Ba ngày sau, tức là ngày 15 tháng 6 thì Tống Sơn truyền lệnh cho Khang Bình đang giữ chức phó đô đốc, dẫn hơn 30 chiến thuyền tiến gần nằm ngoài cửa sông nhằm quan sát tình hình, quấy phá và phóng hỏa thuyền vận lương của địch, nếu được hơn thì chặn đánh, bắt giữ thuyền chiến của Mán Nam. Bởi vị tướng già am hiểu nếu dốc hết lực lượng đánh thì không thể chắc thắng, khó lòng nhấn chìm hết mấy ngàn tàu bè giặc giống như trận trước, khi giặc đã cảnh giác, đề phòng sau thất bại.
Trước những quyết định trên thì trong trướng, khi trời vừa ló dạng hừng sáng ban mai, qua khỏi vén màn đỏ là nơi dành cho các vị chỉ huy của đạo quân thảo phạt Mán Nam, là những người sẽ ra quyết định kế hoạch nghênh chiến với tiểu vương Cau Phương tại cửa sông Dư; đốt sạch thuyền bè, chiếm lấy thành Sương.
Ánh nắng dịu nhẹ sáng sớm chiếu thẳng vào địa đồ trên bàn, giúp cho mọi người thấy rõ phòng tuyến và bố trí mà địch có thể sử dụng để bảo vệ.
Vị lão tướng đứng trước địa đồ với sắc thái trầm ngâm, suy tư mà nhìn kỹ vào đội hình thuyền địch san sát nhau gần cửa sông hồi lâu, rồi ngửa mặt lên khàn giọng nói:
“Ta thấy sau thủy chiến ở Bình Trạch, Chế Bình Kiên đã hối hả cử thêm hàng trăm chiến thuyền án ngữ không giao chiến gần thành Sương rồi. Nay ta lo chúng đã tập hợp hơn ngàn tàu bè các loại, cùng hơn vài vạn quân tốt, dù phe ta tuy đang có sĩ khí tốt nhưng số lượng vô cùng ít ỏi. Các chư tướng nghĩ sao về thế trận sắp tới phải đánh?”
“Bẩm tướng quân, thần cho rằng thủy quân chúng có thể chặn đánh đội tàu tuần tra, vận lương của địch khi chúng còn chưa đóng chặt cố thủ. Ấy giúp ta phá rối lương thảo, tiêu hao sinh lực của lũ Mán Nam, của chính tên Phê Tri Chơn!” – Khang Bình trả lời, hiến kế cho Tống Sơn nghe.
“Phó đô đốc Khang Bình quả thông minh, linh hoạt thích ứng với tình hình!” – vị cấp trên Trương Hữu Nhất nhẹ giọng tiếp lời –“ Ta thấy kế của Khang đệ hoàn toàn tốt, làm địch mệt mỏi, còn ta nhàn rỗi!”
“Ta cho rằng các ngươi quá xem thường khả năng đề phòng của lũ Cau Phương sau trận Bình Trạch rồi!” – Tống Sơn cau mày, khàn giọng của một lão tướng đã trải bao chinh chiến –“ Ai có thể đảm bảo nổi giặc sẽ lừa ta vào trận địa mai phục của chúng?”
Mọi người đều im lặng, chẳng người nào dám phản bác lại lời nói đanh thép, đầy lý lẽ của vị chủ tướng. Không khí trong lều bị đè nén, căng thẳng hơn nửa ngày trời, cho đến khi Khang Bình khăng khái giữ nguyên với đề xuất của ông, cổ họng giáng gượng đáp lại:
“Xin chủ tướng hãy suy xét kỹ, giặc nếu đầy đủ lương thảo, vũ khí, quân sĩ tiếp viện từ Chế Bình Kiên thì có khi thủy quân ta chẳng còn một cơ hội đặng chặn đứng đường xâm lược của bọn Mán Nam lần nào nữa…Nếu chủ tướng sợ thần đem hết tàu thuyền mà gây nguy hại cho cả đoàn chinh phạt thì thần dám xin chủ tướng chỉ cấp cho đội thủy quân 30 chiến thuyền, quyết dùng tốc độ cao mà hao mòn đoàn vận tải của địch. Mong chủ tướng suy xét kỹ, anh minh sáng suốt quyết định trước lời đề xuất này!”
“Mong chủ tướng suy xét mưu kế của Khang phó đô đốc!” – toàn các chư vị tướng sĩ đều đồng thanh chấp tay, nài xin Tống Sơn nghe theo chiến lược của Khang Bình.
Nhưng vị chủ tướng lại im tiếng hồi lâu, ánh nến cùng hũ đốt hương liệu hòa thành một mùi thơm nhưng cũng ngột ngạt bởi suy tâm từng người không dám mở nổi một lời nào. Từng giọt mồ hôi đổ trên tấm giáp của vị chủ soái lia lịa, rồi lát sau ông ta hốt lên rằng:
” Được, ta sẽ chuẩn theo ý của Khang Bình! Nhưng chỉ huy phó đô đốc cũng phải nhớ kỹ đừng khinh thường địch mà mắc bẫy, bằng không tội sẽ đè lên đầu mình ngươi!”
“Thần xin lĩnh mệnh, không dám sơ suất bị địch dụ!” – Khang Bình nghiêm trang chấp tay, quỳ tạ trước Tống Sơn.
Được lệnh ấy nên 30 chiến thuyền và hàng ngàn quân sĩ của Khang Bình đã nhanh chóng áp sát ngoài khơi, cách thành Sương và sông Dư vài chục dặm. Họ thấy bất kỳ tàu bè nào của địch di chuyển xa đồng đội, ra khỏi hàng ngũ thì tiến tới đánh chìm hoặc bắt giữ sung vào đội thủy quân. Nhờ vào kế đó mà hơn 200 thuyền bè vận tải bị đánh chìm, và đội thủy của Khang Bình tăng lên tới 100 chiến thuyền, Tống Sơn gửi thư khen chiến pháp của vị phó đô đốc ấy, rằng cứ như vậy thì nay mai sẽ đốt sạch toàn bộ thuyền Mán Nam.
Những thất bại này khiến cho Phê Tri Chơn vô cùng tức giận, trong cơn nóng nảy đã thịnh nộ ra lệnh thiêu sống bại tướng Bố Thái Tập nhưng việc này chẳng thể giải quyết tình hình đoàn thuyền vận tải từ Đại Kinh ở Chà Tân luôn bị quấy phá. Hắn bèn hỏi ý của Phạm Kỳ Hữu – một tên tướng dày dặn kinh nghiệm được cử tới bởi Chế Bình Kiên:
“Thưa thượng tướng, ngài có đối sách nào cho ta phá lũ sâu bọ Lâm Nam hay không?”
“Ta nghĩ các đội thủy quân phải dùng khổ nhục kế thì mới có thể như ý ngài muốn…” – Phạm Kỳ Hữu thản nhiên đáp lại câu hỏi của vị tiểu vương Cau Phương.
“Cho ta hỏi nên dùng khổ nhục kế nào mới thắng được bọn Tống Sơn vậy? Kiến thức ta hạn hẹp, mong được thượng tướng giải thích tường tận cho ta” – Phê Tri Chơn vấn đáp vị thượng tướng trước mặt.
“Thượng tướng đây sẽ nói ra ý tứ trong đầu mình cho ngài hiểu hết!” – rồi hắn hoạch ra mưu kế rõ ràng, từng li từng bước, không thiếu sót một chi tiết nào cho Phê Tri Chơn thấu tâm suốt một canh giờ.
“Ha ha ha, ngài quả là danh tướng của đại quốc Chang! Tên Tống Sơn này vốn dĩ là kẻ hữu mưu vô dũng, dùng nhiều loại ám kế bắt nạt quân ta. Xem coi hắn còn tự đắc nữa không khi bị quân ta đường đường đánh bại!”
Ngày 20 tháng 6, Khang Bình lại dẫn hơn 100 chiến thuyền từ Bãi Bà Bạc ra khơi, tiếp tục chiến dịch đánh chặn thuyền bè vận tải của địch. Khi rượt đuổi thuyền giặc, bọn Mán Nam lại di chuyển đột ngột nhanh về phía cửa sông Dư bởi đằng sau chúng có hơn 100 thuyền chiến do Đồng Thắng – phó tướng của Phạm Kỳ Hữu chỉ huy.
Khang Bình không hề nao núng, ông ta liền nói với thuộc hạ:
” Các ngươi hãy tiến lên, suốt mấy ngày qua phe ta đã làm bọn giặc khiếp sợ biết bao phen. Giờ chúng tự ra nộp mình cho quân ta, há chi không dám nhận lấy chiến công này?”, rồi lệnh cho toàn bộ đội thủy nghênh đón địch.
Vút…vút…vút…
Từng mũi tiễn được phóng lên trời từ hai phía, chĩa thẳng vào thuyền chiến của cả hai bên hòng diệt bớt binh lính đối phương.
“Mau đi nhanh hơn nữa!” – Đồng Thắng bạo nộ, hắn quát tháo lệnh toàn đội áp sát phía Lâm Nam.
Rồi hai bên đều đâm vào nhau, thuyền chiến hàng đầu bị mắc kẹt nên đội thủy Lâm Nam buộc phải cầm giáo mang khiên nhảy lên thuyền địch mà hỗn chiến, dùng sức mình để hạ gục từng tên giặc. Tiếng la hét, rên rỉ hòa cùng mùi máu tanh, mùi biển cả khiến cho khung cảnh giao chiến trên từng boang tàu chẳng khác nào một trận chiến trên bộ pha chút gió biển.
Sau hơn hai canh giờ, ưu thế lực lượng thủy quân Lâm Nam vượt trội hơn Cau Phương, những sĩ tốt Mán Nam trên hàng thuyền đầu hoặc bị giết, hoặc bị bắt làm tù binh. Sự việc bất lợi khiến cho Đồng Thắng trợn tròn mắt, miệng ấp úng không nói nên lời một lúc, rồi cắn răng hét một câu:
” Thua rồi, mau thoái quân về!”
Những chiến thuyền còn lại của Cau Phương chạy về phía cửa sông Dư, chúng bỏ mặc toán tàu bị kẹt lại trong cuộc hỗn chiến. Phe Lâm Nam tung hô, phấn khích reo hò, ai cũng muốn rượt theo tàn dư giặc lập công lấy thưởng.
“Dốc hết thuyền chiến có thể dùng nhằm giết sạch lũ Mán Nam, không để chúng có thể an toàn trở về!” – Khang Bình hô to, ông ta quyết đánh chìm bất kỳ tàu bè địch mà không hề suy xét chiến lược hay nhớ lại lời dặn của chủ soái.
80 chiến thuyền được xuất kích theo lệnh, rượt theo tàn dư của lũ Đồng Thắng không ngừng nghỉ. Gió Tây Nam làm chậm tiến bước của đội thủy Lâm Nam, họ mất hơn hai canh giờ mới bám sát kịp tàn dư địch (lúc này cũng cách cửa sông Dư chỉ khoảng 10 dặm).
Có một đô úy tên là Đỗ Trọng, vốn có tính cẩn thận, không thích liều lĩnh đã tới gần chủ tướng Khang Bình đưa ý riêng của mình rằng:
” Bẩm đô đốc phó, chúng ta mất nửa ngày đuổi theo địch mà lũ Mán Nam đã sắp về chỗ trú của chúng rồi…e nếu tiếp tục đánh thì rất dễ mắc bẫy hiểm độc do lũ Tri Chơn bày sẵn. Tôi mong chỉ huy Khang hãy lệnh lui về để tránh thảm họa!”
Khang Bình nhìn Đỗ Trọng với nét mặt không vui, đôi mắt khó chịu tỏ vẻ chẳng muốn thấy hình dáng của kẻ cấp dưới cãi lý với mình nên ông ta hừ lạnh, đáp lại:
” Ta thấy chúng đã mất hết tinh thần nên cắm đầu chạy hối hả, chẳng hề để tâm cho việc phản kích lại phe ta. Ngươi đừng lo quá, địch có phản công lại thì ta dùng kế như ở trận Bình Trạch đốt hết tàu bè chúng trong vũng ao mà thôi!”
Những chiến thuyền Lâm Nam vẫn tiếp tục rượt theo dù bầu trời đã hết tia nắng của ban mai và bất chấp chèo ngược hướng gió, bởi họ tin rằng sau hỗn chiến trận trước thì lũ giặc Cau Phương mất hết nhuệ khí, sức chiến đấu cả rồi.
Rồi đột nhiên ở phía bên kia, Đồng Thắng khàn giọng với thuộc hạ:” Hãy quay trở lại phản kích!”, tiếng trống vang khắp cửa sông, ra tín hiệu cho tàn dư Cau Phương xoay thuyền đối mặt với đội thủy của Khang Bình lần nữa.
“Hừ, chúng tự nộp mình rồi! Mau áp sát bọn chúng giết gọn như hồi sáng!” – Khang Bình kịch phúng nói, ông ta tự tin rằng đoàn thuyền Cau phương bất lực quay lại chiến đấu vì không để đội tàu Lâm Nam tiến sâu vào cửa sông.
Vút…vút…vút…
Những mũi tên được bắn ra vào phía thuyền Cau Phương, nhưng bên kia không đáp trả bất cứ làn đạn nào. Điều đó làm cho Đỗ Trọng lo lắng, run rẫy khuyên Khang Bình mau lui về doanh trại vì nghi địch dùng quỷ kế. Nhưng Khang Bình lắc đầu, ông cười nhạt lên rằng:
” Cá đã lọt vào lưới thì sao lỡ bỏ thời cơ, chúng chẳng làm được gì thủy quân ta đâu!”
Vừa nói xong thì chợt ngửi thấy một mùi lạ ở phía tàu bè Cau Phương, cũng mới xuất hiện cùng những lớp sương xung quanh chúng. Cau mày của vị chỉ huy Khang nháy lên, tròng mắt chuyển mình mấy lần như chim ưng mà miệng há hốc ra, muốn hốt điều gì mà để lại trong bụng.
“Bọn giặc dùng chính thuyền chúng làm ngọn đuốc thiêu chết thuyền ta, mau rút ra khỏi đây!” – Đỗ Trọng nộ lớn, đã nhận ra bất thường nhanh hơn mọi người.
Đoàn thuyền chiến của Cau Phương thực sự chẳng có một bóng người nào, chỉ có những bó rơm độn dáng binh sĩ đánh lừa thị giác của phe Lâm Nam. Tất cả binh sĩ của giặc đã di tản khỏi thuyền lớn và tự mình châm đốt thuyền chiến của chúng, nhờ cơn gió mà tiến lên đốt ngược lại đối phương.
“Khà khà khà, tụi bây bị gậy ông đập lưng ông rồi!” – Đồng Thắng tự giễu, hắn lúc này cùng các thuộc hạ đang chèo thúng nhỏ, khoái chỉ nhìn các thuyền chiến làm ngọn đuốc đốt sạch thuyền bè đối phương.
Dù Đỗ Trọng ra sức hiệu lệnh cho các thuyền bè quay đầu ra khỏi trận địa mai phục nhưng cuối cùng hơn 60 thuyền chiến, tức là gần toàn bộ số mà bọn họ thu hoạch từ giặc trước đó đều bị đốt cháy trong cơn lửa dữ, hai ngàn người thiêu chết hoặc chìm xuống đáy biển trong sự tức tưởi và đầy bi phẫn.
May mắn thay, Khang Bình cùng số tàn dư thuyền bè hãy còn nguyên vẹn đã chạy thoát khỏi biển lửa kinh hoàng, vị chỉ huy Khang nằm bệt xuống sàn với ánh mắt đỏ hoe, giọt lệ chảy đầm đìa xuống tạo thành một vũng nước chiếu rọi cả khuôn mặt ủ rũ, mất hồn. Ông ta ngậm bùi, khẽ giọng tự rằng:
” Ta…ta có lỗi với các anh em chiến sĩ…không chịu nghe theo lời của Đỗ đô úy…nếu đã nghe thì không ra nông nỗi cỡ vậy!”
“Chỉ huy đừng trách hết lỗi vào mình thế chứ…” – Đỗ Trọng an ủi vị chỉ huy –“ Ngài đã xả thân vì quốc, há chi tất cả do một mình chỉ huy? Tôi đây cũng không thiếu sai sót khi chưa kịp can ngăn chỉ huy. Còn giặc quá xảo trá, gian địa, chúng giả vờ thua nên mới có chiến thắng một cách hèn mọn như vậy!”
“Ngươi…ngươi nói đúng!” – Khang Bình ngẩn mặt đẫm lệ lên nhìn Đỗ đô úy, ánh mắt đã rưng rưng buồn sầu, nhẹ giọng hối tiếc –“ Ta thật sự xin lỗi ngươi, bởi sự kiêu ngạo, dại dột nhất thời khiến ta tai mắt mù điếc trước cao kiến của vị đô úy thông minh, linh hoạt này…ta hứa sẽ không phạm sai lầm như hôm nay nữa…hic…”
“Chỉ huy đã biết hối cải như vậy thì tụi tôi trách tội gì nữa, lấy công chuộc tội là điều toàn quân ta nên làm!” – Đỗ Trọng chấp tay, nghiêm trang trước mặt Khang Bình còn tự trách lỗi chính mình.
Ở thành Sương, lúc mà nhận được tin chiến thắng do tận tay Phạm Kỳ Hữu đưa tới, Phê Tri Chơn đã cười hả hê, âm vang khắp vương cung, mặt tràn đầy khoái chí, thỏa mãn khen vị thượng tướng rằng:
” Ngài quả là thần tướng đứng đầu cả nước chúng ta, đốt tro thiêu trụi hơn nửa hạm đội của lũ Lâm Nam. Đấy là chiến công vinh hiển khó ai sánh bằng, duy có thượng tướng quân Phạm Kỳ Hữu xứng lưu danh ngàn năm!”
“Điện hạ quá khen, quá khen kẻ nợ ơn bảo vệ đại quốc chúng ta rồi!” – Phạm Kỳ Hữu gãi đầu, hắn ta cười gượng lên vì được tán tưởng bởi tiểu vương Cau Phương –“ Bệ hạ chúng ta nội trong hai tuần nữa sẽ đem theo ba vạn quân, lúc đó thủy – bộ phối hợp phá tan bè giặc Nguyễn Tống Sơn cùng với Nguyễn Nghĩa [1]. Quân ta tiếp đó phá ải Đương, chiếm lấy Lân Nội và cả Lâm Nam sẽ thuộc về chúng ta!”
“Ngài nói đúng mong muốn của ta!” – Phê Tri Chơn nhìn về phía Bắc cười khinh bỉ, tâm nguyện hắn mong mỏi báo thù cho cha –“ Nợ máu này, Tống Sơn ngươi phải trả gốc lẫn lời!”
Về phía doanh trại Lâm Nam tại Bãi Bà Bạc, không khí trong lều trướng lại vô cùng nặng nề, ngột ngạt. Vị chủ soái với ánh mắt nghiêm nghị, miệng không vui, không buồn nhìn trước khuôn mặt rệu rã, chịu lỗi của Khang Bình mà hạch tội rằng:
“Ngươi hiểu lỗi của mình gây ra chưa?”
“Dạ…ngu thần đã biết tai họa, sai trái mà ngu thần gây nên do sinh kiêu, dại dột nhất thời, hại chết biết bao binh sĩ xứ Nam, đất Việt…xin chủ soái hãy xử tội kẻ bại tướng làm mất quân cơ chiến lược này!” – Khang Bình quỳ rập xuống đất, miệng hàm đáp lúc to, lúc nhỏ tiếng nhưng chẳng hề có tâm lẩn tránh, bao biện.
Trương Hữu Nhất bước tới trước mặt Tống Sơn, chấp tay cúi đầu khẩn thiết rằng:
” Xin chủ soái độ lượng giảm nhẹ tội cho Khang Bình, bởi hắn dù đáng tội chết từ sự tùy tiện dìm đẩy huynh đệ vào cửa tử ‘thập tử nhất sinh’. Nhưng do công trạng và cống hiến hết sức cho quốc gia, cho người dân xứ Nam, đánh đuổi giặc Mán Nam để bảo vệ biên cương…nên hạ tướng mạo muội xin chủ soái thông suốt vấn đề công – tội phân minh, tạm hoãn tội chết cho Khang Bình. Chỉ dùng lời răn đe, chấn chỉnh kỷ cương buộc hắn tự mình sửa sai lại thôi. Mong chủ soái suy xét và nhân từ với tên tội nhân đó…”
“Ta hiểu ý nhà ngươi!” – rồi vị chủ soái quay sang nhìn Khang Bình, hai tay đỡ lấy ông ta đứng dậy rồi khàn giọng xử phạt –“ Phó đô đốc Khang Bình, ngươi mang tội khinh địch mà khiến quân ta tổn thất vô cùng thảm khốc, xem thường lời dặn dò của ta trước đó. Vốn theo quân pháp xưa nay thì ngươi phải bị nghiêm trị nặng, sống chết đã định sẵn nhưng xét lấy kỹ công trạng phục vụ quân ngũ, bao lần giành lấy chiến thắng cho xứ Nam bằng lòng quả cảm, vận dụng kế quấy phá giặc nên bản tướng đây sẽ tạm ngưng xét xử tội danh của nhà ngươi. Nhưng Khang Bình nhà ngươi sẽ bị tạm tước quyền phó đô đốc, số binh sĩ, tàu thuyền còn lại trao cho đô úy Đỗ Trọng – là thuộc hạ dưới trướng nhà ngươi. Nhà ngươi cũng phải quỳ nửa ngày trước bài vị vong cửu huynh đệ tử trận, những người chính người từng dẫn dắt, cầu xin họ tha thứ cho. Tất cả những gì ta cần nói đã nói xong, khâm lệnh!”
“Ngu thần đây xin đa tạ tấm lòng thương tướng sĩ như con, xử phạt công bằng, nhân từ của chủ soái! Ngu thần xin nhận tội!” – Khang Bình lại quỳ rập xuống, mừng rỡ vì Tống Sơn tha tội chết cho ông ta.
Những ngày sau đó, Khang Bình phải quỳ trước bài vị vong sĩ tử trận, ông ta còn bị hạn chế gặp mặt các binh sĩ mà đích thân từng cùng sinh ra tử trong các trận chiến tới giờ. Còn Đỗ Trọng lại đảm đương những việc của vị chỉ huy làm trước đây, tập hợp tàn dư và ngày đêm huấn luyện thêm tân binh để quyết báo thù mối nhục trước đó.
Chú thích:
[1] Em của Nguyễn Tư, đương giữ chức Mán Nam Trọng Tướng Quân. Chỉ huy 4,500 quân nghênh chiến với Bố Kình Địch – con của Bố Thái Tập ở biên giới.