Ngày 9 tháng tư, trong lúc quân Lâm Nam còn vây lấy ải Nam Dương và chặn đường ra của địch ở phủ Lân Nội thì hơn 1 ngàn 200 khinh kỵ do Hồ Sử chỉ huy xuất hành nhanh tốc trong đêm, họ vượt qua chục con sông lớn nhỏ và băng những núi đồi hoang vu ở Nam Giang để tới đốt lấy đồn Bình Thành.
Khi ấy, đồn lũy ở gần ngôi làng nhỏ bé tiếp vận giữa Quế Ung và Nam Dương có hơn 400 thủ binh chiếm đóng. Cách Quế Ung 100 dặm về hương Nam, Bình Thành là một ngôi làng sát sơn địa với hơn 500 người sinh sống, đa phần làm nghề nông trồng gạo, hái rau, măng còn có số ít làm bên gốm sứ mà buôn bán ra bên ngoài. Ở rìa ngôi làng, có một đồn lũy nằm chắn ngang đường đi từ ải Nam Dương để lưu thông vào nội địa nước Sở.
Tối ngày 10 tháng tư khi hai tên lính trực đêm ở ngoài cổng đồn Bình Thành thì chúng chợt nghe tiếng của một thương nhân cưỡi ngựa chở xe phía sau reo lên:
” Có ai ăn kẹo mỡ lợn hay không? Kẹo mỡ lợn chỉ hai cắc một miếng mà thôi, vô cùng ngọt bùi! Mại dzô, mại dzô kẻo hết hàng!”
Một tên gác bên trái thì thầm với tên bên phải muốn lại mua tí đồ vặt lót lòng giữa đêm:
” Ê tên kia, ngươi thấy có lão bán kẹo mỡ hay không? Chiến loạn cỡ vậy mà vẫn bán đồ rẻ đấy chứ, không mua là uổng đó!”
“Suỵt đô úy mà nghe được là đầu chúng ta phải rơi đó!” – tên bên phải nhắc nhở lấy hắn.
“Chí phải, nhưng dù sao chúng ta cũng cách xa địch hơn một biên ải mà!” – tên lính hồi nãy bị nhắc nhở lẩm bẩm khẽ nhỏ lại, nhưng hắn vẫn thèm quà vặt –“ Vậy mình ta đi trước mua cho huynh cùng các anh em, đôi chút tý thứ nhỏ vặt để chúng ta cùng gắn kết hơn thôi!”
“Tùy ngươi, nhưng phải về lẹ. Không thì ta chẳng cứu nổi ngươi trước cơn thịnh nổ của gã đô úy đâu!” – tên lính bên phải làm một vẻ mặt căng thẳng lên rồi sau đó mép miệng cười nhẹ lên, bởi hôm nay có một tên đãi mình kẹo rồi.
Tên lính gác ấy liền đuổi theo người thương nhân ấy, dùng hết sức của đôi bàn chân mà đi tới góc khuất đường núi rừng mà hét lên:
” Chủ kẹo, dừng lại coi! Ta muốn mua kẹo của ngươi!”
Người thương nhân ấy đang cưỡi ngựa rồi dừng lại hỏi:
” Quý khách nay muốn mua kẹo của lão nhân đúng không? Lâu lắm rồi tại lão mới bán kẹo mỡ trở lại bởi chiến sự các nơi điêu đứng đường đi lại của tụi thương nhân chúng tôi. Vì ngài là người đầu tiên mở hàng kẹo tôi, vậy nên tại lão bao quý khách ăn vài viên kẹo mới làm, nó có màu nâu sẫm của hổ phách do mỡ và đường tạo nên!”
“Thật là cảm tạ ngươi rồi, ta không ngại!” – tên lính nở nụ cười khoái chí trong lòng, vì còn được tặng thêm để ăn.
Tên lính liền cầm lấy vài viên kẹo của lão bán hàng mà ăn ngấu nghiến như một đứa trẻ lâu ngày chưa ăn kẹo, bởi hắn lâu ngày rồi chưa có quà ăn vặt từ tình hình biên giới đóng cửa mà chặn đường buôn bán tạm thời của bọn lão thương.
Nhưng sau đó đầu óc hắn trở nên loạng choạng, thân thể khó đi đứng dễ dàng. Hắn bèn hỏi ông lão:
” Bộ kẹo ngươi có ngâm thêm rượu hay sao?...Đầu ta…đã lâng lâng khoái…chí rồi….hai thứ ta….mong cả năm có…đó là kẹo mỡ….và rượu…giờ có trong kẹo của lão thương…đây!”, một tiếng ầm tung đất đá lên.
Hắn nằm sấp xuống đất do trúng thuốc trong kẹo mỡ mà ngủ, vị lão thương ấy chỉ thở dài mà nói:” Trời đất ơi, nhà ngươi đúng là khờ khạo tới mức đó luôn sao? Thà vậy ở nhà làm ruộng chất phát còn hơn!”
“Vậy nên hắn mới chịu nhập binh đó, thưa lão Sính!” – một tiếng vang bỗng xuất hiện, với một giọng trầm của vị chỉ huy trên lưng ngựa.
“Hồ Xạ tướng quân đã tới như ước hẹn sớm hơn một nén nhang vậy, quả nhân cũng bất ngờ đó!” – vị thương gian đã trên năm mươi tuổi ấy nói ngạc nhiên với Hồ Sử, ông ta họ Sính, tên tự là Lộc.
Rồi Hồ Sử đưa tấm bài đỏ - đại viên cho việc thương nhân ấy có thể buôn bán ở Lâm Nam và định cư, cũng như một hộp gỗ chứa hơn 100 lượng vàng tặng cho lão thương:
” Sự việc đã xong, Sính lão thương. Mong ngài tránh khỏi tai họa Sở tặc mà xuống Lâm Nam lánh nạn, mọi thứ sau chúng tôi sẽ tự giải quyết lấy!”
Lão thương nhân nhận lấy quà rồi chấp tay đáp:” Chúng ta sẽ gặp lại ở Lâm Nam, xin cảm tạ tấm lòng của chủ công ngài và bổn tướng ngài đây. Lão nhận xin đi khỏi phiền việc của bổn tướng!”
“Sính lão thương đi cẩn thận!” – Hồ Sử đáp lại sau khi chấp tay tiễn đưa.
Rồi Sính lão thương cưỡi con ngựa xách hàng xe gỗ về phía Nam mà cứ reo bán kẹo mỡ rằng:
” Mại dzô, mại dzô! Kẹo mỡ lợn thơm ngon nức mũi khiến ai cũng thèm đây! Hai cắc một miếng kẹo mỡ, giá rẻ mời mọi người ghé mua!”
Nhìn lão nhân đi thật xa khỏi tầm mắt, giữa các núi đồi nhấp nhô mà suýt chạm tới mây trắng khó thấy trong đêm xong thì Hồ Sử quay mặt nói với tên lính kỵ:
” Ngươi hãy trói tên lính địch lại, ở một góc cây cổ thụ lúc hắn hãy còn mê. Sau khi chiếm xong đồn, chúng ta dẫn giải hắn cùng tù binh của Sở tặc khác về lại biên giới, chỉ có vậy mà thôi!”
Tên lính cưỡi thiết kỵ mang giáp màu lục sáng hòa với cánh rừng gần đó đáp lại mệnh lệnh:” Sĩ tốt đã hiểu lời của Hồ Xạ tướng quân!”
“Ha ha ha, anh em hãy cố gắng hết mình. Sau trận quân ta sẽ có công trạng lớn, thưởng mỗi người 5 lượng bạc tiêu xài. Hạ đồn Bình Thành, bắt sống tên đô úy rồi đốt trại thoái về nước!” – vị Hồ Xạ tướng quân cười vang lên, ông mang cảm giác thỏa mãn về sắp xếp sự việc tới giờ.
Qua hơn một canh giờ, tên lính hãy còn ở cổng đồn chờ tên bằng hữu của hắn giờ đã mất kiên nhẵn. Hắn chửi ầm ấm lên:
” Mẹ kiếp! Cái thằng kia đi gì lâu dữ vậy chứ? Nó định ăn hết kẹo của lão thương nhân ấy sao? Muốn tụi mình chịu trận với vị trên rồi!”
Hắn hoảng hốt chạy ra tới cung đường mà tên gác chung với hắn đã chạy dí theo kẻ bắn kẹo mỡ, vừa sấp mặt chạy vừa hô:
” Tiểu tử họ Di, ngươi mau về đồn bằng không chúng ta phải chết cả!”
Lúc hắn nhảy xuống bìa rừng tựa bởi núi non đá cao ngất ngưỡng tìm tên huynh đệ thì một ánh đao sáng từ bên thân cây đưa trước cổ hắn, được cầm bởi một người mặt giáp lục sáng với vẻ cảnh báo. Hắn run sợ mà vừa nuốt nước bọt vừa cố dịch cổ ra khỏi đao, hỏi một cách khiếp đảm:
” Là…ai…là ai vậy?”
Người mặc giáo trụ màu lục sáng, phía sau lưng người ấy cũng có áo choàng sẫm màu hơn màu giáp nhép miệng lên đáp lại một cái quỷ dị:
” Ngươi đừng có la lớn, bằng không đầu ngươi sẽ lìa cổ mà gặp ma lang thang!”
Rồi hai tên lính gác bị trói vào một góc cây cổ thụ lớn, tên kia mới bị bắt liền hỏi tên hãy còn say mê nhưng còn nói chuyện được. Tên vừa bị bắt hỏi một câu không cam lòng:
” Di Lú, sao ngươi lại dễ sa bẫy dụ cỡ vậy chứ?”
“Chẳng phải chúng ta giữ…được mạng sống…thay vì phải liều chết giữ đồn hay sao…Đuồng ca à?” – tên bị bắt trước bắt đầu tỉnh lại và trò chuyện, dù hắn trả lời ra những câu quái dị khiến cho tên họ Đuồng này không thể nào chịu nổi.
Tên lính họ Đuồng buộc lòng nói ra một lời chấp nhận sự thật:” Ôi ước gì ta với ngươi ở quê làm ruộng cho khỏe!”
“Phải đó huynh à!” – tên Di Lú nói một cách vui tươi –“ Chúng ta …có…thể mời các anh em, hàng xóm và những tên lính đây chung hội làm cỗ ăn uống no say. Ngắm cảnh làng quê ruộng bậc thang đầy ngũ sắc để đắm say thêm tình quê!”
“Ngươi đúng là một tên dị hợm trong quân trướng, ha ha ha!” – tên họ Đuồng cũng không nhịn nổi mà cười sặc lên.
“Ta cũng mong hòa bình với nước Sở của các ngươi trở lại, chúng ta có thể sang chung vui với các ngươi. Ta sẽ đem theo heo sữa quay và mắm cá để vào mâm cỗ đầy đặn hơn” – một tên canh gác Lâm Nam liền nói với đám tù binh với mong muốn sẽ kết thúc chiến tranh nhanh chóng.
“Ngươi…ngươi tên gì vậy?” – tên Di Lú hỏi.
“Ta là Nghị Hơn, quê làng Giáo Sơn của huyện Nghệ Hách thuộc châu Hách, đạo Lâm Nam. Mong ngươi cũng tới làng ta sau tàn cuộc khi có thể, bọn ta có lễ hội uống rượu gạo: tổ chức lúc sang thu, ai uống nhiều nhất thì tôn làm ‘Đại Cồn Hùng’ đó!”
“Đúng, đúng vậy! Nay chúng ta kết thân nha, huynh à!” – Di Lú cười sảng khoái lên.
“Ta đồng ý, nay kết giao sau này cùng nhau gặp dự hội” – Nghị Hơn cũng đắc ý, chấp nhận lời mời của Di Lú.
Ở trong đồn Bình Thành, bọn thủ quân chờ đổi ca trực ở trại trú của lính cả mấy canh giờ mà chưa thấy hai tên gác cổng về, bọn chúng liền tự vấn đáp chính mình và hai tên kia.
“Ủa, sao chưa thấy hai thằng kia về nữa?” – một tên trong trại hỏi.
“Đúng đúng, đáng lý chúng đã làm xong nhiệm vụ canh trực rồi mà?” – tên khác hỏi, hắn có đầu tóc và cả khuôn mặt đều đen như nhau.
“Có lẽ bọn chúng ngủ gật thì sao?” – tên ở giữa nghi vấn khả năng này.
“Có nên báo cho đô úy biết hay không?” – tên ban đầu thắc mắc hỏi lại.
“Suỵt….lỡ báo thì đầu bọn chúng bay cả đó! Ngươi muốn xảy ra việc đó không?” – tên ở giữa xen ngang.
“Ta lỡ lời thôi mà…” – tên ban đầu thu mình lại, tay tự gãi đầu xấu hổ.
“Thôi đừng cãi nhau, ta cứ ra khỏi đồn xem hai tên còn hay không…” – tên mặt đen đưa biện pháp –“…nếu chúng ngủ gật thì đem chúng vào trại giấu rồi cứ mọi việc mà báo tốt với đô úy là được rồi!”
“Chí phải, sao tụi mình không nghĩ ra từ sớm vậy?” – tên ở giữa đáp lại.
“Thôi! Thôi! Thôi! Các ngươi mau đi lẹ kẻo vị đô úy phát hiện thì cả lũ toi đời đó!” – tên mặt đen gằn giọng nói một cách hối hả.
“Tụi ta đi!” – hai tên đồng thanh đáp, rồi cả ba đều chạy nhanh trong đêm tới cổng đồn.
Ba tên chạy tới mở cổng gỗ nặng trịch ra thì thấy chừng hơn 800 tên kỵ binh, mặc giáp xanh tím tới trước mặt cả ba tên. Bọn chúng kiếp sợ run lên:
” Sao…sao tinh kỵ của đại nhân lại tới đồn nhỏ của chúng tôi vậy?”
Vị chỉ huy ấy bèn đáp dõng dạc lại:
” Ta được lệnh của Chu Lệ dẫn toàn đồn các ngươi tới ải Nam Dương nghênh chiến anh dũng với giặc Lâm tặc!”
Ba tên này nghe phải ra chiến trường thì run sợ, buồng tiểu từng gã muốn tuồn ra để xả. Nhưng tên đen tiến lại gần ngựa của vị chỉ huy đội kỵ mà hỏi lại:
” Cho tiểu tốt xem bài vị của tướng quân…được không?”
“Sao ngươi lại ngang nhiên hỏi ta như vậy chớ, tên tiểu tốt kia?” –vị tướng lúc này nổi máu, tức giận để mắt trừng lên như muốn đánh chết tên mặt đó cho hả dạ.
“Dạ…dạ…dạ, tiểu tốt có lỗi, tiểu tốt thật có lỗi với tướng quân uy dũng đây! Nhưng do theo lệnh của chính vị thống tướng chinh phạt…tức là đại nhân Chu Lệ lệnh cho vị đô úy của tiểu tốt phải…xuất trình trước khi qua đồn này, hay muốn lệnh…như gọi cả đồn ra nghênh chiến với giặc cũng…phải xuất trình đó thưa tướng quân…” – tên mặt đen xám xịt cả người, rồi quỳ xuống bái lạy –“ xin tướng quân…xin tướng quân thứ lỗi cho tiểu tốt đáng chết này!”
“Ồ vậy phải theo lệnh của Chu thống tướng à?” – vị kỵ tướng kịch phúng vấn đáp rồi nghiêm nghị lên một tiếng to trước tên hỗn xược hắc nhân –“ Nhưng chính Chu Lệ lệnh cho ta phải đem cả đồn cùng chính tên đô úy, các ngươi ra tới ải Nam Dương lập công báo quốc mà? Giỡn mặt với ta chỉ có đường cụt mà thôi!”, giọng ấy đã cho tên mặt đen đã tè ra quần vì mất hồn.
“Tiểu tốt không dám nữa đâu…tiểu tốt quả thật đáng chết!” – tên mặt đen không còn một chút hồn phách nào dám hỏi lại nữa, chỉ cầu sự tha thứ.
“Nể tình ngươi vì mồm lưỡi cũng khá đấy! Ta sẽ đưa cho các ngươi xem chiếu chỉ của Chu thống tướng quân gửi cho ta nè!” – vị tướng ấy liền ném xuống chiếu chỉ cho ba tên cùng xem.
Nhưng chiếu chỉ ấy không có bất cứ chữ nào, chỉ là một tờ giấy trắng tinh chưa ai viết lên cả. Ba tên đang chăm chú nhìn ‘chiếu chỉ’ mà khó hiểu, thì lúc đó vị tướng quân lệnh cho thuộc hạ rằng:
” Bắt ba tên này lại cho ta, dẫn chúng tới chiến trường ở Lâm Nam đền tội báo ơn!”
Rồi cả ba bị bắt, cả lũ la bi thương lên:” Xin tướng quân tha mạng…lũ tiểu tốt chúng tôi biết tội rồi…xin tướng quân tha mạng!”, quần bọn chúng đều bóc ra mùi khai của nước tiểu vì sợ tột cùng.
Vị tướng ấy cưỡi ngựa đi ngang ba tên bị bắt kia rồi nói:” Ta hứa là ta sẽ giữ mạng giúp các ngươi”
Rồi ông nở một nụ cười khó hiểu trước bọn chúng rằng:” Bởi ta là Hồ Sử, Kỵ Xạ tướng quân của Tả doanh đạo Lâm Nam. Nếu các ngươi biết ngoan ngoãn thì các ngươi sẽ không bị sao cả!”
Hồ Sử bèn ám hiệu cho các kỵ sĩ của Tả doanh đi vào cổng đồn, đoàn ngựa cùng ngựa chạy thẳng tới ngôi nhà mái ngói âm dương lúc hừng sáng.
Tiếng ồn đạp liên lục, xáo tung nền đất của vó ngựa mà thổi vào ngôi nhà được tên đô úy nằm nghỉ. Hắn liền dậy, đi tới mở cửa ra mà quát lớn lên:” Ai dám làm ồn trong bản doanh của ta chứ? Kẻ đó đáng…”
Chưa kịp nói xong, hắn chợt bừng tỉnh hẳn thấy rõ giáp khí của tinh kỵ đại vương Hậu Sở, hắn liền rập đầu xuống van xin tha thứ:
” Tiểu tử lỡ dại dột lời lẽ, xin đại nhân tha thứ cho!”
Hồ Sử chỉ nhép miệng lên mà đáp lại:
” Ta sẽ bắt ngươi cùng toàn bộ thủ tốt ở đây ra tiền tuyến chiến đấu, cứu nguy cho ải Nam Dương! Lập công giết giặc, chuộc tội cho thói lười nhác”
“Nhưng…nhưng… tiểu tốt tôi được…nhận lệnh từ…từ… Chu thống tướng rằng…chúng tôi phải giữ lấy…đồn nhỏ này bằng mọi giá cơ mà?”
“Ngươi trái lệnh của Chu thống tướng giao cho ta sao?” – Hồ Sử liền quát lại một giọng nề hơn, mang ý chỉ trích tên đô úy so với mọi lần trước ông đóng kịch.
“Vậy tiểu tử sẽ lệnh toàn đám sĩ tốt chuẩn bị hết mọi thứ sẵn…rồi…rồi…rồi hẳn toàn đồn lũ tiểu tốt sẽ đi!” – hắn đang ở tư thế quỳ, tay rung rung đã khiếp đảm.
“Khỏi cần!” – Hồ Sử kịch phúng đáp –“Bắt tên nghịch tử lầm lỡ công việc của Chu thống tướng giao cho ta!”
“Dạ đã rõ!” – đám lính liền xuống ngựa túm lấy tên đô úy, trói buộc hắn đi ra xa.
“Xin đại nhân tha mạng!” – tên đô úy vẫn cố van xin cho đến khi Hồ Sử hết nghe giọng của hắn.
“Hừ, ở xa chiến tuyến nên sinh thói kiêu ngạo, ngông cuồng. Cho nhà ngươi chừa cái tật!” – Hồ Sử liếc mắt nhìn tên đô úy phía xa một lát rồi ông nhảy xuống ngựa, không để ý nữa.
Hồ Sử tiến vào căn nhà bản doanh đó, lấy ra thư tịch, ghi chép của đồn Bình Thành. Ông liền cười nói thầm:” Mạt tướng đã làm xong hết những gì Lý tướng quân và Bảo Nam Trọng Tướng Quân giao lấy cho mạt tướng”
Tới giữa trưa, toàn bộ 400 lưu thủ của Bình Thành bị trói lại trước sân nắng gắt, cháy cả da người. Kỵ quân của Lâm Nam cải trang thành tinh kỵ của Đại Vương Hậu Sở tìm lục hết khắp đồn nhằm hướng đến lương thảo, vũ khí cho Hồ Xạ tướng quân.
“Bẩm tướng quân!” – tên kỵ sĩ liền đáp lại với Hồ Sử sau khi rà soát hết đồn nhỏ này –“Chúng ta phát hiện hơn 5 vạn thạch lương, 15 ngàn giáp khí các loại và hơn 4 triệu đồng tiền đúc lẻ ở riêng đồn Bình Thành nhỏ này!”
“Quả là chuẩn bị cho trận đánh lớn ha, Chu Sở Tặc!” – Hồ Sử nói một cách miệt thị -“ Hãy đốt hết những gì chúng ta không thể mang theo!”
“Hạ nhân đã rõ, mọi thứ sẽ y như Hồ Xạ tướng quân lệnh làm!” – tên kỵ sĩ chấp tay rồi tự châm đuốc phóng hỏa cả kho trại địch.
Toàn bộ kỵ binh của Hồ Sử cùng hơn bốn trăm tên địch đi về phía biên giới giáp Lâm Nam. Tất cả còn lại ở đồn là những bãi tro bụi từ đám cháy hãy còn khói bay chưa dứt, người dân xung quanh gần đó nghe rằng kỵ của Hậu Sở bắt bọn ù lì, lười nhác mà tỏ thái độ chống đối để bọn chúng ra nghênh địch ở biên giới cả rồi.