Khi được tin đồn Bách Đồ bị vây, Trương Diên đã cùng hơn 2,600 kỵ xạ và 4,800 phu cưỡi ngựa ngày đêm cấp tốc chi viện cho đồn vốn cách hơn 800 dặm ấy. Bọn họ mỗi người đều được cấp hơn 6 con chiến mã to lớn, khỏe chắc. Mỗi lần con nào kiệt sức thì tới trạm dịch nghỉ lại, kỵ sĩ dùng ngựa của phu hậu cần tiếp tục hành quân không ngừng nghỉ một nhịp nào hết.
Xạ Cao Đồ là một lực lượng nghĩa hiệp, chiến đấu chuyên nghiệp do chính Trương Diên sáng lập ra, bọn họ bảo vệ dân chúng khỏi lũ thổ phỉ cướp bóc ở vùng Tây Bắc nước Trương. Sau này lực lượng kỵ sĩ này lớn mạnh đã được các thương gia tặng vàng bạc, lương thực: đổi lại thì những đội kỵ sĩ sẽ bảo vệ hàng hóa của họ khi đi ngang hoang mạc – nơi mà giặc cướp và lũ Rợ Bắc hay cướp giết.
Về sau, Trương Diên được chính nhà vua xứ Hải Tây (Thiên Dực) phong làm Kỵ Kích tướng quân, Xạ Cao Đồ có thể tác chiến độc lập, di chuyển khắp cả nước nhằm yên ổn giặc cướp và giúp Hải Tây trở thành nơi buôn bán an toàn với các nước Thiên Trúc, Vực Tây.
Những kỵ binh của Xạ Cao Đồ này vô cùng thiện chiến, họ có thể chiến đấu với mọi kẻ thù với mỗi chiến thuật thích ứng riêng. Như dùng cung tên, thiết kỵ mà càn quét lũ Rợ Bắc, đột nhập phá đồn thổ phỉ chớp nhoáng trong đêm, ngay cả họ cũng chặt gỗ, đóng thuyền dàn trận, ngăn chặn cướp biển ở trên biển Tây. Không một chiến địa nào mà họ chưa từng trải qua, chỉ sợ không tìm được địch để đánh.
Tại sao vua nước Trương lại cử Trương Diên sang nước Sở hỗ trợ, thì đó là điều nên kể: bởi Chu Thông trong chiến dịch phạt Thục đã thu hồi được ấn vàng bị mất khỏi tay Thiên Dực, hắn đã sai người đem bảo vật trả lại cho chủ cũ ở xứ Hải Tây. Động lòng trước sự hảo hiệp này, Thiên Dực đã dần cảm kích, dần tiến tới giao hảo và kết minh với Hạng Danh [1].
Khi sắp băng qua núi Linh Cơ để cứu viện, Trương Diên lại nhận tin báo lành ít dữ nhiều: rằng lực lượng chằn tinh cướp phá thực chất có tận hơn một vạn bốn ngàn tộc binh vây lấy Bách Đồ, chứ không phải sáu ngàn như tên trạm tốt ở Quế Ung báo trước đó.
“Sao lại đông hơn những gì các ngươi đã nói trước vậy?” – vị tướng xạ kỵ hỏi với vẻ mặt căng thẳng, ánh mắt không hề lé một tia tích cực nào hết.
“Bẩm…bẩm Cao Đồ tướng quân…tại bọn Qua Nhĩ Căn cướp bóc quá dễ….nên các tộc ma quái khác từ phe Thị Tập và Ỗ Nhĩ Cổ Khắc [2] cũng tràn…tràn vào hội nhau giết chóc, nướng bách dân trên lửa hồng…” – tên lính thú tới truyền tin run rẫy, hắn người mình đã thất hồn, sụp đổ hoàn toàn sắc khí.
Trương Diên suy tính một lát, rồi bèn hặc hỏi thêm gã lính đó:
” Vậy bọn chúng có tập hợp lại vây đồn hay không?”
“Dạ…dạ…chỉ lực lượng của Qua Nhĩ Căn xây lũy bao vây Bách Đồ, ngày đêm ào ạt đánh phá đồn, còn Thị Tập sau khi cướp bóc thì tộc hắn dựng trại sơ sài ở gần bìa rừng Tây Đồ bất động….còn phe Ô Nhĩ thì càng vô tổ chức hơn, để đồng bọn tùy tiện cướp phá làng xóm khắp nơi…” – miệng hắn miễn cưỡng hốt hết bình sinh đặng tường thuật cho Trương Diên nghe hết tình hình.
“Ừm…giờ ta đã hiểu rồi” – Trương Diên chợt có một tia sáng trên mắt, ông ta cúi xuống nhìn đầu bờm ngựa mà nhép miệng tự giễu cười:” Khà…khà…ngày tàn của lũ chằn quỷ các ngươi đã tới rồi!”
Tối hôm đó, từng xạ kỵ phi nhanh như dòng nước dội xuống như thác, như đê vỡ tràn lênh láng, hàng kỵ nối đuôi theo như những đàn kiến đỏ di chuyển ồ ạt với tốc độ phi thường, tất cả chỉ nhắm vào phía rừng Tây Đồ - là nơi tập kết của lũ chằn tinh do Thị Tập dẫn dắt.
Ở ngoại vi trại, một số tên có da màu lục, mắt đỏ ngầu như rắn đang ăn từng miếng thịt người mà chúng vừa săn ở ngôi làng gần đó. Chưa bao giờ mà lũ chằn tinh lại thỏa mãn, thích thú với lần cướp vào Nam Giang như lần này.
“Thịt đùi của nữ tử tộc người quả là mọng nước, mềm dễ gặm hơn thịt sói chỗ tụi mình ở nhiều! Ha ha ha!” – một tên chằn tinh nhỏ con, da lục nhạt, có đôi mắt to tròn đang hả hê vừa ăn, vừa nói lần cướp này sướng hơn bất kỳ lần cướp nào khác.
“Hề hề, ta mà tiến vào Quế Ung, Lục Đô, Lâm Nam thì càng có thứ ngon hơn nữa!” – một tên cao to, mình vảy cứng cáp, đội mũ sắt đỉnh ngọn, mặc giáp xích nát bét tiếp lời tên nhỏ con cạnh hắn, tự tin chằn tinh có thể diệt nước Sở nay mai.
“Phải chí, nhiều quá sao ăn hết nỗi…” – tên nhỏ con cười tươi, rồi hắn trầm giọng hỏi –“…mà…mà ta vẫn e sợ nha, vì nghe đâu quân Xạ Cao gì đó với hơn hai ngàn tên đang tới tiếp viện Bách Đồ, có thể đã sắp tới nghênh chiến với…”
“Hừ! Chỉ có hai ngàn tên thôi mà..” – tên cao to ngang nhiên cắt ngang lời, liền hắn giễu cợt, khinh bỉ quân Xạ Cao Đồ rằng -“Cả ba tộc có hơn 14 ngàn tên thì mỗi người một ngụm nước bọt cũng đủ nhấn chìm bọn chúng trước khi chạm vào sợi lông của quân ta!”
“Đại ca quả quyết ghê gớm!” – tên khác khen tên cao to, rồi cả lũ chằn tộc đắc ý cười lớn.
Khi đó, hàng chục con trâu béo ú, cặp sừng đính những bó đuốc sáng rực trước mắt lũ chằn tinh. Không tên nào mà không thèm khát thịt tươi để ăn, lòng tham mỹ vị không dứt.
“Mau bắt lấy lũ trâu đi anh em ơi!” – tên cao to cầm đao rỉ sét, quay vút lên cao để báo hiệu đồng bọn, trăm tên cùng nhau tiến tới bắt lấy chiến lợi phẩm.
Lúc lũ chằn tinh chỉ chăm chú hôi của, thì phía sau trại của chúng xuất hiện bất ngờ một mùi khét lẹt, vô cùng khó chịu khi bị ngửi lấy.
Vèo…vèo…vèo…
Một luồng gió ngang qua từng tên.
Bùm…
Rồi ngọn lửa bừng cháy lên khiến cho vải lều bị đốt, hòa theo gió bay tứ tung rồi trở thành tro bụi trong chốc lát, màu đen bao trùm cả bìa rừng ở Tây Đồ vốn đã tối sầm.
“Sao…sao lại như thế này?” – tên cao to đầu óc thất thần, bàng hoàng bởi sự việc quỷ xuất nhập thần này.
Rầm…rầm…
Một tiếng rung chuyển mặt đất, chấn kinh cả lũ tộc binh nhiều phần, không tên nào mà không run sợ, trán chảy mồ hôi nặng mùi, đầm đìa xuống tới vai cổ.
“Hả?” – tên nhỏ con nuốt nước bọt mà ấp úng hỏi trước đồng bọn –“Động…động đất à?”
Cả trăm tên chằn tinh cứng người, đầu óc đã căng thẳng trong khi đôi mắt ngơ ngác hòa cùng với nỗi lo sợ.
Phụt…
Những nhát đâm thương từ hàng bóng hình đen ngồi trên lưng ngựa chọt tới mông, đùi của đàn trâu. Nó đã làm cho lớp da dày bị chảy rỉ máu từ từ ra, lũ trâu rên rú thảm thiết. Rồi từng ngọn thương được rút ra nhanh chóng, đoàn bóng ma giữa đêm tối lại biến mất khỏi tầm mắt đối phương.
Ọ…ọ…ó…ó…ó
Rầm…rầm…rầm…
Lũ trâu bị đâm thốn siết tưởng những kẻ phía trước có ý nghịch thù với chúng, nên cả bọn với ánh mắt đỏ hoe căn tròn ra, hận thù mà lấy thân mình lủi thẳng tới tấp đám chằn tinh vẫn đang mất hồn vì các sự việc bất thường trước đó.
Ó…ó…ó…
Đàn trâu dùng hết bình sinh mà thúc thẳng trực diện đối phương, bốn chân phi như tảng đá nặng nề đẩy xuống.
“Cứu ta!” – tên cao to cố hết sức thoát khỏi cặp sừng to bự dài hơn hai trượng của một con ngưu đen xì, điên loạn muốn xả giận.
Xoẹt…
Phụt…
Chẳng may thay, cái sừng trâu bên trái đã xuyên qua lớp giáp xích cũ nát của tên cao to, khiến đôi nhãn của hắn to trợn tròn ra rồi chuyển sang một tia trắng bóc, tứ chi hết cử động.
Tên phía sau thấy vậy thì hồn phách bay lạc, tuyệt vọng hốt lên trong lúc vừa hoảng vừa chạy rằng:
” Đại ca chết rồi! Chúng ta toi rồi!”
Cả chục con trâu trong cơn điên khùng, mất kiểm soát xông tới bằng cặp sừng giết chết lũ tộc binh, chúng diệt xong đám ở ngoài trại thì lại tiếp tục tiến vào bên trong trại mà trút thêm cơn giận, các bó đuốc trên những cặp sừng chạm vào lều trại làm cho cả một vùng có cảnh vật như hỏa địa trần thế, sự tức giận của Trời đã giáng xuống đầu kẻ có tội.
Trong lúc đó, về phía trại do Qua Nhĩ Căn cầm đầu vừa mới nhận được tin cầu cứu từ Thị Tập. Hắn nghe xong hung tin thì bèn nói với thuộc hạ:
” Cử hai ngàn tên trợ chiến ở Tây Đồ, còn lại hãy ở trong trại chờ lệnh!”
“Sao…sao ngài không đem hết người phe ta tiếp ứng?” – tên thuộc hạ bên cạnh vấn đáp hắn –“ Lỡ như…lỡ như toàn bộ quân của Thị Tập chết hết thì tính thế nào, thưa thủ lĩnh?”
“Hừ!” – Qua Nhĩ Căn với nét mặt không hề lo lắng, một tia đỏ ngầu lé lên trong đôi mắt cùng với miệng tự giễu rằng –“ Thì để chúng nó tự chịu đi! Chiêu bài của tộc người kiểu ‘dương Đông, kích Tây’ ta hiểu rõ mà…chúng ta mà đem hết ứng cứu thì đám Lam Thụ sẽ đồng loạt phá trại chúng ta!”
“Thuộc hạ đã rõ lời của tộc trưởng rồi, he he!” – tên thuộc hạ đó đổi sắc, cười nhẹ vì đã hiểu ý của thủ lĩnh.
“Chúng ít quân, phải dùng mưu kế bất thường thì mới đổi cơ vận nổi! Ta tin chắc quân ta là cái gai trong mắt lũ tộc người!” – Qua Nhĩ Căn tự cho mình hiểu rõ hành tung, ý tứ của địch, hắn ung dung ngồi vẫn tận hưởng trái quả, kẹo sữa của Nam Giang đặt sẵn trên bàn.
Hơn một canh giờ sau, cánh cửa của đồn Bách Đồ từ từ mở ra, cho hơn 200 lính thủ và 200 dân phu trong lũy đồn tiến ra. Bọn họ vừa cầm giáo, vừa cầm đuốc ra trước bãi địa đối nghịch với phía lũy đồn của Qua Nhĩ Căn, và chính chủ đồn Lam Thụ tự thân cưỡi ngựa ráng sức đốc thúc, dẫn dắt đám phu lính ủ rũ, thiếu nghị khí này ra nghênh địch.
Qua Nhĩ Căn nghe được liền mừng rỡ, hắn nghĩ Lam Thụ tự đem quân nộp mạng nên đã chế giễu cho thuộc hạ nghe:
” Ta đây quả là thiên tài, giặc tưởng mình khôn nhưng không hay chẳng biết ta thấu cả ý lũ tộc người cặn bã này!”
Hắn liền tự dẫn ra hơn bốn ngàn tộc binh còn lại tới trước trận hình của Lam Thụ, hắn cũng khích lệ cả tộc binh rằng:
” Lũ Sở súc sinh tự nộp mình cho chúng ta rồi, cả ngàn thớt thịt ngon đang chờ sẵn đó! Tiến lên giết giặc đi anh em!”
“Ay…ay…óc…óc…tiến lên anh em!” – lũ tộc binh réo lên khoái chí, chúng thèm khát từng miếng thịt mềm mọng từ rất lâu lắm rồi do đó tên nào cũng hăng hái, nhảy hú lên như trúng mánh vậy.
Hơn ngàn tên tràn lên tấn công, như thác lũ đổ về hạ nguồn, định nhấn chìm chết binh lính nước Sở chưa đến bốn trăm sĩ tốt, dân phu này.
Cả đám người phe Sở run bừng bật, mặt mày ướt đẫm mồ hôi, nhiều người chỉ có miếng tấm đồng bảo vệ phía trước (do là lính thủ đồn kém quan trọng) và một trường thương dài 5 trượng để giữ khoảng cách mà thôi.
Nhưng Lam Thụ trấn an tinh thần phu binh, hắn nhắc nhở về mối hiểm họa:
” Chúng ta có đồng bào, anh em, vợ con, cha mẹ, bằng hữu ở đằng sau. Nếu còn lùi bước thì chỉ có đường chết, huynh hữu không được bỏ chạy!”, lời hùng tráng đó làm cho nhiều tên hạ cơn sợ xuống, ánh mắt tập trung cầm thương chĩa về phía trước địch.
Khi hơn ngàn tộc binh còn cách mười bước, thì Lam Thụ lấy hết bình sinh mà nộ lớn rằng:
” Tiễn nỏ, bắn thẳng về phía đám giặc!”
Hàng người dân phu bước ra khỏi thương trận, họ lên tiễn, cầm nỏ ngắm thẳng trước biển chằn tinh mà phóng bắn không ngần ngại.
Vút…vút…vút…
Hàng trăm tiễn nỏ được bắn ra, tiễn bay phóng giữa các hàng thẳng tấp đều nhau, chĩa thẳng về phía giặc.
Phụt….
Mũi tiễn đầu tiên đâm vào sọ của một tên tộc binh, làm nát vỡ óc hắn khiến người lập tức ngã xuống bãi cỏ. Những tên khác cắn răng tức điên tiến tiếp, dù phải giẫm đạp xác đồng tộc của chúng.
Vút…vút…vút….
Hơn trăm tên lần lượt sau đó bị hạ bởi nỏ tiễn của phe Hậu Sở, chết không trăng trối nỗi lời nào. Có kẻ đã hoảng hốt la hét lên:” Mau chạy khỏi đây!”, hắn là kẻ chạy khỏi hàng ngũ đầu tiên.
Rồi từng tên đều khiếp đảm trước uy lực của nỏ tiễn mà không dám tiến lên, chân cố chạy khỏi trận địa giáo thương của lính trú Hậu Sở, lũ tộc binh chỉ mong mọc thêm cánh để thoát khỏi địa ngục trần gian nhanh hơn.
Lam Thụ cười thích thú, hắn nói với binh lính dõng dạc rằng:
” Diệt hết bọn tà ác này!”
Trường giáo của quân Hậu Sở lần lượt đâm chết những tên chằn tinh vẫn còn ở lại vì sự choáng váng, hoang mang thắc mắc sao đồng tộc chúng lại trốn chạy trước. Từng ngọn giáo đâm xuyên ngực giáp của lũ tộc binh Qua Nhĩ Căn không thương tiếc, bất kể sự van xin của chúng ra sao.
Phụt…phụt…phụt…
Tiếng la hét hòa cùng tiếng đâm chém hỗn chiến của hai phe tạo nên thảm cảnh sầu não, sự ai oán, hận tận xương tủy và hãi hùng giữa tộc người và tộc chằn dâng cao – đây là trận ác liệt nhất ở phía Tây vùng Nam Giang trong suốt ngàn năm qua.
“Aaa…tha…tha cho…cho ta đi!” – một tên tộc binh bị ngã quỵ xuống, hắn lắc đầu xin tha trước ngọn thương của tên lính đối phương.
“Hừ! Đền mạng cho cha mẹ, cho em gái ta!” – tên lính Hậu Sở đáp giọng lạnh lùng đâm vào yết hầu, kết liễu tên tộc binh đó.
Ưu thế trên chiến trường dần nghiêng về phía Hậu Sở, Qua Nhĩ Căn mặt sắc không vui, hắn mặt trợn tròn tròng đen lấn áp tròng đỏ lên mà hét:
” Sao lại như thế này chứ? Một ngàn đám ô hợp cũng đủ đè chết lũ Sở súc sinh rồi mà?”
Vừa nói xong, một làn khói nồng nặc từ phía sau hắn đã tràn tới: cả trại tộc binh đều chìm trong biển lửa, thiêu cháy mọi tư binh, vợ con và chiến lợi phẩm của bọn chúng không thương xót, y như ở phía Thị Tập.
“Cháy rồi, cháy rồi!” – lũ tộc binh hỗn loạn, chúng mất cả nhuệ khí rời bỏ trận hình, cố gắng chạy về doanh trại để cứu lấy những thứ sót lại, chẳng bận tâm mệnh lệnh của thủ lĩnh nữa.
“Một đám vô dụng, ta lọt vào thế cô rồi!” – Qua Nhĩ Căn gào thét, cuồng nộ hận không thể băm chết từng lũ tộc binh hèn nhát, rồi tự đi vào nỗi bất lực, tuyệt vọng và bi phẫn giữa trăm tên cận vệ còn gắng gượng bảo vệ hắn.
Rầm…rầm…
Đột ngột tiếng vó ngựa đạp xuống khắp trận địa bình nguyên, những kỵ sĩ trên lưng ngựa đều cầm trường giáo nhẹ, mỏng nhưng dài hơn 16 trượng – tuy nhìn có vẻ dễ đứt gãy lại thể hiện sự bền bỉ. Người ngựa đều mặc giáp tấm sắt sáng loáng giữa màn đêm xịt, áo hiệu màu đỏ sẫm đại diện cho khí thế kiêu hùng, mạnh mẽ của lực lượng kỵ binh ấy.
Một kỵ sĩ giữa đám kỵ quân đó ló diện bước ra trước tộc binh, người đó sang sảng, ngạo nghễ kêu lớn:
” Xạ Cao Đồ xin phép dọn dẹp tàn binh giặc còn lại!”
Không một kỵ sĩ khác đáp lại, nhưng họ đều cầm chặt cương ngựa thúc nhanh, dùng hết bình sinh và hơi thở hét lên cho kỵ mã càng tăng tốc cực đại, tay cầm chắc trường thương, chĩa thẳng về hướng địch quyết hạ giết mỗi tên chắn đường.
Cận vệ của Qua Nhĩ Căn lập tức nhảy sói kỵ, tiến tới kỵ sĩ của Xạ Cao Đồ hòng bảo vệ chủ soái chạy thoát an toàn. Nhưng trường thương siêu dài của đối phương đã chạm tới phía bọn cận vệ trước khi chúng có thể trực diện giao chiến.
Xoẹt….
Phụt…
Mũi thương của kỵ sĩ ‘đánh thuê’ đâm thẳng vào sói kỵ của tên cận vệ, làm hắn cùng sói kỵ đều ngã xuống đất, và cả hai đều bị đẫm đạp nát tương bởi hàng chiến mã phía sau.
Trận chiến ngoài đồn Bách Đồ là một chiến thắng lật cờ, phe Hậu Sở cùng kỵ sĩ Xạ Cao Đồ do Kỳ Hùng – phó tướng của Trương Diên, đã diệt hơn 2,500 tộc binh của Qua Nhĩ Căn, đám còn lại chạy trốn về ải Thiên Vân.
Kỳ Hùng chạy về phía Lam Thụ, rồi ánh mắt niềm nở khen quân hắn rằng:
” Quân bổn địa của Lam tướng quân quả không tệ, quyết đấu không sợ địch đông còn hơn nhiều quân chính quy khác!”
“Thượng tướng quá khen rồi, không có kỵ của ngài thì e toàn quân chẳng có chiến thắng hoàn hảo tới vậy! Ta không dám nhận lấy toàn bộ chiến công này!” – Lam Thụ xoa đầu, mặt đỏ bừng lên, hắn trầm giọng khen lại phó tướng ấy.
“Nhưng…nhưng vậy còn Qua Nhĩ Căn cùng đám tàn binh chằn tộc? Chúng trốn hết rồi, ta chỉ hận không giết hết bọn chúng mà thôi!” – Lam Thụ tay nắm chặt, hắn không thể quên mối thù truyền kiếp ngàn đời này.
Kỳ Hùng thì khác với Lam Thụ, ông ta tự tin, quả quyết với hắn rằng:
” Lam tướng quân đừng lo quá, chủ tướng của ta sẽ lo hậu sự. Không để tên nào thoát khỏi biên ải cả!”
Qua Nhĩ Căn cùng đồng tộc hắn với đám Thị Tập và Ô Nhĩ Cổ Khắc đã mệt mỏi, sa sút sĩ khí nhưng phải gồng mình đi về lại Thiên Vân Quân, mong ít nhất dùng ải đó để thủ, sau làm bàn đạp để tập hợp các tộc chằn tinh khác phát binh cướp phá. Nhưng bản chất tự chia rẽ, đổ tội qua lại lẫn nhau của chúng không thể dứt: dẫn đến việc tranh cãi, chửi rửa, xô xát dọc đường. Chính Thị Tập hận sôi máu, ấm ức Qua Nhĩ Căn từ sự việc không cứu quân hắn kịp thời nên đã đâm chết Qua Nhĩ Căn trong lúc cãi vả, dẫn đến việc hai tộc đồ sát nhau, khiến hơn mấy ngàn tên chết vô nghĩa. Chỉ còn Ô Nhĩ Cổ Khắc cùng hai ngàn tàn dư rách rưới áo quần, vũ khí rỉ sét mà lết đi về hướng biên giới.
Bọn chằn tinh buộc hành quân vượt qua núi tuyết, sông băng hiểm trở, khắc nghiệt bậc nhất Nam Giang. Trên đường thoái lui đều gặp phải sự quấy rối của dân bản địa, kẻ nào dám đi một mình khỏi đội ngũ thì tự chuốc lấy cái chết kinh hoàng, không thể tả nổi.
Sau hai ngày, bọn tộc binh tới được gần ải Thiên Vân, ở dưới chân một ngọn đồi – phía trên đồi là đồn ải kỳ vĩ vút cao lên trời, xung quanh hàng tuyết trắng xóa như mây. Ô Nhĩ Cổ Khắc nhìn từ phía xa lũy ải không hề thấy còn treo cờ đen – đại diện cho tộc chằn, mà là một ngọn kỳ khắc chữ ‘Sở’ to lớn, điều này chấn kinh bọn chúng.
“Hừ, khốn khiếp mà!” – Ô Nhĩ Cổ Khắc giận dữ, mặt đỏ bừng tức điên lên –“ Chúng không cho ta đường sống mà!”
Rộp…rộp…
Tiếng ngựa bước nhẹ trên bãi tuyết, tạo ra tiếng ‘xộp xộp’ tới giữa đám tàn quân chằn tinh. Một người mặc trọng giáp lưỡng xích, áo choàng bông vải đỏ, đội mũ phượng sắt dắt ngựa ra khỏi đội kỵ vốn ước chừng ngàn người này.
Người ấy vẻ mặt thoải mái, trầm ổn mà vang lớn cho bọn ở dưới đồi nghe:
” Ngày tàn của các ngươi đã tới, không đời nào băng qua được Thiên Vân Quan đâu!”, rồi trào ngực kịch phúng đáp tiếp –“ Ta là Trương Diên – tướng chỉ huy kỵ quân Xạ Cao Đồ, phó tướng của ta là Kỳ Hùng đã giết cả vạn quân của Qua Nhĩ Căn, Thị Tập, còn ta hôm nay sẽ kết thúc tội ác tày trời, khó dung thứ của các ngươi!”
“Hừ!” – Ô Nhĩ Cổ Khắc nghẹn giọng, hắn cố khàn tiếng vọng lại to rằng:” Súc sinh tộc người các ngươi có đất màu mỡ, thức ăn ngon, mặc áo đẹp, sống sung sướng còn bọn ta phải gặm cỏ, ăn sương mà sống…các ngươi đáng lẽ phải là súc vật để bọn ta bắt ăn chứ không phải bọn ta là kẻ chịu cảnh trốn tránh ở núi sâu, vực hiểm, rừng độc như vậy! Công bằng nằm ở đâu?”
“Vô Hương có sống lại thì các ngươi chỉ được xem là dã nhân cho hắn sử dụng tùy thích mà thôi! Có lũ Rợ Bắc mới là đám thuộc hạ hắc ám mà ‘Thánh Đế’ tin dùng hơn, các ngươi là kiến hôi cho chúng thôi!” – Trương Diên lạnh giọng đáp lại, không hề phản ứng giận dữ mà lé lên ánh mắt ít nhiều đồng cảm –“ Nhưng tội phục vụ Đại Quỷ Đế thì chẳng hề rửa nổi, đời đời những kẻ như các ngươi dám xâm phạm đất của bọn ta thì luôn xứng đáng bị Trời trừng trị, diệt hết cả tộc!”
“Hừ! Đừng có nói đạo lý ở đây cho ta nghe!” – tên thủ lĩnh lúc này quát lớn, điên tái tím vì lời lẽ của Trương Diên –“ Thánh Đế mà quay lại thì cả Đại Lục là của bọn ta!”
Rồi hắn lệnh cho 20 tên hung to, là những đám dã nhân khổng lồ, cầm gậy gỗ áp sát Xạ Cao Đồ. Bọn chúng rất hung hăng, lớp da dày cứng như thép đồng, khó hạ vô cùng. Dân địa phương gọi chúng là Thạch Dã, bởi gần như không vật gì có thể xuyên qua da thịt chúng.
Ô Nhĩ Cổ Khắc tự tin những đám Thạch Dã này sẽ phá vỡ đội hình kỵ binh, đổi lấy cơ hội cho đoàn quân của hắn liều mình vượt ải, bởi từ khi nhập vào Thiên Vân Quan không một kẻ nào giết chết được đám dã nhân to lớn, dữ tợn như đám voi, đám hà mã.
Nhưng khi bọn Thạch Dã tiến gần tới kỵ sĩ Xạ Cao Đồ, chỉ còn cách hơn hai mươi bước thì bất ngờ các kỵ sĩ ở hàng đầu đều lui về sau, để cho mười hai đội người hành bộ tiến lên, tất cả đều đẩy những cỗ máy bắn nỏ lớn, phía sau mỗi mũi tiễn đều đính một dây xích sắt nặng nề.
Trương Diên đứng bên cạnh những đội nỏ thủ này, ông truyền lệnh cho họ:” Ngắm thẳng vào chân của lũ Thạch Dã kia!”
Vút…
Một mũi tiễn nặng hơn 40 cân, nó được lực kéo ròng rọc tạo nên một cú bắn thẳng lên cao mạnh mẽ, giữa trời trắng, gió lạnh buốt của vùng núi tuyết.
Vút…vút…vút…
Hàng hàng mũi tiễn bắn lần lượt sau đó, tạo thành những bóng đen che kín cả bầu trời, đè nặng lên đầu của đối phương.
Phụt…
Một mũi tiễn xuyên vào trong lòng bàn chân thô kệch, dị thường to bự của một tên Thạch Dã. Hắn la lên “Aaaa” trong cơn đau siết, máu đen chảy ra ngoài lênh láng, thấm vào lớp tuyết.
Phụt…phụt…phụt…
Loại mũi tiễn sau đó đâm vào ngực, tay chân, phần bụng và cả đầu của đám Thạch Dã, chúng rên la, cắn răng gượng mình đi tiếp muốn trả thù.
Trương Diên lé lên một tia sáng trên cặp mắt, ông ta trầm giọng, thản nhiên nói:
” Kéo dây xích ra sau!”
Binh sĩ, thủ tốt bên cạnh nỏ thủ cầm chắc dây xích, họ đồng thanh vừa kéo vừa cỗ vũ, lấy sức nhỏ của mình đặng đè ngã lũ khổng lồ bằng mọi giá.
“Hô...mau tiếp tục kéo xuống các huynh đệ! Hô!” – một gã thập trưởng động viên lính của hắn dùng hết khí lực mà quật đổ đám Thạch Dã.
Rầm…rầm…rầm…
Dây xích sắt đính trên tên mũi tiễn đã đồng loạt kéo bọn Thạch Dã đổ ào xuống mặt tuyết trắng, khiến cho đầu óc chúng lao đảo, khó đứng lên lại.
“Aaaa….cứu ta!” – một tên Thạch Dã sấp mặt xuống đất, người mình thất thần, la hét điên loạn.
Cộc…cộc…
Hàng chục đội chiến mã Xạ Cao Đồ phi nhẹ trên nền tuyết trắng tinh, họ cầm theo trường thương và lọ dầu hỏa đen xì có chuôi dây đang cháy buộc chặt miệng lọ. Thời khắc tới gần lũ Thạch Dã đã nằm xuống chịu trận thì những kỵ sĩ này ném lọ dầu hỏa đó vào người bọn chúng.
Vụt….vụt….
Xèo…xèo…
Ngọn lửa của dầu hỏa đó cháy xé cả thân người Thạch Dã, cả lũ bất lực nếm trải trận hỏa cháy mà không thể dập tắt được, da thịt chúng đã nóng bỏng như than, như củi đã đốt lâu.
Kỵ xạ lấy trường thương đâm liên tục, không dừng một nhịp và dứt khoát chĩa vào các phần nhạy cảm, yếu điểm của địch.
Xoẹt…xoẹt…xoẹt…
Từng mũi thương đâm tới lia lịa, xoèn xoẹt chẳng hề dừng một khắc, với ý định duy nhất là hạ sát tất cả đám Thạch Dã đã ngã lịm trên bãi tuyết trắng mênh mông khắp vùng.
Hơn một nén nhang, toàn bộ mười hai dã nhân cường chiến của phe Ô Nhĩ Cổ Khắc đã bị hạ gục, tám tên còn lại mất hồn, hoảng loạn mà chạy tứ phía bởi chẳng dám đối đầu với lực lượng của Trương Diên – vốn là ác ma, là kẻ thiên nghịch trong mắt bọn chúng hết rồi.
“Mau…mau thúc giục đám đó quay trở lại đi!” – Ô Nhĩ Cổ Khắc khàn giọng hét lên, nhưng không một kẻ nào dám dặm chặn lũ Thạch Dã lại, bởi sợ chính mình sẽ bị bọn chúng giẫm đạp lên.
Ập…
Ầm…
Bàn chân chạy nặng nhọc, hối hả của Thạch Dã xuống chân đồi đã khiến cho cả dãy đồi rung động, đẩy từng dòng tuyết ứ đọng trên cao xuống từ từ, rồi nhanh chóng biến thành một trận lở tuyết trút xuống đầu lũ tộc binh.
Rầm…rầm…
Từng sóng tuyết cuốn trôi lũ Thạch Dã còn lại, thân xác tan biến trong dòng trắng xóa, làm cho những tên giặc ở dưới đồi cứng họng, khóc cha gọi mẹ, nhiều tên van xin ‘Thánh Đế’ cứu vớt sinh mạng bọn chúng.
“Vậy…vậy…vậy là xong rồi!” – Ô Nhĩ Cổ Khắc ngậm ngùi, nghiến răng thốt lên lời trăng trối trước khi hắn cùng đám đồng tộc bị tuyết lở đè lên toàn thân, mãi mãi nằm lại ở chân đồi chỉ cách Thiên Vân Quan vài trăm bước.
Chiến thắng cuối cùng của chiến dịch diệt chằn tinh này vang khắp Nam Giang và tới tai cả triều đình Hậu Sở ở Lục Đô, Trương Diên cùng các kỵ sĩ của đội Xạ Cao Đồ được tung hô, vinh danh là anh hùng chính hiệp, có sức mạnh và trí tuệ của Hỗn tộc năm xưa vì đã đánh đuổi lũ thuộc hạ của Đại Quỷ Đế.
Trương Diên, Kỳ Hùng cùng cả mấy ngàn kỵ sĩ Xạ Cao Đồ đã ăn mừng, vui chơi cạn ly cùng các chiến hữu Hậu Sở cả đêm ở Bách Đồ. Đường xá thị trấn treo băng vải đỏ, đèn lồng thắp rực thêm phần không khí của lễ hội trọng đại, một lễ hội mà để lại những ký ức bi tráng, oanh liệt cho các thế hệ sau ghi nhớ.
Trước sảnh cỗ lễ ăn mừng, khi mọi người vui vẻ ăn thịt bò nướng hồng cùng với sữa chua địa phương thì một cụ già hơn tám mươi tuổi, có mái tóc bạc phơ, đôi mắt sập xuống như đang ngủ bước ra khỏi ghế, mặt đối diện với các vị tướng thắng trận, cụ ngẩn cao đầu với bộ râu dài trắng bạc kim, trầm giọng cho đám đông nghe rằng:” Ơn đức tái sinh đất của dân hồng, nằm cả vào ân điển của bệ hạ, Trương tướng quân, Lam tướng quân và cùng với các chư vị dũng sĩ…nếu không có các ngài hào hiệp xả thân quét giặc, thì tụi tôi đây đã phải chết hết cả rồi! Lão già tôi đây chẳng bao giờ quên lòng nghĩa hiệp của các tướng sĩ, của chư vị dũng sĩ nổi!”
“Lão già quá khen…quá khen bổn tướng với huynh đệ ta rồi!” – Lam Thụ nhẹ nhàng chấp tay kính lễ, hắn thoải mái trả lời –“ Nếu quân ta không được hồng phúc của nước Trương viện trợ, của đại tướng chỉ huy đội chiến mã Xạ Cao Đồ thì cả dân chúng cùng quân lính trong đồn này đã toi từ kiếp nào rồi!”
Trương Diên mặt đỏ lên vì ngại, ông ta liền đứng lên khi tay hãy còn cầm bát rượu sữa rồi e ấp, từ tốn đáp lại:” Toàn quân, toàn dân đồng lòng thì giặc mới bị đẩy lui chứ? Chẳng chỉ mình Xạ Cao Đồ bọn ta đảm đương hết cả đâu? Tộc người chúng ta khi đoàn kết thì lũ chằn tinh mỗi tên có mười cái mạng cũng là đi tìm cái chết thôi! Ha ha ha!”, rồi mọi người tưng bừng vang lên niềm vui sướng trong lúc ăn uống, bởi mọi sự đã yên bình sau cơn bão dữ dội.
Chú thích:
[1] Sự việc này là nguyên nhân chính khiến Xạ Cao Đồ nhận lệnh nhà vua đi nghìn dặm viện trợ.
[2] Về tên gọi, đó là phiên âm từ hệ ngữ Trung Nguyên.
Qua Nhĩ Căn tên gốc là Gorgum, Thị Tập là Bazar và Ô Nhĩ Cổ Khắc là Urgurk.