“Thưa điện hạ, thần nhận được tin tình báo rằng Khang Bình đã bị giáng chức làm tạp vụ, suốt ngày chịu tội quỳ bởi thất bại trước thủy quân ta. Còn thuộc hạ của hắn là Đỗ Trọng được giữ chức đô đốc phó thay hắn…” – tên trạm dịch báo lại sự tình của phe Lâm Nam cho Phê Tri Chơn và các tướng sĩ biết.
“Hề hề hề, lũ sâu bọ này nhận báo ứng rồi! Nay mai đại vương kéo quân thì chúng phải rút về nước mà thôi!” – Phê Tri Chơn cười khinh miệt. Vị tiểu vương Cau Phương lúc này đang ngồi trên ngai vàng chói lói, được điêu khắc đầy chạm trổ hổ phượng. Hắn thản nhiên tự tin với uy lực của quân mình đã làm suy sụp sĩ khí của quân Tống Sơn nhiều phần rồi.
Phạm Kỳ Hữu tiến tới gần Phê Tri Chơn, với ánh mắt điềm đạm và trái ngược với sự thỏa thích nhất thời của vị tiểu vương mà thể hiện ý định bày mưu tính kế thêm cho vị ấy. Kẻ ngồi trên ngai vàng liền hỏi lại:
“Ngài muốn nói gì với ta nữa vậy?”
“Thưa điện hạ anh minh, sáng suốt…tuy quân ta giành được chiến thắng trước lũ Lâm Nam nhưng Nguyễn Tống Sơn vẫn còn lực lượng đầy đủ, nếu để bọn chúng rút lui thì hoàn toàn bất lợi cho phe ta khi nhập vào Lâm Nam” – Phạm Kỳ Hữu sau đó bày mưu kế hiểm - “ Vậy nên ta nên chiêu hàng tên Khang Bình, vốn đã uất ức trước sự sỉ nhục của chủ soái hắn. Tất nhiên hắn đã bất mãn, không cam lòng rồi, là thời cơ cho chúng ta chia rẽ quân tâm…”
Chưa kịp nói xong, Phê Tri Chơn ngắt lời của vị thượng tướng:
“Ta thấy lũ Lâm Nam này khó lòng đổi chủ lắm, xưa nay chúng là kẻ có mối thù sâu nặng với nước Chang chúng ta mà?”, hắn thắc mắc, ngỡ ngàng bởi vì trước giờ tiền bối hắn chẳng bao giờ dụ dỗ một tên Lâm Nam nào hết.
“Ấy là ngài chưa cho bọn chúng đủ lợi lộc mà thôi!” - Phạm Kỳ Hữu ung dung trả lời vấn đáp của tiểu vương Cau Phương -“ Quân sư Phạm Dĩnh của nước Sở năm ngoái đã dùng kế dụ ngọt lũ Nùng Trù Lăng, Vương Tâm ngã theo phe họ khiến cho quân Sở chiếm được nửa đạo Lâm Nam. Nay ta dùng sách cũ, nhằm vào kẻ đang bất mãn, bị làm nhục bởi chính người của kẻ đó chẳng phải là thượng sách sao? Lấy vàng bạc, phân phong đất đai cho hắn, con cái thì đời đời ấm tập chức vụ. Cho địa vị như vậy thì không một tên nào khước từ nổi, ngay cả thánh nhân cũng bị lung lay, động lòng. Thế quân ta đông mạnh, quân giặc suy ngược, chia rẽ thì há tên Khang Bình tất phải cố đấm ăn xôi chịu mãi khiếp dưới trướng một lão già bạc tình chăng? Ta càng nghĩ Khang Bình đã nảy sinh ý định bỏ tối theo sáng, chưa cần phe ta cử người mà một khắc sẽ quy phục. Khi Khang Bình dỗ về thì Nguyễn Tống Sơn buộc thu binh về trốn lủi sau hang chuột, ổ kiến của hắn; sĩ khí của điện hạ và danh uy của bệ hạ cùng lúc sẽ vang khắp Nam Hải này!”
“Ta khâm phục đầu óc của ngài, tên Tống Sơn chuyên ức hiếp quân ta giờ phải chuốc lấy độc dược do hắn tạo ra, ha ha ha!” – Phê Tri Chơn thán phục kế dụ hàng của Phạm Kỳ Hữu, rất mong tới ngày báo thù cho phụ tử năm xưa.
Đêm tối buông xuống, ở gần hồ Dư Hoài (cách doanh trại của Tống Sơn 10 dặm), có một ngôi đền gạch nung bị bỏ hoang, tự mình đúng giữa ngọn đồi nhỏ đầy rẫy cây bụi ít ai qua lại bởi chiến sự mấy tháng nay. Dưới chân đồi có hai bóng dáng mỗi người mang theo đuốc, cùng với cử chỉ mờ ám mà cả hai lập tức tiến lên bậc thang, vào bên trong đền thờ thần sấm của các tộc Mán Nam.
“Ngài hiểu ý tại sao chúng ta ở đây rồi chăng?” – người hỏi đầu liền cởi mặt nạ đen quỷ dị ra cho người không trùm mặt đối diện xem.
“Phạm thượng tướng, ngài biết ta phải lén lút trong đêm tối, vượt qua vòng canh giác của chính các huynh đệ ta thì ngài cũng rõ ta thấu ý định của ngài rồi. Giờ đi vào vấn đề thỏa thuận hai bên đi, ta muốn ta làm gì nào?” – đối phương không ngần ngại đáp lại, mặt mày lạnh lẽo không một chút vui buồn.
“Ta rất thích sự thẳng thắng, không vòng vo của ngài” – Phạm Kỳ Hữu nhẹ giọng tiếp lời, thái độ niềm nở như bắt được của quý –“ Đại diện cho bệ hạ đại quốc Chang, ta với tư cách là kẻ bề tôi truyền tin muốn ngài làm một điều này trước: hãy cố gắng lấy lại uy quyền trước đội thủy ngài từ tay tên Đỗ Trọng, rồi sau đem cả đội quy phục dưới trướng của phe ta. Ấy là việc làm của kẻ thức thời, bỏ tối theo sáng, cứu nguy dân chúng vậy…”
Khang Bình đang phân vân, trầm tư thì hắn lại nói thêm những lời lý lẽ của mình:
“Ở Nam Hải này duy chỉ có đại quốc Chang ta là thế lực hùng hậu, có trăm ngàn chư hầu cống nạp, dâng quân phục dịch. So với các nước xung quanh thì hơn chứ không kém, thiên hạ tộc người không thuộc về nước Cô hay Gò Xung nữa rồi! Lũ Tống Sơn, Thống Sư và Lê Uýnh xem thường thế đạo mà ngày đêm bắt lính vô tội vạ, đánh nhau không ngừng, cậy thế hào môn lâu năm mà ức hiếp bình dân xuất như ngài đây! Chúng thiếu mắt sáng, thông tuệ nên mới sỉ nhục vị tướng quân đây nhiều phần…Đại quốc Chang ta luôn trọng người tài, nể người hiền mà không suy xét gia thế và lỗi lầm cũ cả. Xin ngài hãy đầu quân cho nước ta!”
Nghe xong lời dụ dỗ lẫn đe dọa như vậy, Khang Bình bất động một lúc, ông ta hoài nghi trước lời của Phạm Kỳ Hữu rồi cuối cùng khàn giọng vấn đáp rằng:
“Vậy thượng tướng lấy gì đảm bảo quân Mán Nam khi nhập vào đất Việt ta sẽ không đốt phá, làm bậy chứ?”
Phạm Kỳ Hữu cười nhẹ, hắn đưa chỉ bài khắc bằng cả chữ Chang và Trung Nguyên cho Khang Bình, đáp lại:
“Khi lũ Tống Sơn, Nguyễn Nghĩa rút khỏi Cau Phương thì ngài mang theo tấm phụng bài này của đại vương ta gửi gắm này mà thị uy với dân chúng Lâm Nam là quân đại quốc Chang là quân của Trời phù hộ, thống nhất các tộc người sẽ không cướp bóc và quấy rầy họ. Dẹp xong lũ loạn tặc, ngài chính là tân vương của Lâm Nam, tuân chỉ cống nạp ba một lần, đem chút ít sản vật cho đại vương nước ta dùng thôi!”
Nghe tới câu này, Khang Bình bước vào trạng trái suy nghĩ sầu nặng, não nề bởi vì quyết định đầu quân theo giặc Cau Phương vô cùng khó khăn. Dù thắng hay thua, việc quy phục giặc truyền kiếp của dân Lâm Nam luôn là sự sỉ nhục, đả kích nặng nề. Ngay cả nước Đông Hải không rửa hết nhục, trúc Nam Sơn không ghi hết tội phản nước, muôn đời bị lăng mạ bởi dân chúng. Hơn một canh giờ sau, Khang Bình thở dài rồi mở miệng ra nói:
“Được, ta tin ở ngài!” – Khang Bình cầm lấy tấm phụng bài liền chấp tay cúi đầu trước Phạm Kỳ Hữu, đã bằng lòng với thỏa thuận.
“Ha ha ha, Ngài quả là người sáng mắt, thức thời! Ta mong ngài lựa đúng thời điểm để hàng quân ta…” – rồi hắn cũng chấp tay, làm lễ với người trước mặt –“…Giờ ta xin phép cáo lui, trở về thành quách báo tin tốt”
Bóng dáng của vị thượng tướng nước Chang dần xa khỏi tầm mắt, để lại mình Khang Bình với vẻ mặt không đổi sắc, ánh mắt chập chờn theo ánh nền hồng giữa ngôi đền lạnh giá, cảm giác vô cùng quỷ dị, ma mị.
“Tên đó quy phục rồi sao?” – Phê Tri Chơn cào nhẹ vào chén nước trên bàn, băn khoan do hắn chưa tin những thứ nghe được từ vị thượng tướng.
“Hề hề hề, mong điện hạ sáng suốt tin tưởng vào ta! Tên Khang Bình đích thân đã cầm lấy phụng bài của bệ hạ khắc thì từ nay là người của chúng ta rồi, chẳng dám trở mặt đâu!” – Phạm Kỳ Hữu trả lời một cách tự tin, khẳng định – “Vì Nguyễn Tống Sơn đã sỉ nhục chính con người tự co ấy thì hắn ắt biết khó có thể lập công danh ở xứ Lâm Nam một lần nào nữa…Xin điện hạ hãy yên tâm vào tính toán của ta!”
“Ừm, ngài đã nói vậy thì ta không dám hỏi thêm nữa!” – vị tiểu vương Cau Phương gật đầu thuận theo lời của Phạm Kỳ Hữu.
Ở Bãi Bà Bạc, các tướng sĩ Lâm Nam đang bàn luận về kế hoạch đối chọi với lũ giặc Cau Phương. Tất cả đều có mặt, trừ Khang Bình bị giáng chức ra.
“Ngài ấn định ngày 26 là chúng ta phải giao chiến với địch lần nữa sao?” – Đỗ Trọng thắc mắc với chủ soái.
“Quân ta buộc phải đánh sớm, bởi nếu để tên Chế Bình Kiên tới chi viện cho thành Sương thì lúc đó không bằng nào đánh được giặc nữa mà buộc phải rút về biên giới cố thủ bị động. Đây là trận chiến nhất định phải thắng, không thể để thua bất kỳ khắc nào vì nếu thua…thì chẳng còn mặt mũi gặp lại đại trưởng [1] được nữa!” – Tống Sơn nói xong thì sắc mặt liền nghiêm nghị, đứng nhìn phản ứng của mọi người.
Đỗ Trọng chấp tay, quỳ giữa sàn chiếu đầy bụi đất mà hét lớn rằng:
“Mạt tướng đã rõ lời của chủ soái! Quyết thắng quân giặc, không thể thua lần nào nữa!”
“Nhất quyết phải thắng! Không thể thua lần nữa!” – các tướng sĩ đồng thanh vang lên khiến cho cả lều trại rung chuyển theo.
Nhưng Trương Hữu Nhất lại đột ngột bước lên giữa các tướng sĩ, tới gần vị chủ soái với ánh mặt đượm sầu, tha thiết mà hỏi:
“Vậy còn Khang chỉ huy, thưa chủ soái? Hắn sẽ phải ở doanh trại hay bổ sung vào đơn vị nào khác?”
“Khang Bình nên được về nước, những gì hắn làm đã rất tốt..” – Tống Sơn đáp lời –“…dù hắn có thiếu sót được xem là nặng nề xét theo quân pháp nhưng Khang chỉ huy sẽ cùng đoàn tàu chở thương binh, dân phu dìu về ải Đương đặng chấn chỉnh, đốc thúc quân sĩ nơi đó tốt hơn là liều mạng oan uổng cho trận chiến lành ít dữ nhiều như vậy!”
Đỗ Trọng sốc nặng, ông ta định hốt ra một câu vấn đáp nhưng chỉ có thể ấp úng khi mở lời:
“Nhưng…nhưng…nhưng mà…”
Hiểu ý thuộc tướng, Tống Sơn thở dài rồi đáp lời:
“Bổn tướng hiểu ý của ngươi, dù sao thì Khang Bình tính tình nóng nảy, thích liều mạng nên không tốt khi dẫn dắt quân sĩ vào một trận khó lường như vậy. Ngươi ít ra sẽ làm tốt hơn so với hắn khi vào thế bế tắc nên xứng đáng chỉ huy trận chiến sắp tới”
Vừa dứt lời thì một làn gió mạnh thổi vào trong lều trướng, như một điều báo hiệu thời khắc quan trọng sắp tới. Các tướng nhìn nhau với sự ngầm hiểu về điều cần phải làm.
“Giờ tốt đã tới, không thể chần chừ. Quân ta xuất quân tháng sáu, đi ngược gió Nam đánh giặc, nhất định phải thắng!” – Tống Sơn đã trào sôi cổ họng, hào hùng rực lửa bằng câu nói quyết tâm thắng giặc.
“Quyết diệt giặc Mán Nam!”
“Quyết diệt giặc Mán Nam!”
“Quyết diệt giặc Mán Nam! Chiến thắng tháng sau oai hùng!”
Các tướng sĩ đồng thanh reo lên một cách mãnh liệt, họ biết trận quyết tử với quân Cau Phương không khác gì ngàn cân treo sợi tóc, tình thế mong manh dễ vỡ nhưng họ vẫn chọn chiến đấu vì đập tan mưu tính hiểm độc của Phạm Dĩnh, không để Lâm Nam chịu nỗi nhục như trận Đông Hoàn lần nữa.
Ở vương cung Cau Phương, Phạm Kỳ Hữu tường thuật lại thư tình của Khang Bình gửi bằng bồ câu về những gì quân Lâm Nam chuẩn bị cho trận chiến sắp tới cho Phê Tri Chơn nghe khiến hắn đã tâm tư vắt óc, suy nghĩ thật lâu thì mới hỏi:
“Vậy ta nên tính sao đây, thưa thượng tướng?”
“Điện hạ chớ lo, tên Khang Bình sẽ lập tức nắm quyền đội thủy trở lại từ tay Đỗ Trọng thì hắn liền đem số thuyền ấy quy hàng với chúng ta ở đầm Hà Bá[2] ” – Phạm Kỳ Hữu cười nhẹ giải đáp cho vị tiểu vương –“ Khi Nguyễn Tống Sơn đánh vào cửa sông Dư, hắn ắt hiểu rằng tự đem chính mình vào thế cô, thua nhiều phần tới cỡ nào, ha ha ha!”
“Vậy ta yên tâm rồi…” – nhưng đầu hắn chợt nhớ một điều nữa nên hỏi tiếp Phạm thượng tướng –“… mà ngài có chắc để tên Khang Bình cai quản Lâm Nam không? Bởi ta chưa bao tin một kẻ Lâm Nam nào suốt cuộc đời ta nổi, bản chất của chúng mãi là lưu manh, xảo nguyệt, bội ước vong ân!”
Phạm Kỳ Hữu trấn an nỗi lo của vị tiểu vương:
” Điện hạ chớ lo, chúng ta sẽ đưa binh sĩ tới Lâm Nam đề phòng sự phản trắc của Khang Bình. Nếu hắn dám làm chuyện lật lọng, mưu tính riêng thì lính ta sẽ giam hắn lại ngay. Dùng người Lâm Nam khác để trị xứ ấy, cống nạp cho nước ta sử dụng tùy ý, cũng như làm bàn đạp ảnh hưởng lên các nước Trung Nguyên, gây sự kính sợ của Gò Xung với chúng ta hơn!”
Cả hai cùng cười vang trong sảnh điện lớn, tự đắc cho rằng quân của Tống Sơn đang tự chui vào bẫy do chính bọn chúng đặt sẵn kỹ càng. Mọi sự tính toán đều bất lợi cho quân thủy Lâm Nam: họ ngay cả liều chết, lấy mạng đổi mạng cũng không thể giết hết hàng nghìn chiến thuyền neo đậu trong cửa sông hẹp, huống chi có thêm kẻ đã phản bội họ nữa. Tất cả đều là con bài mà Phạm Kỳ Hữu sắp xếp sẵn trước khi giao đấu với phe Lâm Nam, nó vô cùng tinh vi, bài bản.
Đêm ngày 25 tháng 6, Tống Sơn truyền chỉ dụ cho Đỗ Trọng đem 40 thuyền chiến xuất phát trong đêm để quan sát tình hình bố trí của địch trước khi đội thủy chính của vị chủ soái và Trương Hữu Nhất tiến công, cùng nhau nghênh chiến giặc.
Khang Bình lại bí mật tham gia chiến dịch và lén vào phòng trướng của Đỗ Trọng xin cho mình đi theo đốc thúc binh sĩ và được chấp thuận. Ông ta nói rằng đầm Hà Bá là đường mật của giặc mới lưu thông làm chỗ ứng biến nên đánh vào chỗ đó nhằm gây bất giờ quân địch. Đỗ Trọng cũng tán thành với ý của Khang Bình mà tiến công, không chờ đội thủy chính phía sau cùng hội quân đánh cửa sông Dư.
Vào nửa đêm, khi mà Đỗ Trọng ngủ thiếp đi thì đột ngột có tiếng gõ cửa rầm vang liên tục làm cho vị tướng ấy phải bật dậy ra mở cửa. Bởi bị làm phiến giấc ngủ mà ông ta nổi nóng quát lớn:
“ Kẻ nào dám quấy rầy ta vậy?”
Nhưng lúc đôi mắt bớt mơ hồ và tỉnh táo thì Đỗ Trọng nhìn rõ lại thấy có hơn mười tên mang binh khí cùng với Khang chỉ huy đang mặc trọng giáp đứng giữa đám người có sát khí chẳng mấy tốt lành gì làm cho gáy lưng ông ta lạnh toát, dự cảm không hay đến với mình.
“Sao…sao…ngài lại kéo những tên vô lại tới nơi nghỉ của ta vậy Khang chỉ huy?” – khuôn mặt càng thêm bàng hoàng, càng thêm rối óc do sự uy hiếp của vị chỉ huy cũ trước mặt.
“Ta chỉ giành lại những gì thuộc về ta thôi, Đỗ Trọng à…” – Khang Bình hừ lạnh một tiếng rồi nói tiếp –“ Ngươi quá ngu si khi cả tin lời của Tống Sơn, không đời nào đội thủy Lâm Nam thắng nổi lực lượng dũng mãnh, đông đảo của nước Chang khi đánh trực diện đâu!”
Ánh mắt Đỗ Trọng chợt đỏ ngầu, cắn răng ấm ức hét lên:” Khang Bình, mi là một tên mang thù nhỏ nhen trong lòng khiến lỡ việc quốc trọng, ru ngủ bởi cái ác làm điều phản nghịch! Mi nghĩ sẽ được hưởng vinh hoa phú quý của bọn Mán Nam hả?”, rồi nắm tay siết chặt như muốn đấm đứa con bất hiếu.
“Hừ! Ta chẳng thèm mấy thứ phù phiếm đó đâu! Nhưng ngươi có đảm bảo khi quân Chang nhập vào Lâm Nam sẽ tha cho dân hồng hay không? Ta đây chỉ ước hẹn với họ là đất Việt chúng ta sẽ thần phục họ trên danh nghĩa thôi, chẳng hại gì tới dân cả…nào nếu ngươi hiểu xã tắc, nghĩa quốc hạ mình khỏi sự ngu trung với lũ Tống Sơn, Lê Uýnh thì cùng ta quy phục đại vương Chang quốc đi, Đỗ huynh à” – Khang Bình muốn lôi kéo, xiêu lòng Đỗ Trọng đầu quân cho nước Chang.
“Đừng có ăn nói xằng bậy, tên Khang Bình khốn khiếp kia! Ta mãi vì dân xứ Nam, vì Lê Đô Đạo [3], vì Nguyễn đại trưởng [4] mà chiến đấu thôi!” – Đỗ Trọng quyết không mềm lòng trước miệng lưỡi chiêu hàng của Khang chỉ huy.
“Cũng không sao cả” – Khang Bình chỉ cười nhạt rồi liếc tới thuộc hạ hắn mà nói –“ Mau bắt giữ Đỗ chỉ huy, đừng để ông ta ra ngoài phòng nhưng cũng đừng tổn hại tới một sợi lông của ông ta!”
“Rõ!”
Liền đó ba tên áp sát gần Đỗ Trọng để khống chế, bịt miệng ông ta bằng vải thô rồi trói lại vị chỉ huy ấy ở một góc riêng, đề phòng việc trốn thoát.
Khang Bình đã kiểm soát được toàn bộ đội thủy trước đây thuộc về mình, ông ta lệnh cho 40 chiến thuyền di chuyển tới đầm Hà Bá với ý định quy hàng quân Chang đúng như kế hoạch. Cánh buồm đẩy thuyền tiến lên, Khang Bình nhìn lại nơi giam giữ Đỗ Trọng với ánh mắt buồn bã, ngậm bùi thì thầm:
“Xin lỗi Đỗ huynh nhiều, ta buộc phải làm như vậy…”
Tới canh ba về khuya thì cả đội đã tới được gần đầm Hà Bá – vốn được đóng giữ chốt phòng bởi lực lượng đối phương. Khang Bình sai thuộc hạ bắn pháo hoa truyền tin cho Phạm Kỳ Hữu thấy mật hiệu đã hẹn ước.
Trên soái hạm Cau Phương, một tên lính gác báo về việc pháo hoa bắn gần phía Nam đồn lũy cho Phạm thượng tướng biết.
“Bẩm thượng tướng, mật hiệu đã được quân ta báo lại đã thấy ở phía đầm Hà Bá!”
“Ừm, tốt! Ngươi mau phát lệnh cho đồn chốt để đội thủy ấy tiến vào đi!” – Phạm Kỳ Hữu xoa tay trước mặt hắn rồi liếc nhìn về phía Bắc liền tự giễu –“ Khà khà, Nguyễn Tống Sơn chính ngươi tự đâm đầu vào đường chết rồi!”
Khi được phép vào đầm, Khang Bình không chần chờ mà hét to với tướng sĩ rằng:
“Hãy dẫn tiên phong đi trước!”
Những chiếc thuyền nhẹ, cao chừng một tầng nhấp nhô giữa đầm còn đầy lá sen, cành đước tiến vào đầu tiên. Và rồi những đội thuyền khác cũng tách hàng ra mà đi sâu bên trong đầm rộng chừng một dặm này.
Một tên chỉ huy thủy quân Cau Phương nhìn chằm chằm vào các đội thuyền Lâm Nam, nhép miệng lên mừng rỡ:
“Lũ này quả là thức thời, chúng biết không đánh được phe ta nên đã đầu hàng đại quốc Chang rồi!”
Nhưng hắn sau liền lạnh gáy sống lưng, tiến lên nhìn kỹ những con tàu từ lớp sương thì hắn cảm giác một điều bất thường: những con thuyền Lâm Nam quy hàng đó không hề dừng lại báo hiệu mà vẫn tiếp tục đi lên một cách nhanh chóng theo dòng gió, cuốn theo một mùi dị thường, khó chịu sặc vào mũi từng tên lính thủy Cau Phương.
Tên chỉ huy lập tức mắt sáng lên, hắn run sợ nói lấp bấp:
“Chúng…chúng ta bị mắc mưu…”
Chưa kịp nói xong thì những chiến thuyền ấy thực ra là các mồi lửa đang rực cháy, tới sát nhằm thiêu sạch thuyền Cau Phương. Trên thuyền chất đầy rơm củi, dầu hỏa và bột diêm nên sức cháy vô cùng mạnh mẽ. Khi đâm vào đối phương thì chúng đã bốc cháy như hỏa ngục làm cho những tên lính xui xẻo bị kẹt trở thành cầu lửa chiếu sáng cả màn đêm tối.
Ngó từ đằng xa xăm, Khang Bình nở một nụ cười đầy thỏa mãn, đáp rằng:
“Lũ Mán Nam nghĩ trò dụ hàng này có thể mắc câu được người như ta sao? Đúng là đám người ngu xuẩn, không xứng xưng bá ở cõi Nam này!”
Vị Khang chỉ huy quay lại về hướng phía Cù Lao Hằng – là nơi các đồn lũy trọng yếu bảo vệ cảng nội thủy giặc, nói với thuộc hạ:
“Mau dẫn tám đội bách hộ [5] nhảy lên Cù Lao Hằng, chiếm lấy các đồn lũy của địch!”
“Hạ tướng tuân lệnh!”, rồi từng đoàn binh sĩ đội thủy từ những bè nhỏ đổ bộ lên bờ, liều mình chém giết quân địch còn đang rối loạn trong đêm.
Nhìn cảnh la ó, kêu la thảm thiết hòa cùng mùi máu tanh và những hơi nóng do dầu hỏa cháy rực hừng hực trên sông lẫn bộ như vậy thì sắc mặt Khang Bình lại vô cùng nhẹ nhõm, tự thầm:
” Ta đã rửa nhục được rồi, chủ soái quả là cao minh, kỳ tài!”
Hung tin ấy được truyền về cho Phạm Kỳ Hữu nghe làm hắn vô cùng đau đầu, vắt óc nghĩ ngợi sao tên Khang Bình lại bội ước như vậy. Sau cùng hắn lệnh Đồng Thắng đem vài ngàn quân chống cự thế công của Lâm Nam ở Cù Lao Hằng còn hơn 600 chiến thuyền cùng hơn 22 ngàn tên án ngữ cửa sông bất động.
Một tên lính cận vệ thắc mắc sao lại không đem hết quân cứu viện thì tên thượng tướng trả lời với ánh mắt băng giá:
“Nguyễn Tống Sơn sẽ đón chờ chúng ta, hắn rất giỏi giăng bẫy quân ta nên đề phòng vẫn hơn!”
Đúng như hắn dự liệu, khi trời gần ló dạng tia nắng đầu tiên thì hơn trăm thuyền chiến các loại tung bay cờ hiệu khắc chữ ‘Lâm Nam’ ở ngoài khơi từ từ to dần trước mắt của đám lính Cau Phương hãy còn lo âu và sợ hãi sau trận đánh ở Bình Trạch. Giữa đội thủy chiến ấy, có một soái hạm chở theo vị tướng già đứng hiên ngang được vây quanh bởi các phó tướng và cận vệ. Hào quang ấy làm cho đối phương có phải chú tâm liên tục, không ngừng một khắc nào.
“Đó…đó…đó là Tống Sơn!” – một tên thuộc tướng Cau Phương kêu lên với nét mặt hốt hoảng và hàm miệng ấp úng.
Không tên Cau Phương nào mà không nể sợ Tống Sơn bởi ông ta làm tướng chưa bao giờ thua trận trước một ai cả, thậm chí đánh tan tác chúng mấy phen suốt hàng chục năm. Chỉ có Phạm Kỳ Hữu bạo nộ, khàn cả giọng gào thét thì mới tạm trấn an sĩ khí quân hắn.
“Tiến nhanh tới cửa sông, không cho giặc ra khỏi lòng chảo!” – Tống Sơn ra lệnh cho các tướng sĩ.
Hàng hàng thuyền chiến lớp đầu chèo kéo hành tốc đã áp sát tới đối phương mà bắn tiễn, ném đá. Chiến lược của họ là cầm chân quân thủy địch, không cho chúng có thể dùng số lượng đông đảo mà tràn ra tạo thế bao vây, gọng kìm thủy đội Tống Sơn.
“Chúng đang làm trò quái gì vậy?” – một tên thuộc tướng ngơ ngác tự hỏi –“ Sao không dốc hết toàn bộ thuyền ra giao chiến?”
Suy nghĩ hồi lâu, Phạm Kỳ Hữu chợt bừng tỉnh ngộ ra liền hô lên:
“Mười đội hãy tiến lên đuổi theo giặc, bọn chúng đang cố câu giờ cho tên Khang Bình!”
“Nhưng sao không cố thủ tại cửa sông, chúng cần dại gì đuổi theo bọn chúng chứ?” – tên thuộc tướng bên cạnh thắc mắc.
Phạm Kỳ Hữu phẫn nộ, túm lấy cổ tên thuộc tướng mà quát:
” Giết tên Tống Sơn thì chúng ắt tan rã! Ngươi còn hỏi nữa ta sẽ trừng trị nặng ngươi!”, rồi đá kẻ đó xuống sàn mà điên loạn ra lệnh đánh trống xuất quân.
Tùng…tùng…tùng…
Tiếng trống gầm rú cùng tiếng hò reo của phu chèo thúc giục hơn 300 chiến thuyền tiến lên có trật tự, kéo ra khỏi cửa sống lập thành một trận hình thẳng hàng, xếp như đội ngũ trên bộ.
Tuy vậy, những đội tàu của Lâm Nam lại lui về phía sau. Họ tránh giao tranh trực diện với địch, bởi đó là chỉ thị do Tống Sơn đưa cho từng thuyền trưởng, buộc họ tuân theo rõ ràng.
Các đội tàu của Cau Phương khi ra biển thì bọn chúng kéo đội dài xa tới tận mây trời, khó người thường có thể nhìn thấy hết nổi với tầm mắt nhỏ bé giữa trời xanh. Phạm Kỳ Hữu nhìn kỹ đội thuyền Lâm Nam rồi tự đắc cười lên:
“Vây chặt hai sườn cánh của bọn chúng!”
“Nhưng thưa thượng tướng, hạ tướng đây lo chúng giở trò như ở Bình Trạch lần nữa chăng?” – tên thuộc tướng khác cố khuyên nhủ hắn.
“Hừ! Thuyền phe ta đông, chúng có làm trò được gì đâu?” – Phạm Kỳ Hữu hừ lạnh, hắn chẳng coi đối phương ra gì –“ Mỗi người chúng ta phun một ngụm nước bọt cũng đủ nhấn chìm bè gỗ nổi của đám sâu bọ này rồi!”
Lớp đầu của thuyền chiến quay về hàng ngũ, Tống Sơn không nao núng rút lui mà truyền dụ cho hơn trăm chiếc dàn trận chữ ‘nhất’ chèo thắng tới phía giặc. Hai bên bắn tên, phóng tiễn qua lại nhằm tiêu hao sức lực trước khi va chạm vào nhau. Khi còn cách ba trăm bước bộ thì phe Cau Phương dùng hết bình sinh, đẩy nhanh mũi tiến công ồ ạt hòng diệt gọn những chiếc thuyền tiên phong của Lâm Nam. Những luồng gió Nam khiến cho ý định ấy bị gặp khó khăn, thuyền Cau Phương đều di chuyển lệch hướng làm cho các đội thủy Lâm Nam thoát một phen hiểm nghèo.
Vị chủ soái bên Lâm Nam đi tới mũi tàu, hô lớn về phía Cau Phương với giọng điệu chế giễu, khiêu kích:
“Phạm thượng tướng, ngài còn quá non nớt để giao chiến với quân ta! Ngài hãy rút về Chà Tân nhận tội với đại vương của ngài đi, đừng có dại dột chết uổng ở đây!”
Nghe được lời ấy, đầu óc của Phạm Kỳ Hữu tức khùng lên như một con thú dữ xổng chuồng. Hắn bạo nộ về phía Lâm Nam rằng:
“ Nguyễn Tống Sơn, ngươi đừng có ngông cuồng tới mức vậy chứ…ngày tàn của ngươi sắp đến rồi mà còn nói ra lời lẽ ngu xuẩn vậy hả? Ta sẽ cho ngươi biến sức mạnh của đại quốc hàng đầu Nam Hải này ra sao!”
Thủy quân Cau Phương vẫn tràn ra khỏi cửa biển như đàn kiến chui ra khỏi tổ, làm tăng dần số lượng thuyền chiến vốn đã đông đảo, lấy thịt đè người này. Vậy nên cho dù đội thủy của Tống Sơn có trốn chạy cỡ nào cuối cùng cũng khó thoát khỏi thế gọng kìm chặt do Phạm thượng tướng bày ra.
“Ném đá cho ta!” – Tống Sơn lớn giọng tới khô cổ, kêu các tàu dùng máy ném đá chặn đứng đà tiến lên của thuyền địch.
Vút…vút…vút…
Từng táng đá nặng hơn 50 cân ném lên giữa trời xanh, làm tối cả tầm mắt bọn giặc ở hàng thuyền đầu. Những tảng đá ấy làm vỡ rụng thuyền chiến địch thành nhiều mảnh vụn khác nhau, nhấn chìm hàng chục tàu xuống vực đáy. Nhưng điều này chẳng hề đủ để cản bước hết đoàn thuyền giặc tiến lên như dòng thác lũ muốn cuốn trôi tất cả sinh vật sống dưới hạ nguồn, tình cảnh vô cùng nguy nan cho Tống Sơn.
Lát sau, thuyền địch Cau Phương ở hai cánh đã va chạm với hai sườn phía quân Tống Sơn. Quân sĩ giặc xách đao cầm thuẫn nhảy tới thuyền Lâm Nam hòng chém giết quân ta, cảnh tượng hỗn chiến hai bên cực kỳ bi đát, tuyệt vọng. Dù binh sĩ xứ Nam cố gắng cầm cự, phản kháng mấy phen nhưng lực lượng đối phương ngày lúc càng đông để không cho họ một thời gian nghỉ mệt, gây ra thương vong nặng nề. Từng thuyền Lâm Nam tiên phong đã rơi vào tình thế chết chóc, tàn sát từ phe giặc.
Uống một chén rượu với vẻ thư thái trên soái hạm, Phạm Kỳ Hữu nhìn cảnh vật xung quanh vốn là nơi chiến trường đổ máu một cách thờ ơ một cách quái dị. Hắn nhắm mặt lại cùng sự thích thú mà giễu rằng:
“Hừ! Nguyễn Tống Sơn ơi là Nguyễn Tống Sơn, ngươi tưởng ta là thiếu gia ngạo mạn mà dễ lừa sao? Ta đây là trọng tướng mà đại vương trao sự tin tưởng đánh dẹp suốt 20 năm, tự mình ta bò ra từ xác chết mới leo lên tới chức thượng tướng này…há để ngươi tùy ý đùa giỡn được hay sao? Hôm nay là ngày tàn của một bại tướng oai liệt như Nguyễn Tống Sơn trước tay Phạm thượng tướng ta đây, ấy cũng vinh dự lắm rồi! Hề hề hề…”
Chưa kịp để hắn kịch phúng lâu, một tiếng ‘ào ào’ như sóng thần từ phía sau đội hình cánh chim của Cau Phương có một điều bất thường: mực nước trong sông Dư cao hơn mọi khi, và nó khiến những chiến thuyền còn mắc kẹt trong cảng nghiêng ngã, muốn lật úp với nhau.
Rầm…rầm…rầm…
Một cơn sóng cao hơn 10 trượng về phía Bắc cửa sông (cũng là nơi của Hồ Dư Hoài và bãi Bà Bạc) đổ dồn dập, cuồn cuộn tới hướng mà hơn hàng trăm tàu bè lớn nhỏ thuộc phe Cau Phương neo đậu bật lực không thể chạy trốn đi được cả.
“Cứu…cứu ta với!” – một tên thủy binh úp mặt xuống sàn với mặt mày trắng bệch, tái nhợt suy sụp bởi đối diện với cơn sóng lớn trong nội thủy.
Ầm…ầm…ầm…
Sóng cuốn ngày càng mạnh, mang theo xác cây cau, đá tảng và gỗ cọc mà quân Lâm Nam để lại sẵn ở bãi Bà Bạc.
Xoẹt…xoẹt…xoẹt…
Rầm…rầm…rầm…
Các vật cuốn cùng cơn sóng dữ đâm vào khoang thuyền Cau Phương, làm cho hàng trăm chiếc bị thủng lỗ mà chìm xuống đáy. Tiếp sau đó là dòng cuốn dâng lên làm cho thuyền trước đè lên thuyền nhỏ như núi lở, khó có thể ngăn chặn bằng bất cứ kế sách nào. Xác thuyền cùng tử thi trôi dạt khắp nơi, mảnh gỗ to lớn đi theo dòng nước bồng bềnh tràn lên bờ, đẩy chúng vào cửa Bắc thành Sương.
Rầm…
Xoẹt…
Cánh cửa thành Sương phía Bắc đổ sập xuống khiến binh lính cùng dân chúng trong thành hoang mang, thất thần tột độ bởi các mảnh gỗ to lớn phía sau vẫn tiếp tục tràn lên. Nó tiến vào thành như chốn không người, không ai dám lại gần những khúc gỗ nặng trịch được sóng đẩy đi như cho thả hổ dữ về rừng.
Nhìn trên sảnh điện, Phê Tri Chơn há hốc mồm đứng nhìn cả đô thành tiểu quốc của hắn chìm trong nước lũ, thần dân hắn thì ráng lên tầng cao ở nhà kiên cố mà giữ mạng. Hắn muốn ngất đi nhưng được kẻ hầu đỡ người vị tiểu vương lại, dìu dắt khẩn thiết rằng:
“Xin điện hạ hãy vào trong nghỉ ngơi”
Đột nhiên hắn lấy lại thần sắc, liền ấp úng truyền lệnh:
“Chúng ta…chúng ta thua rồi…ngươi mau…dẫn phụ mẫu, vương phi cùng các con ta đi trước đi…ta phải tổ chức lại quân ngũ rồi…gặp họ sau!”
Tên hầu hạ già nua liền quát tiểu đội hắn dẫn người đem vương tộc của Phê Tri Chơn chạy trốn trước, còn mình hắn dìu tên tiểu vương vào trong phòng nghỉ hồi sức.
“Sao lại thành ra thế này?” – Phạm Kỳ Hữu mang đôi mắt rợn lạnh, miệng há lên, há xuống mấy lần bởi không dám tin vào mắt mình một cảnh tượng quái đản.
“Dễ thôi mà, ta cho người ngăn đập ở hồ Dư Hoài suốt nửa tháng nay…” – Tống Sơn hô to cho phía bên đối phương nghe –“…cũng chỉ là trò mèo vờn chuột thôi, ta phải xoay cho ngươi cùng Phê Tri Chơn rối loạn bởi nếu cứng đối cứng thì phe ta chẳng bao giờ thắng nổi. Nhưng nhờ vào tính cách muốn ‘Bắt cả mẻ vào lưới’ của ngươi mà ta có thể dùng Khang Bình làm ‘khổ nhục kế’ “
“Ý ngươi là để cho Khang Bình chịu thất bại rồi giả hàng ta?” – Phạm Kỳ Hữu mỉa mai hỏi, nhưng đầy sự chua chát –“ Rồi dùng hắn làm mồi nhử cho liên hoàn kế của ngươi, khiến phe ta phải chủ động đánh các ngươi đúng không?”
“Gần như là giống hệt ngươi suy đoán!” – Tống Sơn nói thắng cho hắn nghe –“ Nhưng không nhờ ngươi quá sơ suất thì quân ta cũng phải thu quân cố thủ ải Đương rồi! Ta phải cảm ơn ngươi dâng thành Sương cho xứ Nam bọn ta, cũng như góp công thắng lợi lừng lẫy này!”
“Hừ, ngươi tưởng ta bỏ cuộc dễ dàng vậy sao?” – hắn lập tức sai thuộc hạ -“ Thúc trống, kêu trung quân tiến lên giết hết lũ sâu bọ không chừa một ai!”
“Rõ!”
Rồi các thuyền ở phía trung quân Cau Phương tràn lên, chèo mạnh lấy đà mà đâm vào phía Lâm Nam.
Nhưng cùng lúc đó, ở phía Bắc đằng xa có bóng dáng của những chiếc thuyền nhấp nhô giữa cơn sóng êm dịu từ biển cả. Họ lập thành một trận hình trải dài, có thể đếm được hơn trăm chiếc to lớn, đều mang cờ khắc chữ đen ‘Lâm Nam thủy hiệu Trung doanh đội’ bao bởi viền lục. Đội thủy đó do chính Lê Kiêm dẫn dắt, vị chỉ huy trẻ ấy liếc nhìn chiến trường mà thở phào:
“Phù…may là ta kịp đem thuyền cứu lấy lão tướng Tống Sơn”
Tới tận khi này, phe Lâm Nam hoàn toàn nằm ở thế thắng, khó cho địch lật nổi thế trận. Trương Hữu Nhất cùng với Lê Kiêm và hàng trăm thuyền chiến đánh bại hoàn toàn lực lượng Cau Phương trên biển. Còn tên thượng tướng vốn từng tự tin, ngạo mạn đó giờ bị thiêu đốt cùng với soái hạm của hắn, xác chôn vùi xuống biển cùng hơn một vạn sinh mạng lính thủy Cau Phương.
Ở Cù Lao Hằng thì Khang Bình, Đỗ Trọng cùng các quân chiếm được các đồn lũy trọng yếu và họ sau đó cử người tiến vào thành Sương trong tình trạng hỗn loạn. Đội quân ấy không gặp bất cứ sự chống cự của giặc hay thị dân bởi bọn họ đã khiếp đảm trước cơn lũ dữ để mặc sức cho lực lượng Lâm Nam thong dong bước vào cung điện trống không của Phê Tri Chơn. Khang Bình bèn dụ cho binh sĩ dưới trướng bảo an trật an, không gây rối cướp bóc trừ châu báo, ngà sứ trong cung bỏ hoang ra. Các quân khác thì cố gắng dọn dẹp các thứ hư hại, vật cản trong và ngoài thành đặng tiếp đón chủ soái cùng đại quân khải hoàn tại kinh đô Cau Phương này.
Chú thích:
[1] Tức là Nguyễn Tư, đương giữ chức huyện lệnh Đương Nam và thuộc nội các tham mưu quân đạo Lâm Nam (do Thống Sư lập ra).
[2] Nằm ở phía Nam thành Sương, là một đầm kết nối với sông Nam Dư và Cù Lao Hằng. Đầm Hà Bá ít xem là nơi có thể cho thuyền bè qua lại cho đến khi chính Phạm Kỳ Hữu chỉ dụ cho bọn lính chặt cây, dọn dẹp xung quanh đầm ấy.
[3] Tức là Lê Uýnh.
[4] Nguyễn Tư.
[5] Một đội bách hộ tương ứng với 100 người và tám đội là 800 người.