù có đi ngang qua ngay trên con đường mòn phía trên cao cũng chưa chắc đã phát hiện ra bên dưới có một cửa hang.
Một người đệ tử Lạc Hà rút tờ bản vẽ phác thảo cũ từ mười một năm trước ra đối chiếu với cảnh vật trước mắt, buột miệng nhận xét: “Theo như hình vẽ trên giấy thì lối vào ở đoạn này ngày trước vốn rộng rãi hơn thế này nhiều.”
Triệu Khải bước tới gần, đưa bàn tay sờ dọc theo mép vách đá nham nhở: “Khu vực cửa hang này đã từng bị sạt lở đá.”
Tạ Vân cúi nhìn lớp đất và rêu phong phủ dưới chân vách đá, khẳng định thêm: “Vết sạt lở này không phải mới xảy ra gần đây đâu, tính ra cũng phải được ít nhất vài năm rồi.”
Ngay từ bước tiếp cận đầu tiên ở bên ngoài cửa hang, dữ liệu trên tấm bản đồ cũ đã lộ ra những điểm sai lệch so với thực tế. Cả đội hoàn toàn không vội vã bước vào trong hang ngay lập tức. Triệu Khải chủ động đi vòng quanh khu vực cửa hang để rà soát dấu vết bề mặt trước, Soma lặng lẽ bước theo sau yểm trợ, trong khi Zero tiến tới gõ kiểm tra độ kết dính của các tảng đá nằm chênh vênh quanh vòm cửa. Tạ Vân đứng trụ ở khoảng đất trống chính giữa, vừa điều vận cảm nhận xem xung quanh có dao động linh khí bất thường nào không vừa quan sát tổng thể địa hình.
Dấu vết thực địa đầu tiên được phát hiện nằm khuất dưới một mỏm đá thấp ngay rìa lối vào. Đó là một nhúm lông thú đã rụng từ lâu. Triệu Khải dùng đầu một nhánh cây khô gẩy nhẹ nhúm lông lên khỏi lớp đất ẩm: “Màu lông xám tro này đúng là của giống lang thú đó rồi.”
Người đệ tử Lạc Hà đứng cạnh cúi xuống nhìn kỹ rồi gật đầu xác nhận: “Chính xác là dấu vết của đàn lang thú từng làm ổ ở đây.”
Soma đưa mắt quét nhìn một vòng quanh khu vực cửa hang rồi mới hỏi: “Nhúm lông này rụng lại từ cách đây bao lâu rồi?”
Triệu Khải chưa vội trả lời ngay. Ông ta ngồi thụp xuống, kiên nhẫn kiểm tra tiếp lớp đất nền xung quanh, tìm thấy thêm vài mẫu phân thú đã khô quắt, mấy vết móng vuốt cào xước trên mặt đá và một đoạn xương thú rừng đã bạc màu: “Quanh đây hoàn toàn không có bất kỳ dấu vết nào mới để lại cả.”
Tạ Vân bước lại gần hỏi: “Ước chừng khoảng thời gian chúng rời đi là bao lâu?”
“Chỉ nhìn mấy vết ngoài cửa này thì khó nói chính xác ngày tháng lắm, nhưng chắc chắn không phải là chuyện mới xảy ra trong vòng dăm ba ngày gần đây đâu.”
Không ai đưa ra thêm lời suy đoán vội vàng nào nữa. Cả sáu người cùng đưa tay kéo chiếc đèn đội đầu trên trán xuống đúng vị trí rồi bấm nút công tắc. Sáu luồng ánh sáng trắng đồng loạt bật lên, chiếu rọi rõ mồn một từng góc đá tối tăm bên trong hẻm núi. Triệu Khải chớp mắt mấy cái để làm quen với độ sáng, không kìm được mà buột miệng khen một câu: “Cái món đồ chiếu sáng này của các ngươi dùng tốt thật đấy.”
Đáng tiếc là Lê Mai Nam lại không có mặt ở đây để nghe lời khen ngợi trực tiếp đó, còn Hứa An ở nhà thì lại càng chẳng cần phải tốn công giải thích với ai. Triệu Khải vừa đưa tay chỉnh lại khóa dây đeo trên đầu cho vừa vặn vừa gật gù nói tiếp: “Hai bàn tay chẳng phải cầm giữ cái gì mà trước mặt vẫn sáng trưng.”
Soma đứng bên cạnh chỉ mỉm cười đáp gọn: “Trong kho của xưởng Tây Sơn lúc nào cũng có sẵn mấy món đồ kỳ quặc kiểu thế này.”
Triệu Khải quay sang nhìn cậu thanh niên tóc trắng: “Chuyện đó thì ta biết thừa rồi.”
Câu chuyện về chiếc đèn khép lại gọn lỏn ngay tại đó, tuyệt nhiên không một ai tò mò gặng hỏi xem nguồn gốc món đồ từ đâu mà ra.
Đoạn đường dẫn vào phần đầu của hang đá có vòm trần khá cao, nền đá dưới chân cũng tương đối bằng phẳng dễ đi. Khi tiến sâu vào bên trong, những dấu vết sinh hoạt cũ của đàn lang thú lại càng hiện ra rõ ràng hơn dưới ánh đèn. Có những túm lông thú mắc lại ở các gờ đá nhọn, những vệt móng vuốt cào mòn nhẵn trên lối đi quen thuộc, cùng vài góc hốc đá còn vương vãi xương cốt của những con mồi cũ. Thế nhưng trong không khí ẩm lạnh của hang đá lúc này hoàn toàn không còn vương lại mùi hôi đặc trưng của một đàn thú đang sinh sống. Không có tiếng gầm gừ hay tiếng bước chân lạo xạo, không có phân mới, cũng chẳng hề có bất kỳ dấu chân mới nào in trên lớp bụi đá.
Những chiếc đèn đội đầu phát huy tác dụng vượt trội hơn hẳn so với việc đốt đuốc lửa truyền thống. Luồng ánh sáng luôn di chuyển bám sát theo đúng hướng mắt nhìn của từng người, giải phóng hoàn toàn hai bàn tay để họ chủ động cầm dây thừng, đặt tay lên vũ khí hoặc cầm sổ vẽ lại sơ đồ. Quan trọng hơn cả là trong không gian hang kín hoàn toàn không bị khói đuốc làm cho cay mắt hay rơi tàn lửa xuống làm xáo trộn dấu vết trên mặt đất.
Khi cả đội tiến tới ngã ba đầu tiên trong lòng hang, tờ bản đồ phác thảo cũ của phái Lạc Hà ghi chú rất rõ rằng nhánh đường bên tay trái là lối đi chính rộng rãi hơn. Thế nhưng thực tế hiện ra trước mắt lại là toàn bộ nhánh đường bên trái đó đã bị một khối đá sập khổng lồ đổ xuống chắn kín gần hết lối đi.
Triệu Khải đứng nhìn đống đá ngổn ngang trước mặt, quay sang hỏi Soma: “Chỗ này chính là cái tình huống mà nếu thằng nhóc Harpe có mặt ở đây thì nó sẽ mở miệng nói câu ‘tôi đã bảo trước rồi mà’ đúng không?”
Soma bật cười gật đầu: “Chắc chắn là cậu ấy sẽ nói câu đó.”
Zero sải bước tiến lại gần khối đá sập. Hắn hoàn toàn không rút kiếm ra chém thử lấy lệ, mà chỉ rút một thanh Recoil Rod bên hông ra, dùng đầu gậy gõ nhẹ có tính toán vào vài điểm chịu lực trên vách đá rồi nghiêng đầu lắng nghe âm thanh vọng lại. Sau vài giây kiểm tra kết cấu, hắn thu gậy về và lắc đầu: “Kết cấu vòm đá phía trên chỗ này không ổn định đâu.”
Tạ Vân đứng phía sau nghe vậy hoàn toàn không hỏi xem Zero có đủ sức đấm vỡ khối đá chắn đường này hay không. Bà hỏi thẳng sang phương án tiếp theo: “Còn nhánh đường nào khác để đi tiếp không?”
Người đệ tử Lạc Hà cầm bản vẽ chỉ tay sang ngách hang bên phải: “Đi theo nhánh bên phải này vẫn có thể vòng xuống khoang chính được, miễn là đoạn đường nối ở phía sau chưa bị sập theo.”
Cả đội lập tức rẽ sang nhánh đường bên phải, tuyệt đối không có chuyện cố đấm ăn xôi lao vào phá dỡ chướng ngại vật chỉ vì trong đội có một người đủ sức chém nát tảng đá như Zero.
Càng đi sâu vào nhánh phụ, lòng hang càng thu hẹp dần lại, có những đoạn vách đá ép sát tới mức mọi người phải nghiêng ngang thân người mới lách qua nổi. Đi thêm được một quãng nữa thì một khe vực sâu hoắm bất ngờ xuất hiện cắt ngang lối đi. Bề rộng của miệng khe không lớn tới mức làm người ta tuyệt vọng, nhưng lại vượt quá giới hạn sải chân nhảy qua của những người bình thường không chuyên về thân pháp.
Triệu Khải dừng chân bên mép vực, chiếu đèn nhìn sang bờ đá bên kia: “Lần khảo sát của mười một năm trước hoàn toàn không có cái khe nứt này.”
Tạ Vân hỏi: “Quanh đây còn ngách nào khác để đi vòng qua không?”
Đối chiếu theo sơ đồ cũ thì đây đã là lối độc đạo duy nhất còn lại. Một khe nứt cỡ này thì cả Zero lẫn Soma đều có thể tự mình nhảy vọt qua dễ như trở bàn tay, nhưng hai người đệ tử Lạc Hà đi cùng thì chưa chắc đã đảm bảo an toàn tuyệt đối. Zero bước lên sát mép vực, dùng đầu thanh Recoil Rod nện thử vài cái xuống gờ đá để kiểm tra độ cứng rồi gật đầu xác nhận nền đá chỗ này đủ chắc chắn.
Tạ Vân lập tức tháo cuộn dây thừng bên hông ra. Triệu Khải vừa định bước lên nhận lấy đầu dây để tìm cách sang bờ bên kia trước thì Soma đã đưa tay lắc đầu: “Cứ đưa đầu dây đây để tôi mang sang trước cho nhanh.”
Cậu thanh niên tóc trắng hoàn toàn không cần phải lùi lại lấy đà chạy nhảy theo lối thông thường. Năng lực Malphas được kích hoạt ngay khi đôi giày vừa nhấc khỏi mặt đất. Một bước đạp chân nhảy vọt lên khoảng không, rồi ngay giữa không trung đôi chân cậu lại đạp tiếp một nhịp thứ hai nhẹ nhàng như bước trên bậc thang vô hình. Thân hình Soma lướt qua miệng vực sâu, đáp xuống bờ đá bên kia nhẹ bẫng tới mức dù Triệu Khải đã nhìn thấy cảnh tượng này không biết bao nhiêu lần suốt mấy năm qua nhưng vẫn cảm thấy chướng mắt như cũ.
Triệu Khải đứng ở bờ bên này bĩu môi nói vọng sang: “Ta vẫn ghét cái trò đạp không khí đó của ngươi.”
Soma vừa cúi xuống tìm chỗ buộc dây vừa quay đầu lại đáp: “Câu đó ông đã nói đi nói lại suốt mấy năm trời rồi đấy.”
“Thì tới năm nay nhìn lại vẫn thấy đúng như thế.”
Soma vòng đầu dây thừng buộc chặt vào một mỏm đá lớn vững chãi. Ngay sau đó, Zero cũng nhẹ nhàng bật nhảy sang bờ bên kia, dùng thanh Recoil Rod đóng ghim hỗ trợ cố định điểm neo dây cho thật chắc chắn. Khi sợi dây thừng đã được kéo căng ngang qua miệng vực, những người còn lại mới bắt đầu lần lượt bám dây di chuyển sang. Người đệ tử Lạc Hà đi đầu tiên vừa mới bước chân đặt lên mỏm đá gồ ghề thứ hai ở giữa khe thì vô tình làm trượt một hòn đá nhỏ rơi tọt xuống vực sâu tối thăm thẳm. Nghe tiếng đá va đập vọng lên từ dưới đáy sâu, anh ta lập tức đứng sững lại tại chỗ, hai bàn tay nắm chặt lấy sợi dây thừng tới mức các đốt ngón tay trắng bệch cả ra.
Đi ngay phía sau lưng, Triệu Khải liền trầm giọng nhắc: “Cứ nhìn thẳng vào chỗ đặt chân phía trước, đừng có cúi đầu ngó xuống dưới đáy vực làm gì.”
Ở bờ bên kia, Soma cũng lập tức tắt hẳn nụ cười trên môi, hai tay nắm giữ chặt đầu dây thừng trong lúc Zero đứng trụ ghì cứng điểm neo. Cả đội mất thêm gần một khắc đồng hồ cẩn trọng mới đưa được toàn bộ nhân sự sang hết bờ bên kia an toàn. Vừa đặt chân lên nền đá phẳng, người đệ tử Lạc Hà ban nãy liền ngồi thụp xuống thở dốc một lúc rồi mới cúi đầu buộc chặt lại giày. Tạ Vân kiên nhẫn đứng đợi cho tới khi nhịp thở của người đệ tử ấy ổn định trở lại như cũ rồi mới phất tay ra hiệu cho cả đoàn tiếp tục lên đường.
Tiến sâu thêm vào trong lòng núi, độ dốc của nền hang bắt đầu chúc hẳn xuống phía dưới. Đây cũng chính là khu vực mà cấu trúc thực tế của hang động biến đổi khác biệt rõ rệt nhất so với tấm bản đồ vẽ từ mười một năm trước. Toàn bộ một đoạn nền đá dài phía trước đã bị sụt lún xuống, tạo thành một cái miệng giếng đá dốc đứng dẫn thẳng xuống tầng hang bên dưới. Ánh sáng trắng từ những chiếc đèn đội đầu rọi xuống chưa thể nhìn thấu tới tận đáy giếng ngay lập tức.
Triệu Khải đứng ở mép trên cúi nhìn xuống hố sụt: “Chẳng lẽ đàn lang thú ở đây lại leo lên leo xuống qua cái miệng giếng dốc đứng này?”
Tạ Vân đưa tay chỉ vào phần mép đá còn sót lại ở rìa bên phải. Trên bề mặt lớp đá cũ ở đó vẫn còn lưu lại những vết móng vuốt cào xước lâu năm, hoàn toàn không nằm ở phần đá mới bị nứt gãy do sụt lún. Điều đó chứng tỏ tầng hang bên dưới vốn dĩ là nơi đàn thú thường xuyên qua lại từ trước, chỉ có điều con đường dốc thoai thoải ngày xưa nay đã bị sụt mất một mảng lớn.
Soma bước tới sát mép giếng đá, cúi nhìn xuống khoảng tối bên dưới rồi lên tiếng: “Cứ đứng chờ trên này một lát để tôi bay xuống dưới đó ngó thử xem sao.”
Ngay khi dứt lời, năng lực Bat Company lập tức được kích hoạt. Toàn bộ cơ thể của Soma tan biến thành một đàn dơi nhỏ ngay dưới luồng ánh sáng đèn đội đầu của mọi người, còn chiếc đèn của chính cậu thì đã được tháo ra đặt lại ngay ngắn trên mỏm đá bên cạnh. Triệu Khải đứng khoanh tay nhìn đàn dơi vỗ cánh bay lượn vòng xuống lòng giếng sâu, chép miệng lẩm bẩm: “Mấy cái trò biến hình này của nó đúng là có nhìn bao nhiêu lần cũng chẳng tài nào quen mắt nổi.”
Zero đứng ngay bên cạnh chỉ đáp gọn một tiếng: “Ừ.”
Triệu Khải ngạc nhiên quay ngoắt đầu sang nhìn chàng chiến binh giáp đỏ: “Chính ngươi nhìn cảnh đó mà cũng thấy kỳ lạ cơ à?”
Zero điềm tĩnh trả lời: “Thấy một cơ chế kỳ lạ không đồng nghĩa với việc bị bất ngờ.”
Triệu Khải đứng ngẫm nghĩ mất vài giây rồi gật gù: “Nghe cũng có lý đấy.”
Đàn dơi bay thẳng xuống tầng hang bên dưới để thám thính. Chỉ một lát sau, bóng dáng của chúng đã vỗ cánh bay ngược trở lên miệng giếng và tụ lại thành hình người của Soma như cũ. Cậu cầm chiếc đèn đội đầu đeo lại lên trán rồi báo cáo kết quả: “Bên dưới có nền đất đá rất rộng, tính từ miệng giếng này thả dây xuống tới đáy sâu khoảng chừng hai mươi trượng.”
Một người đệ tử Lạc Hà bước tới hỏi: “Vách đá bên dưới có chỗ để người thường leo xuống được không?”
“Dọc theo vách giếng nghiêng có khá nhiều gờ đá nhô ra để đặt chân bám vào, chỉ cần thả dây thừng hỗ trợ là trèo xuống được, không cần ai phải liều mạng nhảy tự do đâu.”
Tạ Vân nghe xong liền quyết định cho cả đội xuống tầng dưới. Những cuộn dây thừng dài lập tức được nối lại và thả xuống lòng giếng đá. Zero chủ động dùng cặp Recoil Rod hỗ trợ hãm lực để tụt xuống trước một đoạn, vừa đi vừa kiểm tra độ chắc chắn của các mỏm đá làm điểm tựa chân dọc theo vách giếng. Về phần Soma, ở đoạn vách thẳng đứng dài nhất, cậu chỉ kích hoạt nhẹ năng lực Flying Armor để làm giảm tốc độ rơi của cơ thể, giúp mình đáp chuyển tiếp giữa các mỏm đá một cách êm ái. Lượng ma lực dự trữ trong cơ thể lúc nào cũng phải được tính toán chi dùng có lý do rõ ràng, phòng trường hợp dưới đáy hang thực sự có biến cố cần tới hỏa lực mạnh.
Khi Triệu Khải đặt chân chạm tới nền đá của tầng hang bên dưới, ông ta vừa phủi lớp bụi đá bám trên lòng bàn tay vừa lắc đầu nhìn Soma: “Trong người ngươi đúng là có quá nhiều mánh khóe để đi đường.”
Soma mỉm cười đáp lại: “Dù tôi có xuống dưới này nhanh bằng cách nào thì cuối cùng vẫn phải đứng đây chờ các ông leo dây xuống đủ mới đi tiếp được mà.”
“Đấy chính là cái lý do duy nhất làm cho ta cảm thấy dễ chịu hơn một chút khi đi cùng ngươi.”
Hai người đệ tử trẻ của phái Lạc Hà đứng gần đó nghe cuộc đối đáp ấy mà chẳng biết hai vị này đang nói thật hay nói đùa bao nhiêu phần. Riêng trưởng lão Tạ Vân thì đã quá hiểu tính nết của cả hai nên bà hoàn toàn không bận tâm tham gia vào câu chuyện.
Khoang hang rộng lớn ở tầng dưới này mới thực sự là sào huyệt chính của đàn yêu thú. Mùi hôi đặc trưng của động vật tích tụ lâu năm ở đây nồng hơn hẳn tầng trên, dù đã phai nhạt đi nhiều vì không có thú ở. Dọc theo nền hang có rất nhiều những hõm đất trũng lớn được lót bằng lông thú rụng cùng cỏ cây khô đã mục. Đó là những cái ổ nằm của cả một bầy lang thú đông đúc chứ không phải chỉ có một hai cá thể đơn lẻ.
Vừa bước vào khoang chính, cả Triệu Khải lẫn Tạ Vân đều lập tức dừng chân lại. Sáu luồng sáng đèn đội đầu chậm rãi quét qua khắp các góc hang. Soma nhìn thấy ở góc vách đá phía xa có một đống xương thú nằm lăn lóc, nhìn hình dáng hộp sọ thì có vẻ là xác của một con hươu nhỏ bị xé xác ăn dở. Thế nhưng toàn bộ phần xương cốt đó đều đã khô trắng từ lâu, hoàn toàn không phải là thức ăn vừa mới bị bỏ lại cách đây vài bữa.
Tạ Vân bước tới ngồi xuống bên cạnh một cái ổ lớn, quan sát kỹ rồi lên tiếng: “Trong đàn lang thú này lúc trước có cả thú non.”
Triệu Khải cũng lập tức cúi người xuống kiểm tra lớp đất mềm ở rìa ổ nằm. Trên nền đất khô vẫn còn lưu lại chi chít những vết chân thú có kích thước nhỏ hơn hẳn dấu chân trưởng thành: “Đúng là có con non thật, mà số lượng cũng không ít đâu.”
Người đệ tử Lạc Hà đứng phía sau nhận định: “Theo tập tính tự nhiên thì một khi trong bầy đang có con non mới đẻ, đàn lang thú sẽ rất hiếm khi chịu rời bỏ hang ổ cố định của mình.”
“Đúng thế.” Tạ Vân đứng thẳng dậy, phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn bộ khoang hang trống trải: “Trừ phi chúng bị một áp lực nào đó ép buộc phải dời đi.”
Trong khoang hang yên tĩnh, không một ai vội vã thốt ra cái cụm từ "thứ gì đó ở phía bắc". Chừng ấy dữ kiện vẫn chưa đủ để kết luận bất cứ điều gì. Cả đội lập tức tản ra tìm kiếm thêm dấu vết quanh khoang chính. Triệu Khải kiên nhẫn lần theo các lối mòn ra vào quanh khu vực ổ nằm. Phần lớn các dấu chân in trên nền đất khô đều đã quá cũ kỹ và chồng chéo lên nhau nên không thể đọc chính xác hướng di chuyển cuối cùng được nữa.
Thế nhưng khi rà soát tới một đoạn nền đất trũng còn giữ được độ ẩm nằm gần lối ngách phụ, ông ta đã phát hiện ra một chuỗi dấu chân còn giữ nguyên vẹn hình dáng tốt hơn hẳn. Những vết chân ấy tuy không phải mới in hôm qua, nhưng đường nét móng vuốt vẫn còn rất rõ ràng. Hàng chục dấu chân lớn nhỏ khác nhau giẫm chồng lên nhau, tất cả đều hướng mũi chân về cùng một phía duy nhất, đó là hướng đi ra khỏi khoang hang.
Soma bước tới đứng cạnh nhìn xuống vệt đất, hỏi ngắn gọn: “Có khi nào là cả bầy kéo nhau ra ngoài đi săn mồi không?”
Triệu Khải lắc đầu phủ nhận ngay: “Tập tính đi săn của loài lang thú này không bao giờ kéo rồng rắn cả bầy đi sạch không chừa lại con nào trông ổ như thế.”
Tạ Vân cũng cúi nhìn những vết chân bé xíu in lẫn ở giữa: “Hơn nữa trong đám dấu chân đi ra này có cả dấu của toàn bộ bầy thú non.”
Người đệ tử Lạc Hà rà soát kỹ thêm một đoạn nền đất xung quanh rồi ngẩng lên báo cáo: “Hoàn toàn không tìm thấy bất kỳ dấu chân nào quay ngược trở lại trong hang cả.”
Câu xác nhận ấy làm cho bầu không khí bên trong khoang đá như trầm hẳn xuống. Đàn yêu thú này rõ ràng không phải đã bị một kẻ địch hùng mạnh nào đó xông vào tận ổ giết sạch. Nếu thực sự xảy ra một cuộc tàn sát đẫm máu ngay trong lòng hang, nơi này bắt buộc phải còn lưu lại xác chết, vết máu khô, xương cốt mới gãy cùng những dấu vết cào xé hỗn loạn của một trận giao tranh sinh tử. Đằng này các ổ nằm vẫn còn nguyên hình dạng, phần xương con mồi cũ vẫn nằm yên ở góc đá, chỉ có dấu chân của toàn bộ bầy thú lớn nhỏ kéo nhau rời khỏi hang rồi một đi không trở lại.
Triệu Khải đứng dậy, buông ra hai chữ ngắn gọn: “Chúng bỏ hang đi rồi.”
Tạ Vân khẽ gật đầu đồng tình. Soma đưa mắt nhìn theo hướng của chuỗi dấu chân đang dẫn sâu vào ngách đá phụ rồi đặt câu hỏi: “Vậy lúc rời khỏi đây thì chúng chạy về hướng nào?”
Ngách hang phụ này hoàn toàn không hề được vẽ trên tấm bản đồ cũ của phái Lạc Hà. Đó là một khe đá hẹp dẫn xiên về phía nam của hệ thống hang động chứ tuyệt nhiên không phải hướng ngược lên vùng rừng núi phía bắc. Triệu Khải rút chiếc la bàn cầm tay đơn giản ra khỏi túi áo, đặt lên lòng bàn tay để đối chiếu phương hướng một lần nữa rồi khẳng định: “Hướng đi này là chạy lùi ra xa khỏi vùng phía bắc.”
Cả sáu người đều giữ im lặng mất vài giây đồng hồ. Đây chính xác là mảnh ghép dữ liệu mà họ lặn lội tới tận đây để xác nhận. Thứ quan trọng nhất trong chuyến đi này vốn dĩ không phải là tìm xem có con quái vật nào đang ẩn nấp ở trong hang hay không, mà là xác nhận xem cái thứ từng sống lâu năm ở đây đã bỏ đi theo cách nào.
Khe đá phụ dẫn theo dấu chân của bầy thú hẹp hơn hẳn so với đường hang chính ban nãy. Và ở một địa hình chật hẹp nhiều vách đá khuất như thế này, năng lực Peeping Eye của Soma bắt đầu phát huy đúng giá trị của nó. Cậu bật năng lực quan sát đặc biệt này lên để nhìn thấu kết cấu bất thường của vách đá. Khi cả đội đi tới một đoạn ngách hang trông bề ngoài giống hệt như một bức tường đá cụt chặn đứng trước mặt, Soma liền giơ tay ra hiệu dừng bước: “Ở bức vách phía trước có một mảng kết cấu có thể phá thông qua được.”
Triệu Khải chiếu đèn rọi kỹ lên mặt đá trước mặt, ngơ ngác hỏi: “Chỗ nào cơ? Ta nhìn thấy nguyên một vách đá liền khối mà.”
Soma bước lên một bước, đưa ngón tay chỉ thẳng vào một mảng đá có màu sắc chỉ hơi lệch đi một chút xíu so với phần vách xung quanh: “Chính là mảng này.”
Zero lập tức bước tới kiểm tra trực tiếp. Phần chắn ngang trước mặt họ quả thực không phải là vách núi nguyên khối tự nhiên, mà là một đống đá vụn cùng bùn đất đã kết tảng lại với nhau sau một vụ sạt lở nhỏ từ lâu, độ dày vừa đủ để bịt kín lối đi phía trên nhưng kết cấu bên trong lại rỗng và yếu hơn đá tảng rất nhiều.
Tạ Vân đứng phía sau cẩn trọng hỏi: “Nếu bây giờ mình động tay dỡ bỏ mảng đá bịt lối này ra thì vòm trần phía trên có đảm bảo an toàn không?”
Zero đưa tay gõ kiểm tra kỹ hai bên vách chịu lực rồi gật đầu: “Phần khung đá nguyên khối ở phía trên vẫn rất vững, có thể dỡ phần đá vụn này ra được.”
Tuyệt nhiên không một ai trong đội vung kiếm hay tung chưởng lực lớn để phá đá gây chấn động lòng hang. Cả nhóm phối hợp tháo dỡ chướng ngại vật một cách thủ công và chuẩn xác. Những tảng đá nhỏ phía ngoài được dọn ra bằng tay không, còn những khối đá lớn hơn bị kẹt cứng thì Zero dùng đầu thanh Recoil Rod chọc vào khe hẹp để bẩy nhích ra từng chút một với sự hỗ trợ của Soma.
Mất gần nửa canh giờ đồng hồ kiên nhẫn dọn dẹp, một lối thông nhỏ hẹp phía sau bức tường đá vụn đã lộ diện. Ngay khi hòn đá chắn cuối cùng được kéo sập xuống, một luồng gió lạnh từ phía bên kia lập tức lùa qua khe hở thổi vào mặt mọi người. Luồng gió tuy không mạnh nhưng mang theo mùi không khí tươi mới của rừng cây bên ngoài.
Triệu Khải lập tức cúi người chui qua khe đá trước tiên, rọi đèn xuống mặt đất phía bên kia. Chuỗi dấu chân của đàn lang thú lại tiếp tục hiện ra trên nền đất mềm, thậm chí còn in rõ nét hơn hẳn đoạn ở trong khoang chính. Ông ta bước đi hết sức chậm rãi, mắt dán chặt xuống mặt đất. Toàn bộ những người đi sau đều tự giác giữ khoảng cách không ai bước vượt lên trước để tránh giẫm hỏng hiện trường, bởi đọc dấu vết đường rừng vốn là chuyên môn sở trường của Triệu Khải.
Đi dò theo vệt đất được một quãng dài, Triệu Khải dừng chân lại và cất tiếng kết luận: “Đoàn thú lúc đi qua ngách này là đang tháo chạy chứ không phải đi bộ di cư bình thường.”
Soma cúi nhìn xuống mặt đất dưới chân, hỏi lại: “Dấu vết tháo chạy thì khác gì so với lúc chúng đi lại bình thường?”
“Khoảng cách giữa các bước sải chân dài hơn hẳn, đầu móng vuốt cắm ngập rất sâu xuống đất mềm, và đội hình di chuyển của cả bầy hoàn toàn không giữ hàng lối trật tự nào cả.” Triệu Khải vừa giải thích vừa chỉ tay vào một vết chân nhỏ xíu dưới đất đã bị một dấu chân thú lớn giẫm đè chồng lên một nửa: “Lúc chui qua đoạn hẹp này, đám con non đi chậm đã bị chính những con lớn trong bầy hoảng loạn chen lấn giẫm đè lên vết chân.”
Đi thêm vài bước nữa, trên sườn đất nghiêng còn lưu lại cả những vệt móng vuốt trượt dài do phanh gấp hoặc mất đà. Tạ Vân cúi xuống nhìn kỹ vết trượt đó mà không cần hỏi thêm bất kỳ câu nào nữa. Bà đã hiểu rõ toàn bộ diễn biến. Một đàn lang thú sinh sống lâu năm ở đây hoàn toàn không phải chủ động dọn ổ đi tìm vùng đất mới theo mùa, mà chúng đã tháo chạy khỏi sào huyệt của chính mình trong trạng thái hoảng sợ.
Đoạn khe đá hẹp cuối cùng cũng mở thông ra một vách núi nhỏ nằm khuất bên sườn của hẻm núi đá. Ánh sáng tự nhiên của buổi chiều tà bên ngoài lọt qua tán cây rừng chiếu rọi vào cửa ngách. Khi cả đội sáu người lần lượt chui ra khỏi lòng núi thì mặt trời cũng đã ngả hẳn về tây. Đứng từ vị trí sườn núi này phóng tầm mắt ra xa, họ đã có thể nhìn thấy toàn bộ triền đồi thoải dần về phía nam.
Triệu Khải lập tức đi vòng quanh khu vực đất trống gần cửa ngách để tìm kiếm tiếp. Những dấu chân thú ở ngoài trời phần lớn đã bị nước mưa đầu xuân và thời gian xóa nhòa đi gần hết, nhưng ở vài hốc đất khuất dưới gốc cây cổ thụ vẫn còn sót lại đủ dấu tích để khẳng định đàn lang thú sau khi chui ra khỏi ngách đá đã tiếp tục cắm đầu chạy thẳng xuống phía nam hẻm núi, tuyệt nhiên không hề có bất kỳ vết chân nào vòng ngược lên hướng bắc.
Trong lúc đó, trưởng lão Tạ Vân đã bước lên đứng trên một tảng đá cao, quay đầu nhìn ngược về phía vùng rừng núi trùng điệp ở hướng bắc. Trước tầm mắt bà lúc này hoàn toàn không có bất kỳ cảnh tượng dị thường nào. Chỉ có những cánh rừng già im lìm, những triền đồi nối tiếp nhau và vài dải mây chiều mỏng mảnh trôi lững lờ trên nền trời. Toàn bộ vùng núi phía bắc tĩnh lặng một cách tuyệt đối. Và chính cái sự yên ắng phẳng lặng như tờ ấy lại càng làm cho kết quả khảo sát vừa tìm thấy trong lòng hang trở nên đáng ngại hơn gấp bội.
Soma bước lên đứng cạnh tảng đá, hỏi khẽ: “Đứng ở đây trưởng lão có cảm nhận được luồng khí tức nào khác lạ không?”
Tạ Vân khẽ lắc đầu: “Tại khu vực này hoàn toàn không cảm nhận được bất kỳ dao động linh khí quy mô lớn nào cả.”
“Là chỉ tính ở thời điểm hiện tại thôi đúng không ạ?”
“Ừ, chỉ tính ở thời điểm hiện tại.”
Không một ai trong đội lấy sự bình yên của hiện tại ra để phủ nhận những dấu vết tháo chạy trong quá khứ. Một người đệ tử Lạc Hà bước tới hỏi xin ý kiến: “Bây giờ chúng ta có tiếp tục lần theo hướng dấu chân chạy xuống phía nam luôn không thưa trưởng lão?”
Tạ Vân ngước mắt nhìn sắc trời đang tối dần trên đỉnh đầu rồi dứt khoát lắc đầu: “Hôm nay dừng lại ở đây thôi, để sáng ngày mai trời quang đãng rồi mới đi tiếp.”
Một quyết định hết sức thực tế và chuẩn mực. Chẳng có lý do gì phải cắm đầu đuổi theo những dấu vết đã cũ mèm khi màn đêm sắp sửa buông xuống giữa rừng sâu, lại càng không thể vì vừa mới tìm ra được một manh mối thú vị mà quên mất rằng cả đội đang đứng ở vùng hẻm núi nằm ngoài phạm vi phủ sóng của bộ đàm liên lạc.
Đêm hôm ấy, cả nhóm sáu người chọn một khoảng đất cao ráo nằm gần cửa hang để dựng trại nghỉ qua đêm. Và một lần nữa, những chiếc đèn đội đầu mang theo từ xưởng Tây Sơn lại chứng minh giá trị thực dụng tuyệt vời của chúng. Chẳng cần phải nói tới chuyện khám phá bí mật cổ đại gì cho cao siêu, chỉ riêng việc cả sáu con người có thể thoải mái nhóm bếp nấu nước, kiểm tra lại trang bị vũ khí và ngồi đối chiếu ghi chép bản đồ giữa đêm tối mà không ai phải khổ sở dùng một bàn tay cầm đuốc lửa đã là một sự tiện lợi vượt bậc rồi.
Triệu Khải ngồi xếp bằng bên cạnh Soma, vừa nhai miếng lương khô cứng ngắc vừa gật gù nói: “Đi chung chuyến này ta mới bắt đầu hiểu ra vì sao cái xưởng Tây Sơn của các ngươi lúc nào cũng tích trữ lắm món đồ kỳ cục tới thế.”
Soma uống một ngụm nước ấm trong bình rồi đáp: “Lát nữa về tới thành Thanh Hà thì ông làm ơn đừng có nói lại câu khen đó trước mặt Nam đấy nhé.”
“Sao lại không được nói?”
“Nghe xong câu đó là mặt cậu ấy lại vênh lên tự hào suốt cả tháng cho mà xem.”
Triệu Khải bật cười khanh khách. Ở phía bên kia đống lửa nhỏ, Zero đang ngồi lặng lẽ lau chùi và kiểm tra lại trục khớp của cặp Recoil Rod, trong khi trưởng lão Tạ Vân cùng hai người đệ tử Lạc Hà đang chụm đầu vào nhau ghép nối các trang ghi chép thực địa trong ngày. Bầu không khí quanh khu trại nhỏ hoàn toàn không mang vẻ căng thẳng của một toán thợ săn đang đi lùng giết đại yêu, họ đơn thuần chỉ là một nhóm người làm việc chuyên nghiệp đang đi thu thập dữ kiện cho một hiện tượng bất thường mà chưa ai muốn vội vàng đặt tên.
Nhai xong miếng lương khô trong miệng, Triệu Khải chợt hạ thấp giọng hỏi Soma: “Theo ngươi thì cái thứ ở phía bắc dọa cho cả bầy lang thú này phải bỏ hang tháo chạy rốt cuộc là cái gì?”
Soma đáp gọn: “Tôi không biết.”
“Ngươi không thử đoán xem sao à?”
“Nếu chỉ ngồi đoán mò không căn cứ thì có mà đoán ra được hàng chục khả năng khác nhau.”
“Thì ngươi cứ thử nêu vài ví dụ xem nào.”
Soma ngước mắt nhìn về phía màn đêm đen đặc ở hướng bắc một lúc lâu rồi mới thong thả liệt kê: “Có thể là một con yêu thú cấp cao hơn vừa mới di cư tới chiếm vùng đất phía trên. Có thể là dưới lòng đất vùng đó vừa xuất hiện một thứ gì đó tiết ra khí tức làm các loài thú rừng cảm thấy bức bối khó chịu. Cũng có thể đơn thuần là sự biến đổi của môi trường tự nhiên, hoặc một thực thể nào đó vốn chẳng thèm đi săn giết bọn lang thú nhưng sự hiện diện của nó lại khiến không một sinh vật nào dám nán lại gần.”
Triệu Khải nghe xong thì gật gù: “Những khả năng ngươi vừa kể ra thì chính ta cũng nghĩ tới rồi.”
“Ông cũng nghĩ ra giống hệt thế rồi thì còn quay sang hỏi tôi làm cái gì nữa?”
“Ta hỏi thử xem trong đầu ngươi có định lôi tên một con ma vương cổ đại nào đó ra để dọa người không thôi.”
Soma quay đầu sang nhìn ông ta với vẻ mặt cạn lời: “Ông làm như ở thế giới nào hễ có chuyện bất thường là cũng phải có một ma vương ngồi đằng sau giật dây không bằng ấy.”
Triệu Khải phì cười. Ngồi cách đó không xa, trưởng lão Tạ Vân có nghe loáng thoáng được vài chữ cuối của cuộc trò chuyện, nhưng bà hoàn toàn không quay sang hỏi xem cái tên ma vương kia là nhân vật nào. Thế là rất tốt.
Sáng sớm ngày hôm sau, cả đội thu dọn lều trại rồi tiếp tục lên đường lần theo hướng tháo chạy của đàn lang thú về phía nam. Do dấu vết để lại trên mặt đất đều đã khá cũ, Triệu Khải chủ động bỏ qua toàn bộ những đoạn nền đá cứng không thể lưu giữ vết chân, chỉ tập trung dẫn đoàn đi kiểm tra những điểm địa hình nút thắt mà một bầy thú lớn bắt buộc phải đi ngang qua như các khe suối hẹp, những bãi bùn trũng ven nước và các hẻm đất kẹp giữa hai sườn đồi.
Đi qua một khe đá hẹp, rồi tới một bãi đất mềm và một đoạn bờ suối cạn, Triệu Khải lại đọc thêm được một loạt các điểm dữ liệu mới. Đặc biệt là tại một bãi bùn cũ nằm ven con suối cạn ở phía nam hẻm núi, ông ta đã phát hiện ra dấu chân của rất nhiều loài động vật khác nhau chứ không còn chỉ có mỗi mình đàn lang thú nữa. Trên lớp bùn đã se khô in hằn cả dấu móng của các loài thú ăn cỏ móng guốc lẫn những loài thú nhỏ sống dưới tán rừng thấp. Và điểm trùng hợp đáng chú ý nhất là phần lớn các vệt dấu chân ấy đều đang di chuyển theo cùng một trục hướng chung, đó là rút lui ra khỏi khu vực rừng núi phía bắc.
Tạ Vân đứng bên bờ suối cúi nhìn bãi dấu chân hỗn tạp ấy rất lâu rồi mới nhận xét: “Độ khô của những lớp dấu chân này khác nhau, chứng tỏ chúng không phải cùng tháo chạy trong đúng một ngày.”
Triệu Khải đứng dậy phủi tay, gật đầu xác nhận: “Không đi cùng một ngày, nhưng tất cả đều chọn chạy về cùng một hướng.”
Soma quan sát địa hình xung quanh rồi đặt câu hỏi để loại trừ khả năng tự nhiên: “Ở vùng núi Thanh Hà này hàng năm có mùa nào mà các loài thú rừng tự động di cư xuống vùng đất thấp kiểu như thế này không?”
Hai người đệ tử Lạc Hà đứng cạnh nhìn nhau trao đổi nhanh, sau đó một người lên tiếng đáp: “Vào những đợt rét đậm cuối mùa đông thì cũng có hiện tượng một số loài thú ăn cỏ di chuyển xuống các thung lũng thấp để kiếm thức ăn và tránh gió lạnh.”
Tạ Vân lập tức chỉ ra điểm mâu thuẫn: “Nhưng hiện tại đã bước sang tiết đầu xuân ấm áp rồi.”
“Có khả năng những dấu chân in trên bùn này đã được để lại từ hồi cuối mùa đông năm ngoái.”
“Dù có tính là dấu vết từ cuối đông thì tập tính tránh rét thông thường cũng không thể khớp với toàn bộ các loài thú săn mồi cùng bỏ ổ chạy chung một hướng như thế này được.”
Trong đội vẫn không một ai cố tình gượng ép các mảnh dữ kiện rời rạc lại để dựng lên một kết luận chắc nịch ngay tại chỗ. Họ cẩn thận đánh dấu tọa độ bãi bùn lên bản đồ rồi lại tiếp tục lên đường.
Tới khoảng giữa trưa, lộ trình khảo sát của cả đoàn bị cắt ngang bởi một dòng suối chảy xiết. Lòng suối tuy không quá rộng nhưng lưu lượng nước đổ về lại mạnh và sâu hơn hẳn ngày thường do băng tuyết cùng nước mưa đầu xuân từ trên các đỉnh núi cao dồn xuống. Với một chướng ngại vật cỡ này, bản thân Zero chỉ cần đạp chân bật nhảy một cái là qua, còn Soma thì lại càng có thừa các loại năng lực linh hồn khác nhau để vượt suối mà không dính một giọt nước.
Thế nhưng ngay vào khoảnh khắc Soma vừa mới đưa mắt nhắm chừng khoảng cách rộng nhất của dòng nước để chuẩn bị bật nhảy, cánh tay rắn chắc của Triệu Khải đã vươn ngang ra chặn ngay trước ngực cậu: “Khoan đã, chỗ này phải giăng dây thừng qua trước. Ta cần đưa cả đội sáu người sang bờ an toàn cùng một lượt, chứ không cần hai người các ngươi bay vèo sang bên kia đứng khoanh tay ngó bốn người còn lại tự xoay xở.”
Soma nhìn cánh tay đang chắn trước mặt mình thì bật cười: “Ông vẫn còn đang để bụng chuyện tôi nhảy trước ở cái khe đá trong hang hôm qua đấy à?”
“Ta đang nhớ cực kỳ rõ cái cảnh tượng ở khe đá ngày hôm qua đấy.” Triệu Khải vừa nói vừa tháo cuộn dây thừng lớn khỏi ba lô rồi quay sang nhìn Zero: “Phiền ngươi sang kiểm tra giúp ta cái mỏm đá nhô ra ở bờ bên kia trước xem sao. Phiến đá nằm lập lờ ở giữa dòng nước kia nhìn qua có vẻ không được chắc chắn cho lắm.”
Zero bước xuống sát mép nước, dùng đầu thanh Recoil Rod chọc thử vào phiến đá gần bờ rồi mới bật người nhảy vọt sang bờ bên kia để kiểm tra thực địa. Sau vài giây xem xét nền đất, hắn quay lại nói vọng qua tiếng nước chảy: “Nền đất ở sát mép bờ bên này cũng bị nước ngâm mềm nhão cả rồi, không đóng cọc neo ở sát bờ được đâu, phải kéo dây lên buộc vào thân cây cổ thụ ở phía trên kia mới giữ chắc được.”
Triệu Khải nghe vậy thì thở phào một hơi, quay sang lườm Soma một cái: “Đấy, ngươi thấy chưa. Đi đường rừng là cứ phải để cho người biết tính toán công việc làm trước.”
Soma chỉ biết bật cười lắc đầu, không cãi lại câu nào. Cả đội lại tiếp tục sử dụng dây thừng để vượt suối. Phương án thủ công này tuy tốn nhiều thời gian hơn một chút nhưng đảm bảo cả sáu người trong đoàn đều di chuyển qua sông theo cùng một quy trình an toàn. Trong lúc hỗ trợ đồng đội căng dây, Soma cũng chỉ lặng lẽ kích hoạt năng lực Procel khi chính cậu phải lội xuống đoạn nước ngập ngang đùi có đá rêu trơn trượt để giữ cố định một đầu dây cáp, tận dụng đặc tính kháng lực nước chảy của viên Soul giúp đôi chân đứng vững vàng không bị dòng nước xiết cuốn lệch đi. Ngay khi người cuối cùng đã bám dây đi qua khỏi đoạn nước sâu, cậu lập tức ngắt năng lực đi ngay.
Đứng ở trên bờ đất khô ráo nhìn xuống, Triệu Khải lập tức nhận ra sự khác thường vừa rồi: “Lại thêm một cái năng lực kỳ quái nữa vừa mới được bật lên đấy hả?”
Soma vừa vắt nhẹ gấu quần ướt vừa đáp: “Ông có muốn tôi viết hẳn một bản danh sách toàn bộ các năng lực đang có ra giấy cho ông đọc dần không?”
“Không thèm.”
“Không muốn đọc thì đừng có đứng đó hỏi mãi thế.”
“Ta có thèm mở miệng hỏi ngươi câu nào đâu, ta chỉ đang tự nói một mình thôi.”
Trưởng lão Tạ Vân là người bước lên bờ sau cùng. Nghe hai người họ đấu khẩu qua lại, bà cũng phải lên tiếng hỏi Triệu Khải: “Ông đã đi rừng chung với hai người bọn họ suốt bao nhiêu chuyến từ năm ngoái tới giờ rồi mà mỗi lần nhìn thấy mấy chiêu đó vẫn còn thấy ngạc nhiên cơ à?”
Triệu Khải vừa thu dây vừa đáp: “Ta đâu có ngạc nhiên.”
“Không ngạc nhiên thì làm sao?”
“Chỉ là nhìn thấy cái kiểu đi đường tốn ít sức lực đó của hắn thì trong lòng thấy khó chịu thế thôi.”
Soma bật cười thành tiếng. Ở bên bờ suối vừa mới vượt qua, Triệu Khải cố tình đứng nán lại tháo mở nút buộc dây thừng trên thân cây thật chậm rãi để bắt Soma phải đứng chờ mình thêm một lát cho bõ ghét. Soma mở miệng định lên tiếng giục ông ta nhanh tay lên, nhưng khi nhìn thấy mười đầu ngón tay của người tán tu đã bám đầy bùn đất lạnh buốt vì giữ dây cho cả đoàn vượt suối, cậu liền ngậm miệng lại không nói gì nữa. Đợi cho tới khi Tạ Vân điểm danh xác nhận toàn bộ sáu người đều đã lên đứng ở triền đất cao an toàn, bà mới ra hiệu cho mọi người thu cất dây thừng vào ba lô.
Đoàn khảo sát sáu người quay trở về tới thành Thanh Hà vào lúc chiều muộn của ngày thứ ba, mang theo những tờ giấy vẽ sơ đồ thực địa đã hơi nhăn nhúm vì dính hơi nước rừng sâu. Lúc họ bước qua cổng xưởng Tây Sơn, Harpe đã ngồi đợi sẵn ở ngay chiếc bàn làm việc của Hứa An.
Triệu Khải lập tức trải tấm bản đồ khảo sát ra mặt bàn gỗ, tiện tay cầm luôn một chén trà nguội đặt đè lên góc tờ giấy bị cong mép. Soma đứng bên cạnh chỉ rõ vị trí của khe đá bị sạt lở được phá thông ở tầng dưới, Zero cầm bút đánh dấu chính xác hai đoạn vách đá có nguy cơ sụt lún cao bên trong lòng hang, còn trưởng lão Tạ Vân thì thuật lại rành rọt toàn bộ những dấu vết móng vuốt mà cả đội đã tận mắt chứng kiến cùng những điểm nghi vấn vẫn cần phải tìm hỏi thêm cánh thợ săn bản địa lâu năm.
Harpe chăm chú lắng nghe từ đầu tới cuối. Điều đầu tiên chàng thanh niên tóc trắng hỏi lại hoàn toàn không phải là có con yêu thú nào hung dữ ở đó hay không, mà hắn dùng đầu cán bút gõ nhẹ vào vệt đường mòn dẫn về phía nam trên bản đồ: “Trong đám dấu chân rời đi đó có xác nhận chắc chắn là có dấu của thú non đi cùng không? Và ở quanh khu vực cửa hang có tìm thấy vệt máu nào không?”
“Dấu chân nhỏ của đám thú non in lẫn ngay giữa bầy rất rõ,” Triệu Khải đáp. “Còn ở cả trong lẫn ngoài hang đều tuyệt nhiên không tìm thấy bất kỳ vết máu mới nào.”
“Như vậy có nghĩa là cả bầy thú đó đã bị một kẻ địch nào đó xua đuổi đi?”
Tạ Vân lập tức lắc đầu chỉnh lại cách dùng từ: “Dữ kiện hiện tại chỉ cho phép kết luận là chúng đã hoảng loạn rời bỏ hang ổ. Khi chưa tận mắt tìm thấy dấu vết của kẻ truy đuổi ở phía sau thì tuyệt đối đừng tự ý điền thêm hình ảnh kẻ đuổi vào trong báo cáo.”
Harpe gật đầu ghi nhận, rồi dịch đầu bút khoanh tròn xuống khu vực bãi bùn bên bờ suối ở phía thấp hơn, nơi có dấu chân của nhiều loài động vật khác cùng hướng ra ngoài: “Còn những dấu chân hỗn tạp ở bãi bùn này thì vẫn chưa xác định được có phải di chuyển cùng một đợt với bầy lang thú hay không đúng không ạ?”
“Chưa khẳng định được,” Triệu Khải nói. “Mấy trận mưa xuân vừa rồi đã làm nhòe mất phần lớn các lớp dấu vết cũ ở ngoài trời rồi.”
Lê Mai Nam ngồi nghe tới đó mới cúi nhìn tấm bản đồ trên bàn, lên tiếng: “Vậy là ít nhất qua chuyến đi này mình cũng biết chắc chắn được một điều là cái hang yêu thú đó không phải bị kẻ nào xông vào tàn sát.”
“Chính xác hơn là chúng ta chỉ mới biết không tìm thấy dấu vết của một vụ tàn sát ngay tại hiện trường cái hang đó thôi anh Nam ạ,” Harpe điềm tĩnh sửa lại lời của ông chủ xưởng.
Nam liếc xéo cậu thanh niên một cái nhưng cũng không mở miệng cãi lại. Hắn kiên nhẫn ngồi đợi cho Hứa An ghi chép xong xuôi thủ tục nhận trả tám chiếc đèn đội đầu vào sổ kho rồi mới nói tiếp: “Nếu kết quả đã ra như thế thì lần khảo sát sắp tới bắt buộc phải mở rộng phạm vi kiểm tra ra xa hơn rồi. Có điều chắc chắn không phải là xách đồ đi ngay vào ngày mai đấy nhé.”
Tạ Vân nhìn vòng chì mà Nam vừa mới chấm nhẹ lên mặt giấy, hỏi lại: “Chuyến tiếp theo ngươi thực sự chịu gật đầu cho mở thêm một đợt khảo sát dài hơn đấy à?”
“Là tại hạ chịu đứng ra tìm người đi khảo sát tiếp,” Nam lập tức đính chính lại câu chữ. “Chứ bản thân tại hạ đâu phải là người dẫn đường đi rừng mà bảo tự mình mở chuyến.”
Harpe đặt bàn tay giữ chặt mép tờ giấy bản đồ trước một cơn gió chiều vừa lùa qua cổng gỗ, nhận định: “Cái hang lớn ở gần đây đã xác nhận là trống không. Nếu đợt tới muốn đi kiểm tra tiếp những hẻm núi nằm ở khu vực thấp hơn và sâu hơn, lộ trình di chuyển sẽ phải đi xa hơn chuyến vừa rồi rất nhiều.”
Tạ Vân gật đầu tán thành: “Và khâu chuẩn bị hậu cần cũng phải mang theo đầy đủ đồ đạc hơn hẳn. Lần đi tới tuyệt đối không được phép tính toán thời gian quay về nhẹ nhàng như một buổi đi dạo trong ngày được nữa.”
Nam quay sang hỏi Triệu Khải: “Nếu đi sâu tới mức đó thì dự kiến mất khoảng bao lâu?”
Triệu Khải nhẩm tính lộ trình đường rừng rồi đáp: “Nếu muốn rà soát kỹ thêm hai hẻm núi lân cận cộng với một tuyến đường săn cũ chạy vòng lên phía bắc, cả đi lẫn về ít nhất cũng phải mất từ năm tới bảy ngày đường.”
Nam nghe tới con số một tuần lễ đi rừng thì im bặt. Ngồi ở sau bàn, Hứa An đã lập tức cầm bút hỏi luôn vào các thông số hậu cần: “Đoàn đi đợt tới dự kiến gồm bao nhiêu người ạ?”
Tạ Vân đáp: “Chuyện nhân sự cụ thể hiện tại vẫn chưa chốt xong.”
“Vậy phần lương thực đi đường thì tính sao ạ?”
“Bắt buộc phải tự mang theo toàn bộ trên lưng.”
“Dọc tuyến đường đó có điểm thôn xóm hay trạm dừng nào để bổ sung tiếp tế giữa chừng không ạ?”
Triệu Khải lắc đầu dứt khoát: “Khu vực hẻm núi phía đó hoàn toàn hoang vu, không có chỗ nào tiện cho việc tiếp tế lương thực đâu.”
Hứa An lập tức lật cuốn sổ kiểm kê kho của xưởng Tây Sơn ra, dùng bút gạch nhanh một danh sách những mặt hàng có thể chuẩn bị sẵn ngay từ trong thành Thanh Hà gồm gạo rang khô, bánh nướng để lâu, thịt sấy khô, bình đựng nước sạch, các loại thuốc men sơ cứu cùng bộ nồi nhỏ đun nấu dã ngoại. Cậu thư sinh thử làm phép chia tổng khối lượng vật tư đó lên đầu người dự kiến trong đoàn, viết xong lại tự tay gạch đi tính lại, bởi nguyên tắc đi đường xa là nếu chẳng may giữa đường có một thành viên bị trẹo chân hoặc bị thương thì toàn bộ phần hành lý của người đó sẽ phải chia đều sang vai của những người còn lại gánh hộ.
Nam ngồi bên cạnh nhìn những hàng con số trên trang giấy của Hứa An cứ mỗi lúc một dài thêm, trong đầu hắn thoáng nảy ra ý định bảo cứ để cho Soma dùng năng lực bay vèo về nhà lấy thêm đồ ăn cho nhanh, nhưng khi liếc mắt nhìn thấy ký hiệu khe đá ẩm ướt mất sóng bộ đàm mà Triệu Khải vừa đánh dấu trên bản đồ thì hắn lập tức dẹp luôn ý nghĩ đó. Đèn đội đầu mang đi dùng nhiều ngày vẫn cần phải có nguồn nạp lại pin, bộ đàm liên lạc vào sâu trong núi chắc chắn sẽ có những vùng mù tín hiệu, vì thế trong bảng tính lần này Hứa An kiên quyết cộng dồn thêm hẳn một ngày lương khô dự phòng cho cả đội.
Tính toán sơ bộ xong xuôi, Hứa An ngẩng đầu lên chốt lại: “Nếu phải chuẩn bị khối lượng vật tư cỡ này thì đoàn khảo sát không thể xuất phát trước thời điểm giữa tháng sau được đâu ạ.”
Tạ Vân nhìn cậu thư sinh, hỏi ngắn gọn: “Lý do vì sao phải lùi tới giữa tháng sau?”
“Một phần là vì cần thời gian để chuẩn bị đủ số lương khô và đồ dùng chịu nước cho chuyến đi dài ngày ạ. Phần nữa là trong nửa đầu tháng sau, cả Soma huynh lẫn Zero huynh đều đã có sẵn hai đầu việc nhận lời khách hàng từ trước cần phải giải quyết cho xong.”
Nam ngồi bên cạnh nghe Hứa An trả lời câu đó thì gật đầu rất ưng ý. Đúng nguyên tắc làm ăn. Xưởng Tây Sơn vốn dĩ là một cơ sở làm việc độc lập chứ đâu phải là lực lượng trực thuộc dưới trướng của phái Lạc Hà. Đâu thể cứ mỗi lần vùng rừng phía bắc xuất hiện một dấu hỏi bí ẩn là cả cái xưởng này lại phải tự động xóa sạch lịch hẹn đã nhận của khách hàng để chạy đi phục vụ. Việc gì đã nhận tiền cọc của người ta thì phải làm cho trọn chữ tín trước.
Tạ Vân nghe lý do hợp tình hợp lý ấy thì gật đầu chấp thuận ngay: “Được, vậy cứ thống nhất lùi lịch sang giữa tháng sau.”
Bà hoàn toàn không tỏ thái độ khó chịu, cũng chẳng hề đem cái danh nghĩa trưởng lão tông môn lớn ra để gây sức ép bắt người khác phải ưu tiên việc của mình. Nam thầm nghĩ chính cái tác phong làm việc sòng phẳng và biết tôn trọng giới hạn của nhau ấy là lý do lớn nhất giúp cho xưởng Tây Sơn và vị trưởng lão phái Lạc Hà này có thể hợp tác ăn ý với nhau suốt một thời gian dài như vậy.
Một ngày sau khi đội khảo sát từ hẻm núi trở về, Triệu Khải đã chủ động dẫn theo hai người dân địa phương từng sinh sống lâu năm ở gần khu vực lối vào hệ thống hang đá tới xưởng Tây Sơn để cùng đối chiếu bản ghi chép về việc đàn lang thú bỏ ổ. Hai con người ấy tìm tới đây hoàn toàn không phải để nghe một lời phán đoán tiên tri thần bí nào cả. Một người trong số họ làm nghề hái thuốc lâu năm trên núi chỉ muốn hỏi cho rõ xem trong những ngày sắp tới mình nên chủ động tránh bén mảng vào những tuyến đường mòn nào, còn người kia là phu dẫn xe thồ chuyên chạy tuyến đường ven chân núi, người đã tận mắt nhìn thấy những vệt dấu chân thú chạy bất thường ngay sau đợt rét cuối đông vừa rồi.
Trưởng lão Tạ Vân cùng với Hứa An một lần nữa trải rộng tấm bản đồ lớn ra trên mặt bàn cổng. Soma đứng bên cạnh chỉ tay vào đúng những tọa độ mà cậu đã tận mắt nhìn thấy dấu vết tháo chạy, trong khi Zero lên tiếng xác nhận rõ những đoạn ngách hang hoàn toàn không có dấu hiệu của việc giao chiến đổ máu. Người thợ hái thuốc sau khi xem kỹ vị trí liền cung cấp thêm thông tin rằng ở một vài cái hang đá nhỏ nằm lệch về phía đông của vùng đó hiện vẫn còn thấy thú nhỏ sinh sống bình thường. Cùng lúc ấy, bác phu dẫn xe thồ cũng tinh mắt nhận ra ngay một mỏm đá làm mốc mà đội khảo sát vừa ghi chép trong sổ bằng cái tên chữ nghĩa của phái Lạc Hà thực chất lại có một cái tên gọi dân dã khác hẳn mà người dân bản địa quanh vùng vẫn quen miệng dùng.
Triệu Khải lập tức cầm bút ghi chú song song cả hai tên gọi của mỏm đá đó lên trên mặt bản đồ, đồng thời phân loại từng lời kể của người dân theo đúng cấp độ thông tin đã được kiểm chứng thực tế hay chưa.
Xem xong toàn bộ tấm bản đồ, người thợ hái thuốc không giấu được vẻ lo lắng mà ngước lên hỏi: “Thưa các vị, có phải là vùng rừng núi phía bắc của chúng ta sắp sửa xảy ra một trận đại nạn lớn nào đó rồi không?”
“Hiện tại vẫn chưa thể kết luận như thế được,” Tạ Vân điềm đạm trả lời. “Tới lúc này chúng ta mới chỉ biết chắc chắn rằng có một đàn lang thú đã bỏ hang ổ cũ và nắm được phương hướng dấu chân rút lui của chúng, chứ hoàn toàn chưa tìm ra nguyên nhân gốc rễ đứng đằng sau.”
Bác phu dẫn xe thồ nghe vậy liền chủ động đề xuất rằng trong thời gian tới ông sẽ dặn dò các đoàn xe chạy hàng ven núi tạm thời tránh việc dừng chân ngủ qua đêm ở mấy khu vực gần các cửa hang trống cho tới khi có thông tin rõ ràng hơn, nhưng tuyệt đối sẽ không tung tin đồn thất thiệt để cấm cản người dân lên núi làm ăn sinh sống. Về phía xưởng Tây Sơn, Hứa An cũng chỉ đứng ra nhận lời giúp đúng một phần việc cụ thể trong khả năng: nếu thời gian tới bà con đi rừng có phát hiện thêm bất kỳ dấu vết mới nào, đầu mối người dân địa phương chỉ cần gửi lại một bản tin ghi rõ ngày giờ, vị trí cụ thể và tên người trực tiếp nhìn thấy về bàn cổng, xưởng Tây Sơn sẽ chịu trách nhiệm chuyển tận tay nguồn tin đó tới cho những người phụ trách khảo sát của Lạc Hà, chứ bản thân xưởng tuyệt đối không tự xưng là cơ quan đứng ra bảo vệ an nguy cho toàn bộ vùng núi phía bắc.
Sau chuyến đi đầu xuân ấy, mười hai chiếc đèn đội đầu sạc điện đã chính thức có một ngăn cất giữ riêng biệt ở trong kho của xưởng. Hứa An còn cẩn thận làm thẻ đánh số thứ tự cho từng chiếc một. Nam đi ngang qua cửa kho nhìn thấy cảnh đó thì dừng chân hỏi: “Có mấy cái đèn đội đầu thôi mà cậu cũng phải làm kỹ tới mức đánh số từng cái cơ à?”
“Loại đèn này bên trong có dùng pin tích điện ạ.”
“Có pin thì liên quan gì tới việc đánh số?”
“Đánh số riêng từng chiếc để lúc phát ra còn biết rõ chiếc nào vừa được mang đi dùng nhiều giờ cần phải cắm sạc trước, chiếc nào còn đầy nguyên pin trong kho, và chiếc nào người mượn vẫn chưa mang trả lại ạ.”
Nam nhìn cậu thư sinh quản lý của mình với ánh mắt đầy cảnh giác: “Này, cậu có định bắt cả người trong nhà mỗi lần lấy đèn ra dùng cũng phải đứng ký tên vào sổ mượn đồ không đấy?”
“Người trong nhà lấy dùng ngắn hạn thì không cần ký nhận đâu ạ.”
“Thế thì còn may.”
Hứa An cặm cụi viết các con số thứ tự từ một tới mười hai lên những mảnh thẻ tre nhỏ đã vạt nhẵn, sau đó dùng chính những sợi dây rút nhựa từ lượt quay tháng trước để luồn qua lỗ thẻ và thắt cố định vào phần đai của từng chiếc đèn. Nam cúi nhìn bó dây rút nhựa nằm bên cạnh tay cậu thư sinh, buột miệng hỏi: “Mấy túi dây rút nhựa từ tháng trước tới giờ cậu vẫn còn giữ được nhiều gớm nhỉ?”
“Trong ngăn bàn vẫn còn khá nhiều ạ.”
“Cụ thể là hiện giờ trong nhà còn lại bao nhiêu sợi?”
“Số lượng lẻ từng sợi thì tiểu đệ không đếm chi tiết làm gì.”
Nam nghe câu trả lời đó mà tự dưng thấy hơi nhói lòng. Hứa An vừa kéo khóa một sợi dây rút kêu cái tạch vừa bồi thêm một câu: “Nhưng huynh cứ yên tâm là vẫn chưa dùng hết sạch đâu ạ.”
“Cái tiêu chuẩn ‘chưa dùng hết sạch’ của cậu nghe chẳng có chút sức thuyết phục nào cả.”
Hứa An ngẩng đầu lên nhìn ông chủ xưởng: “Hay là Nam huynh muốn tiểu đệ đi kiểm đếm lại toàn bộ số dây rút còn tồn trong kho để lập báo cáo riêng?”
Trong đầu Nam lập tức hiện lên cái ánh mắt nhìn đầy phán xét cùng hai chữ "đồ keo kiệt" quen thuộc của Mina. Hắn vội vàng phẩy tay rút lui: “Thôi dẹp đi, khỏi cần đếm.”
Vào một buổi tối ít ngày sau đó, Ciel lấy hai chiếc đèn đội đầu đã qua sử dụng trong chuyến đi hang vừa rồi mang sang gian xưởng cơ khí để kiểm tra mức độ suy hao của bộ pin tích điện. Zero như thường lệ vẫn ngồi yên lặng ở chiếc ghế bên cạnh bàn thao tác. Đúng lúc Shiroma bưng khay trà đi ngang qua cửa xưởng, nhìn thấy Ciel đang cắm dây đo vào chiếc đèn thì tò mò dừng bước hỏi: “Mấy chiếc đèn mới đó đã bị hỏng chỗ nào rồi hả chị Ciel?”
Ciel mắt vẫn nhìn vào mặt đồng hồ đo, đáp gọn: “Đèn không bị hỏng hóc gì cả.”
“Không bị hỏng thế sao chị lại đem ra mở kiểm tra thế kia?”
Nam đang đi dạo mát ở ngoài hành lang, vừa nghe loáng thoáng thấy chữ "mở" phát ra từ cửa xưởng cơ khí đã lập tức thò ngay đầu vào bên trong hỏi giật giọng: “Cái gì cơ? Bà lại định tháo mở cái gì ra đấy?”
Ciel quay đầu sang nhìn ông chủ xưởng với vẻ mặt hết sức bình thản: “Tôi hoàn toàn không hề tháo mở vỏ nhựa của chiếc đèn nào ra cả.”
Nam nhìn kỹ lại chiếc đèn vẫn còn nguyên vẹn trên mặt bàn thì mới thở phào yên tâm. Ciel chỉ tay vào bộ đồng hồ đo điện áp đang nối với cổng sạc của chiếc đèn, giải thích ngắn gọn cho Shiroma hiểu: “Chị chỉ cắm đầu dây qua cổng sạc để đo kiểm tra độ chai pin sau chuyến đi thôi.”
Shiroma gật đầu hiểu ý ngay. Nam thấy tài sản của xưởng vẫn an toàn thì lẳng lặng rụt cổ ra khỏi khung cửa. Ngay lúc hắn vừa mới quay lưng bước đi thì giọng nói điềm tĩnh của Ciel từ bên trong gian xưởng lại vọng ra: “Anh vẫn không hề tin lời tôi nói.”
Nam đứng ở ngoài hiên đáp vọng vào ngay: “Anh là người làm việc dựa trên kinh nghiệm thực tế đã trải qua thôi.”
Đúng lúc đó, từ bên trong xưởng bỗng vang lên thêm một chữ ngắn gọn của Zero: “Đúng.”
Ciel lập tức im bặt không nói thêm được câu nào nữa. Nam đứng ở ngoài hành lang bật cười sảng khoái. Một pha thắng cuộc hiếm hoi khi có đồng minh đứng về phía mình ngay trong xưởng của Ciel.
Xen kẽ giữa những ngày chuẩn bị vật tư cho chuyến đi dài sắp tới, thằng nhóc A Thạch cũng được giao đi cùng với một bác phu đánh xe lớn tuổi giàu kinh nghiệm để khảo sát thử một tuyến đường vòng chạy tránh qua khu vực khe núi hẹp. Tất nhiên chẳng có lý do gì phải huy động toàn bộ đội hình chiến đấu chủ lực của xưởng Tây Sơn đi theo chỉ để kiểm tra xem một khúc cua đường đất có đủ rộng cho xe ngựa quay đầu hay không. Hai bác cháu chỉ lặng lẽ đi dọc tuyến đường ngoài bìa rừng, ghé vào hỏi thăm ông trưởng thôn bản địa về quy luật nước suối dâng vào mùa mưa xuân, tự tay căng dây đo bề rộng của đoạn đường đá hẹp nhất và cắm cọc đánh dấu rõ những vị trí mà xe chở hàng cỡ lớn không thể lách qua nổi.
Lúc ngồi ghi chép vào sổ tay, ban đầu A Thạch định bụng sẽ ghi chú tuyến đường vòng này vào mục “đường đi an toàn” bởi thực tế ngày hôm đó chiếc xe nhỏ của hai người vẫn chạy qua trót lọt. Thế nhưng bác phu đánh xe đi cùng đã kịp thời nhắc cậu nhóc nhớ rằng vào mùa xuân năm ngoái, chỉ sau đúng một trận mưa rào lớn đầu mùa là toàn bộ đoạn đường đất ở cuối dốc này đã biến thành một vũng bùn lầy thụt sâu tới mức ngựa kéo không nhấc chân lên nổi. Nghe lời chỉ dẫn thực tế đó, hai người liền thống nhất sửa lại dòng ghi chú trên giấy thành: Đã đi kiểm tra thực địa vào tiết đầu xuân, bắt buộc phải rà soát lại mặt đường nếu trước đó có mưa.
Khi A Thạch mang cuốn sổ ghi chép ấy trở về xưởng Tây Sơn, Hứa An đã sử dụng ngay những thông số thực tế đó để tính toán lại định mức tiền mua lương thực và thời gian dự phòng cho chuyến khảo sát dài ngày vào tháng sau, đồng thời giữ đúng nguyên tắc không bao giờ hứa hẹn cứng nhắc rằng đoàn đi sẽ chỉ bám theo một lộ trình duy nhất trong mọi điều kiện thời tiết. Nam ngồi nghe Hứa An thuật lại kết quả chuyến đi của thằng nhóc thì gật gù bảo đây là lần đầu tiên hắn thấy có người bỏ công đi khảo sát đường sá chỉ để rút ra bài học rằng không nên tự tin quá sớm vào con đường mình vừa đi qua. Harpe đứng bên cạnh nghe vậy liền đáp lại rằng chính những cuộc khảo sát thực địa biết nhìn ra rủi ro kiểu đó mới là thứ giúp cho những người phải đi xa có thể trở về nhà nguyên vẹn. Riêng A Thạch thì vui ra mặt suốt cả buổi chiều hôm ấy, bởi tấm bản đồ vùng ngoài thành mà cậu nhóc đã bắt đầu góp công vẽ từng nét từ hồi tháng thứ ba mươi mốt nay đã thực sự trở thành một tài liệu sống, được những người làm nghề bên ngoài xưởng Tây Sơn tiếp tục bổ sung và đem ra sử dụng.
Tới khoảng giữa tháng Giêng, câu chuyện thương lượng mua lại khu đất xưởng Tây Sơn lại có thêm một bước chuyển động mới. Vấn đề phát sinh lần này hoàn toàn không nằm ở con số tiền bạc, mà nằm ở phần giấy tờ địa giới. Phía người quản việc của chủ đất vừa mới gửi sang một bản mô tả chi tiết phạm vi thửa đất có thể đem ra chuyển nhượng. Khi đem văn tự đó ra đối chiếu kỹ lưỡng với thực tế, Hứa An đã tinh mắt phát hiện ra rằng tổng diện tích ghi trên giấy tờ gốc của khu xưởng nhuộm cũ không hoàn toàn trùng khớp với phần khuôn viên có tường bao mà Nam đang thuê sử dụng hiện nay. Ở ngay phía sau dãy nhà kho của xưởng vẫn còn một dải đất hẹp chạy dọc theo chân tường vốn thuộc chung một thửa đất lớn trên sổ địa bộ, có điều suốt mấy năm qua bỏ hoang không có ai đụng chạm tới.
Buổi chiều hôm ấy, Nam cùng với Hứa An đi vòng ra phía sau kho để tận mắt xem xét thực địa. Toàn bộ dải đất hẹp đó hiện đang mọc đầy cỏ dại cao quá đầu gối, ở góc rìa có một thân cây gỗ tạp mọc nghiêng ngả cùng một đống gạch ngói vỡ từ đời nào chất đống lại.
Nam đứng chống nạnh nhìn dải đất hoang, quay sang hỏi cậu thư sinh: “Nếu bây giờ mình gộp luôn cả cái dải đất cỏ mọc này vào hợp đồng mua bán thì bên chủ đất có đòi tăng thêm tiền không?”
Hứa An gật đầu đáp ngay: “Chắc chắn là tổng giá tiền sẽ phải tăng thêm một khoản ạ.”
“Tăng thêm tiền thì thôi dẹp đi, nhà mình đâu có nhu cầu dùng tới cái vạt đất hẹp này.”
“Có điều dải đất này lại nằm áp sát ngay vào bức tường hậu của khu kho xưởng mình đấy Nam huynh.”
“Nằm sát tường sau thì làm sao?”
“Huynh thử nghĩ xem nếu mình chỉ mua phần đất trong tường còn chừa cái dải đất hẹp này lại, nhỡ sau này chủ đất đem bán riêng mảnh này cho một người lạ khác thì sẽ thế nào ạ?”
Nam nghe câu hỏi đó liền dừng lại, phóng tầm mắt nhìn kỹ lại địa thế trước mặt. Vạt đất chạy dọc sau lưng kho này tuy có bề ngang khá hẹp, muốn dựng một căn nhà lớn để ở thì rất khó khăn, nhưng lại thừa diện tích để người ta dựng lên một dãy lán chứa đồ, mở thành một lối đi riêng, hoặc đơn giản nhất là nó cho phép một người ngoài hoàn toàn xa lạ có quyền hợp pháp đi lại ngay sát vách tường phía sau khu xưởng cơ khí của Ciel và nhà kho của Tây Sơn bất cứ lúc nào.
Nam lập tức im lặng không nói câu "không cần" nữa. Hứa An đứng bên cạnh nhìn vẻ mặt của ông chủ xưởng, bình thản nói tiếp: “Đó chính là lý do vì sao lúc chiều tiểu đệ vẫn chưa vội chốt lại phương án diện tích với người quản việc đấy ạ.”
Nam nhìn đám cỏ dại um tùm cùng đống gạch vụn trước mặt mà nhăn nhó cả mặt mày: “Sao cái chuyện bỏ tiền ra mua một mảnh đất nó lại lắm thứ phiền phức thế không biết.”
“Dạ vâng, mua đứt tài sản thì phải tính kỹ nhiều thứ hơn ạ.”
“Cứ đóng tiền thuê định kỳ như cũ rõ ràng là nhàn đầu hơn bao nhiêu.”
“Đúng là thuê thì đơn giản hơn thật ạ.”
“Đã biết thuê nhàn hơn thế sao hai anh em mình không cứ đóng tiền thuê tiếp cho xong chuyện đi nhỉ?”
Hứa An không trả lời thẳng vào câu hỏi vẩn vơ ấy. Cậu thư sinh chỉ xoay người nhìn ngược về phía khoảng sân rộng rãi của xưởng Tây Sơn ở đằng trước rồi mới nhẹ giọng nói: “Lý do vì sao thì tự trong lòng Nam huynh đã biết rõ hơn ai hết rồi mà.”
Bản thân Nam tất nhiên cũng tự biết rất rõ câu trả lời. Hai người đàn ông đứng im lặng cạnh bức tường sau kho thêm một lúc lâu nữa. Hôm nay vẫn chưa cần phải đưa ra quyết định chốt hạ ngay lập tức. Năm thứ tư ở thành Thanh Hà mới chỉ vừa mới bắt đầu, hoàn toàn chẳng có ai thúc ép họ phải giải quyết dứt điểm thương vụ mua bán cả một cơ ngơi lớn chỉ trong vòng đúng một tháng Giêng. Chuyện đàm phán ranh giới và giá cả cứ để cho nó tiến triển từng bước theo đúng năng lực tài chính thực tế của xưởng. Nhưng ít nhất tính tới thời điểm này, nội dung cuộc thương lượng giữa hai bên đã dịch chuyển từ câu hỏi "có mua hay không" sang bài toán cụ thể hơn là "mua trọn tới phần ranh giới nào". Chỉ riêng bước chuyển biến đó thôi cũng đã là một sự tiến triển đủ lớn cho tháng đầu năm rồi.
Tới những ngày cuối tháng Giêng, trưởng lão Tạ Vân lại cho người gửi thêm hai bản báo cáo ngắn nữa sang bàn cổng của xưởng Tây Sơn. Trong cả hai tờ giấy đều không có phát hiện nào mang tính chấn động. Bản báo cáo thứ nhất ghi nhận một tuyến đường săn cũ ở mạn bắc dạo này có mật độ dấu chân thú rừng thưa thớt hơn hẳn mức bình thường hàng năm. Bản báo cáo thứ hai lại thuật lại lời của một nhóm người đi đào rễ thuốc rằng vào lúc nửa đêm khi ngủ lại ở khu rừng sâu phía bắc, họ có nghe thấy những tiếng rung động rất nhỏ vọng lên từ dưới lòng đất; tuy nhiên trong nhóm ba người đi cùng nhau hôm ấy thì chỉ có duy nhất một người khẳng định chắc chắn là mình có nghe thấy, còn hai người bạn đồng hành nằm ngay bên cạnh lại nói rằng họ ngủ mơ màng nên không dám chắc đó là tiếng đất rung hay tiếng gió rít qua khe núi.
Đọc xong tờ báo cáo thứ hai, Harpe hoàn toàn không điền thông tin về tiếng rung dưới lòng đất đó vào tấm bản đồ tổng hợp chính trên tường, mà lấy một cái kẹp sắt kẹp riêng tờ giấy ấy để sang góc bàn phụ.
Nam đứng cạnh bàn nhìn thấy thao tác phân loại đó liền hỏi: “Sao cậu lại để riêng cái tờ tin tức đó ra ngoài?”
“Dữ kiện này hiện tại vẫn chưa đủ độ tin cậy để đưa vào mẫu hình chung anh ạ.”
“Thì rõ ràng là trong báo cáo ghi có người dân đã nghe thấy tiếng động còn gì.”
“Trong cả nhóm ba người nằm chung một lán thì chỉ có đúng một người dám khẳng định chắc chắn là mình nghe thấy.”
“Thế còn hai người đi cùng kia?”
“Hai người còn lại đều khai là không chắc chắn.”
Nam gật gù tán đồng ngay. Trong công tác điều tra thực địa, hoàn toàn không phải cứ bất kỳ tin đồn kỳ lạ hấp dẫn nào bay tới tai cũng đều được nâng tầm lên thành manh mối quan trọng. Tấm bản đồ theo dõi vùng phía bắc của xưởng Tây Sơn giữ được giá trị tham khảo chuẩn xác cho tới tận hôm nay chính là nhờ vào việc Harpe luôn thẳng tay gạt bỏ những mẩu thông tin nghe qua thì rất giật gân nhưng căn cứ xác thực lại quá yếu ớt.
Ở bàn bên cạnh, Hứa An đang cúi đầu rà soát lại cuốn lịch công việc của tháng hai sắp tới, chợt ngẩng lên nói: “Tháng sau nếu đội khảo sát phải đi sâu vào rừng dài ngày như dự tính thì chắc chắn phải xin dời lịch chuyến công việc ở mạn phía đông của Soma huynh lại đấy ạ.”
Soma lúc ấy đang ngồi ăn điểm tâm ở chiếc bàn gần đó, nghe nhắc tới tên mình liền ngẩng phắt đầu lên hỏi: “Chuyến công việc ở phía đông nào cơ?”
Hứa An quay sang nhìn cậu thanh niên tóc trắng với ánh mắt không đổi sắc: “Chính là cái đầu việc mà tự tay Soma huynh đã gật đầu nhận lời với khách từ hồi đầu tháng đấy ạ.”
Soma lập tức im bặt mất hai giây, sau đó mới gãi đầu kêu lên một tiếng: “À, tôi nhớ ra rồi.”
Nam ngồi uống trà bên cạnh nhìn cảnh đó thì bật cười thành tiếng: “Tôi cứ tưởng trong cái nhà này chỉ có mỗi mình tôi là hay quên lịch làm việc thôi chứ.”
Soma lập tức giơ tay chỉ thẳng vào mặt ông chủ xưởng: “Riêng chuyện nhớ lịch làm việc thì Nam tuyệt đối đừng có mở miệng chê người khác.”
Hứa An điềm nhiên cầm bút ghi chú vào góc trang lịch, nhắc lại nguyên tắc làm ăn: “Quy tắc của xưởng mình là không được tự ý dời lịch hẹn nếu như phía khách hàng đã đặt cọc không đồng ý đâu đấy ạ.”
Soma gật đầu nhận lời ngay: “Biết rồi, lát nữa ăn xong tôi sẽ tự đi gặp người đại diện của khách để thương lượng đổi ngày.”
Đúng vào lúc ấy, Ronan vừa hoàn thành chuyến công việc bên ngoài trở về tới sân xưởng. Chàng hiệp sĩ vừa bước vào gian chính vừa cởi chiếc áo khoác ngoài bám bụi đường ra, đưa mắt nhìn tấm bản đồ trên tường rồi hỏi: “Chuyến khảo sát lên phía bắc vào tháng sau đã chốt được ngày xuất phát cụ thể chưa?”
“Hiện tại vẫn chưa chốt ngày cố định đâu thiếu gia,” Harpe đứng bên bàn đáp lời.
Ronan nhìn các ký hiệu mới được đánh dấu trên bản đồ vùng hẻm núi, hỏi tiếp với giọng điệu hết sức bình thản: “Đợt đi dài ngày sắp tới có cần tôi đi cùng không?”
Nam ngồi trên ghế đáp: “Hiện giờ bên Tạ trưởng lão vẫn chưa chốt xong danh sách người đi nên cũng chưa biết được.”
Ronan khẽ gật đầu, trên gương mặt hoàn toàn không hề lộ ra vẻ gì là phật ý vì bị bỏ lại ở nhà trong chuyến vừa rồi. Suốt cả tháng Giêng này, chàng hiệp sĩ ở lại thành Thanh Hà, giải quyết gọn gàng hai hợp đồng hộ tống đã nhận từ trước và dành thời gian rảnh rỗi ra sân sau luyện tập các kỹ năng cùng với Harpe vài bận. Công việc của một tập thể lớn vốn dĩ là như vậy, đâu phải cứ có bất kỳ chuyến đi nào là cả đại gia đình lại phải rồng rắn kéo nhau đi cho đủ mặt. Shiroma ở nhà làm việc của Shiroma, Ciel ở trong xưởng làm việc của Ciel, và Ronan cũng có phần trách nhiệm riêng của mình. Nam còn đang định mở miệng hỏi xem Ronan có muốn ngồi nghe tóm tắt lại biên bản khảo sát cái hang trống vừa rồi sau chuyến hộ tống hay không, thì Harpe đã lên tiếng gọi thiếu gia của mình đi ra phía sau kiểm tra lại cái chốt sắt của cánh cửa kho phụ đang bị xô lệch. Ronan lập tức đặt chiếc áo khoác vừa cởi xuống ghế, nói rằng mình sẽ mang đồ nghề ra sửa lại cái chốt cửa đó cho xong trước bữa cơm tối. Hoàn toàn chẳng cần một ai trong nhà phải đứng ra phân công hay ra lệnh, bởi đó vốn là phần việc mà chính miệng Ronan đã hứa với Lão Tề từ trước khi lên đường đi hộ tống.
Tới ngày cuối cùng của tháng Giêng, tiết trời ở thành Thanh Hà đã ấm hẳn lên thấy rõ. Vào quãng giữa trưa nắng ráo, Mina cho mở tung gần hết các khung cửa sổ quanh gian nhà chính để đón gió tươi vào thay đổi không khí tích tụ suốt mùa đông. Ngoài khoảng sân đất đã khô ráo sạch bùn, A Thạch đang ngồi xếp bằng trên chiếc ghế đẩu để khâu gia cố lại phần quai đeo cho mấy chiếc ba lô đi rừng. Hứa An vẫn ngồi yên ở bàn cổng cặm cụi sắp xếp lại lịch phân công công việc cho tháng Hai. Phía trước cửa xưởng cơ khí, Ciel đang đem một số cuộn dây cáp điện ra phơi nắng nhẹ để chống ẩm mốc, trong khi Shiroma mang mấy mẹt dược liệu mùa xuân ra hiên sau phân loại. Ronan và Harpe sáng nay có việc rủ nhau đi vào trong phố. Soma đang nằm ngủ trưa ở phòng trong, còn Zero thì ngồi tĩnh lặng dưới bóng râm.
Riêng Lê Mai Nam vẫn nằm dài trên chiếc ghế trúc quen thuộc dưới mái hiên. Mina từ trong nhà bước ngang qua cửa, đưa mắt nhìn Soma đang ngủ say ở gian trong một cái rồi mới quay đầu nhìn ra chỗ Nam.
Nam lập tức mở mắt lên tiếng đón đầu trước: “Tôi đang tỉnh táo đây nhé.”
“Tôi nhìn là biết anh đang thức rồi.”
“Biết tôi thức rồi thì đừng có gọi tôi dậy làm việc đấy.”
“Tôi cũng đâu có định gọi anh đi làm việc vặt.”
Nam nghe câu trả lời nhẹ nhàng đó thì đâm ra thấy hơi lạ lẫm. Ngay giây tiếp theo, Mina đã rút từ dưới tập bìa đang cầm trên tay ra một xấp giấy viết kín chữ rồi đặt thẳng lên ngực hắn.
Nam ngơ ngác cầm xấp giấy lên: “Giấy tờ gì thế này?”
“Bản danh sách tổng hợp vật tư và lương thực mà Hứa An vừa lập xong cho chuyến khảo sát phía bắc vào tháng sau, cậu ấy nhờ tôi mang qua đưa cho anh duyệt đấy.”
Nam lập tức chống tay ngồi bật dậy khỏi ghế trúc: “Ơ kìa, thế thằng nhóc Hứa An đang ở đâu mà không tự cầm vào?”
“Cậu ấy đang bận trực ngoài cổng, bảo cứ đưa tận tay cho anh xem trước là được.”
Nam cúi đầu đọc lướt qua từng dòng mục trên trang giấy. Khẩu phần lương thực khô tính dư cho bảy ngày đường, cơ số nước uống mang theo ban đầu, bộ nồi gọn nhẹ để đun nấu, túi thuốc sơ cứu của Shiroma, cuộn dây thừng leo núi, những chiếc đèn đội đầu kèm theo bộ pin dự phòng đã nạp đầy điện, chăn mỏng đắp đêm, áo tơi che mưa, túi bọc bản đồ chống ẩm, cùng với những chiếc bộ đàm liên lạc dù ai cũng biết vào sâu trong hẻm núi sẽ bị mất tín hiệu. Hàng loạt thứ đồ đạc nối đuôi nhau thành một danh sách dài dằng dặc.
Nam đọc một mạch tới tận dòng cuối cùng rồi mới ngẩng lên nhìn Mina: “Tổng đống đồ đạc ghi trên giấy này cộng lại là nặng lắm đấy nhé.”
Mina đứng khoanh tay dựa vào cột hiên, gật đầu đáp: “Ừ, tôi nhìn qua cũng biết là rất nặng.”
“Đoàn khảo sát đi có sáu người mà phải cõng theo từng này thứ trên lưng là vất vả phết đấy.”
“Thì đi dài ngày trong rừng hoang không có chỗ mua đồ ăn nó phải thế.”
“Thật sự là dọc đường đi không có lấy một điểm thôn xóm nào để tiếp tế lương thực giữa chừng à?”
“Hôm trước tôi nghe Triệu Khải nói với Hứa An là hoàn toàn không có.”
Nam lại cúi đầu nhìn xuống tờ danh sách trên tay. Nếu cả đội chỉ mang theo thịt sấy khô và bánh nướng cứng đủ cầm cự qua bữa trong vòng một tuần lễ thì khối lượng hành lý vẫn còn trong mức chịu đựng được, có điều ăn uống kiểu đó giữa tiết trời lạnh miền núi thì chẳng thoải mái chút nào. Còn nếu muốn có nước sôi và đồ ăn nóng để giữ sức thì bắt buộc phải cõng thêm nồi đun cùng chất đốt hoặc tốn thời gian đi nhặt củi khô dọc đường. Gặp phải hôm trời đổ mưa xuân, toàn bộ số lương khô mang theo đều phải bọc kín bằng vải dầu chống nước. Chưa kể nếu chẳng may giữa chừng có một người trong đoàn bị thương không tự bước đi được, những người còn lại sẽ phải san sẻ gánh thêm toàn bộ phần đồ đạc của người đó. Một chuyến đi khảo sát thực địa kéo dài cả tuần lễ trong rừng sâu hoàn toàn không giống bất kỳ điểm nào so với những phi vụ sáng xách kiếm ra khỏi thành giải quyết một con yêu thú rồi tối lại cưỡi ngựa về xưởng ăn cơm nóng.
Nam ngước mắt lên hỏi Mina: “Mà sao mấy cái danh sách hậu cần đi rừng này Hứa An lại bảo bà mang sang đưa cho tôi xem làm gì?”
Mina trả lời thẳng thừng bằng đúng hai chữ: “Vì tiền.”
Nam chớp mắt nhìn cô: “À, ra là chuyện duyệt chi ngân sách.”
“Nếu trong năm nay anh thực sự muốn để dành đủ tiền mua đứt khu xưởng Tây Sơn này, thì sang tháng tới tuyệt đối đừng có vừa phải chi một khoản lớn chuẩn bị cho chuyến đi rừng dài ngày lại vừa vung tay mua sắm đồ đạc linh tinh vô tội vạ đấy.”
Nam lập tức lên tiếng phản đối ngay sự vu khống ấy: “Này, từ lúc sống ở đây tới giờ tôi đã bao giờ vung tiền mua sắm cái gì vô tội vạ đâu cơ chứ?”
Mina chỉ đứng yên nhìn thẳng vào mặt hắn mà không nói một lời nào, ánh mắt đầy vẻ nhắc nhở về những món đồ kỳ quặc mà hắn từng tha về nhà. Hai giây sau, cô mới buông giọng kết luận: “Thôi được rồi, câu đó anh không cần phải trả lời đâu.”
Nam đành ngậm ngùi cúi đầu đọc kỹ lại tờ danh sách vật tư thêm một lượt nữa, sau đó mới rút cây bút cài ở túi áo ra, gạch thẳng một đường lên một đầu mục trên giấy: “Cái món dụng cụ này ở trong kho nhà mình đang có sẵn từ năm ngoái rồi, lấy ra mà dùng chứ không cần xuất tiền mua mới.”
Đọc xuống phía dưới vài dòng, hắn lại gạch chỉnh tiếp một con số khác: “Còn cái mặt hàng dự phòng này thì lấy một nửa số lượng ghi ở đây thôi, không cần thiết phải mua tích trữ nhiều tới mức thế.”
Mina đứng bên cạnh nhìn ngòi bút của hắn gạch xóa chuẩn xác từng khoản một thì hơi nhướng mày ngạc nhiên: “Hôm nay anh ngồi đọc kỹ rồi tự tay duyệt cắt giảm thật đấy à?”
“Thì chính tay bà vừa mới mang xấp giấy này sang bắt tôi xem xét còn gì nữa.”
“Lúc nãy đưa giấy tôi cứ đinh ninh là anh sẽ chỉ liếc qua cái tổng số tiền ở cuối trang rồi lại sai người mang trả cho Hứa An tự tính tiếp cơ.”
Nam ngẩng đầu lên, nở một nụ cười nửa miệng: “Tôi lúc cần thiết thì cũng biết tính toán sổ sách ra trò đấy.”
“Chuyện hiếm có trong năm đấy.”
“Này Mina.”
Mina bật cười, vươn tay cầm lấy xấp giấy đã được gạch sửa gọn gàng từ tay hắn: “Thôi được rồi, để tôi cầm ra ngoài cổng đưa lại cho Hứa An sửa sổ.”
Đợi cho bóng lưng Mina khuất sau cánh cửa, Nam mới thong thả ngả lưng nằm xuống chiếc ghế trúc như cũ. Nằm im được một lúc, ánh mắt của hắn tự dưng lại hướng qua khung cửa sổ mở rộng, nhìn về phía bức tường của gian phòng cổng ở đằng xa. Trên tấm bản đồ khu vực phía bắc treo ở đó nay đã xuất hiện thêm một vệt chì mới. Đường kẻ ấy bắt đầu từ vị trí cái hang đá cũ kỹ trong hẻm núi, kéo dài một vệt đi xuống hướng nam và tây nam theo đúng lộ trình mà cả một bầy lang thú đã bỏ nhà tháo chạy. Tuyệt nhiên không có bất kỳ hình vẽ mũi tên nào từ phía bắc phóng xuống truy sát đằng sau chúng, cũng chẳng có cái tên của một con đại yêu cụ thể nào được viết vào khu vực trung tâm bức bản đồ.
Ở chính giữa vùng núi phía bắc trên mặt giấy lúc này chỉ là một khoảng trống trơn. Thế nhưng cái khoảng trống vô hình ấy qua từng tháng lại đang ngày một lộ rõ đường viền hơn. Khởi đầu là vụ con Thiết Bối Hùng đột ngột rời bỏ lãnh địa quen thuộc vào năm ngoái. Tiếp theo là một khu vực rừng cây gần như vắng bóng hoàn toàn các loài chim muông thú nhỏ. Rồi tới những âm thanh lạ lùng mà người đi hái thuốc nghe thấy từ xa, những vệt dấu chân của nhiều loài thú khác nhau cùng di chuyển dạt ra phía ngoài, và mới đây nhất là cả một đàn lang thú mang theo cả bầy con non vội vã bỏ mặc hang ổ lâu năm để chạy xuống phía nam.
Nếu tách riêng từng sự việc ra để xét, tất cả những hiện tượng đó đều có thể giải thích bằng một nguyên nhân ngẫu nhiên nào đấy. Trong sổ tay của mình, Harpe vẫn đang kiên trì ghi chú phân loại theo đúng nguyên tắc thận trọng như vậy, và bản thân trưởng lão Tạ Vân bên phái Lạc Hà cũng chưa hề gộp chung chúng lại thành một kết luận duy nhất. Thế nhưng kể từ tháng Giêng năm nay trở đi, tự trong thâm tâm Lê Mai Nam đã không còn coi hai chữ "trùng hợp" là lời giải thích dễ dàng nhất cho mọi chuyện được nữa rồi. Bản tính sợ phiền phức của hắn tất nhiên vẫn chẳng hề muốn tự rước việc vào người mà lao đầu lên vùng rừng núi phía bắc làm gì. Chỉ có điều ngay lúc này, nếu như tình thế bắt buộc phải cử người đi kiểm tra rộng hơn để nắm cho rõ ngọn ngành, hắn hoàn toàn không còn lên tiếng phản đối nữa. Đối với một kẻ tôn thờ chủ nghĩa nằm thẳng như hắn, chỉ riêng sự thay đổi thái độ ấy thôi cũng đã là một bước chuyển biến khá lớn rồi.
Ngay lúc ấy, ở ngoài khoảng sân nắng trước hiên, thằng nhóc A Thạch sau khi khâu xong quai ba lô bỗng nhiên lấy một chiếc đèn đội đầu đeo lên trán rồi ấn nút bật sáng trưng dù mặt trời giữa trưa vẫn đang tỏa nắng rực rỡ.
Nam nằm trên ghế trúc nhìn thấy cảnh đó liền cất tiếng hỏi: “Này A Thạch, đang làm cái trò gì giữa ban ngày ban mặt thế hả?”
A Thạch giật mình quay đầu sang phía hiên nhà: “Dạ, đệ bấm thử để kiểm tra xem đèn có sáng đều không thôi ạ.”
“Kiểm tra độ sáng của đèn giữa lúc trời đang nắng chang chang thế này á?”
“Thì ban ngày bật lên đệ nhìn vào bóng vẫn thấy nó sáng mà Nam ca.”
Nam chỉ buông gọn đúng một chữ: “Hao pin.”
Ngón tay của A Thạch lập tức ấn phụt một cái tắt ngóm chiếc đèn ngay tức khắc: “Ấy chết, đệ quên khuấy mất vụ phải tiết kiệm pin.”
Nam gật gù nhắc khéo: “Tắt nhanh đi, đừng có để cho Hứa An nhìn thấy cảnh vừa rồi.”
Thế nhưng câu nhắc nhở đầy tình thương mến thương ấy vừa mới dứt lời thì từ bên trong gian phòng cổng, giọng nói điềm tĩnh của Hứa An đã vọng thẳng ra ngoài sân: “Tiểu đệ nhìn thấy hết từ nãy rồi ạ.”
A Thạch lập tức nhắm tịt hai mắt lại, vẻ mặt đưa đám. Nam nằm trên ghế nhìn bộ dạng của thằng nhóc thì bật cười khanh khách: “Cho đáng đời cái tật nghịch đồ.”
Ngay giây tiếp theo, giọng của Hứa An từ ngoài cổng lại vang lên một câu nữa: “Nam huynh ơi.”
Tiếng cười trên môi Nam lập tức tắt phụt. Hắn cảnh giác hỏi vọng ra: “Lại chuyện gì nữa đấy?”
“Còn cái bảng dự toán ngân sách mua lương thực cho chuyến đi phía bắc vào tháng sau, huynh đã xem xong chưa để tiểu đệ vào lấy sổ chốt tiền ạ?”
Nam quay đầu nhìn sang phía cửa bếp tìm đồng minh, nhưng Mina đứng ở đằng kia đã thản nhiên quay mặt đi chỗ khác coi như không liên quan tới mình. Ông chủ xưởng đành thở dài một hơi, cầm tờ giấy ghi chú còn lại trên bàn gấp gọn lại: “Rồi, anh biết rồi, cứ vào đây mà lấy.”
Tháng đầu xuân của năm thứ tư ở thành Thanh Hà thế là sắp sửa khép lại. Mười hai chiếc đèn đội đầu sạc điện từ lượt quay mới nhất đã tìm được công việc thực địa đầu tiên cho mình. Một cái hang đá lớn từng là sào huyệt lâu năm của cả một bầy yêu thú nay chỉ còn lại bốn bức vách trống không, nơi toàn bộ những dấu chân lưu lại trên đất ẩm đều hướng mũi về phía đi ra chứ chẳng có lấy một bước chân nào quay trở vào. Và chuyến khảo sát kế tiếp vào tháng sau chắc chắn sẽ không còn là một cuộc hành trình gọn nhẹ sáng chui vào hang rồi chiều quay về ngủ lều nữa. Quãng đường sắp tới sẽ dài ngày hơn, tiến sâu vào vùng núi xa hơn và bắt buộc phải cõng theo trên lưng nhiều hành lý hơn hẳn.
Bản thân Lê Mai Nam hiện tại hoàn toàn chưa biết lượt quay Gacha của tháng thứ ba mươi tám sắp tới sẽ ném ra giữa nhà món đồ kỳ quặc gì, và hắn cũng chẳng hề có thói quen ngồi trông chờ vào sự may rủi của hệ thống. Ở ngoài bàn cổng kia, Hứa An đã bắt đầu đặt bút tính toán mọi phương án dự phòng bằng cân gạo rang, bằng tảng thịt sấy khô và bằng chính những vật tư thực tế mà cái xưởng Tây Sơn này đang nắm giữ trong tay. Đó mới chính là cách thức mà cả đại gia đình họ chuẩn bị để đối mặt với những biến số ở phía trước. Còn nếu như sang tháng sau hệ thống có tình cờ ban cho thêm một món đồ nghề nào đó thực sự hữu dụng thì cứ để tới lúc đó rồi tính sau, bởi mọi kế hoạch đường dài bao giờ cũng phải được xây dựng từ những thứ đang có sẵn ở ngay dưới chân mình.

💬 Bình luận (0)

📚 Truyện tương tự