Khi lấy được Nam Dương Quan, Lý Kiến giao cho Tù trưởng tướng quân địa phương là Thân Dĩ trấn giữ lấy ải, nhắn nhủ ông cầm chân địch càng lâu càng tốt.
Đối với nơi mật đạo gần ải, vốn năm xưa được Hạng Danh dùng bằng cách cử Phan Hoài đánh lén sau lưng trấn ải mà trèo lên lũy ải phía sau để phá được: thì Lý tướng quân cũng bố trí sẵn hơn 600 kỵ tập kích đường mật nhỏ do Phùng Thế, là em của Phùng Tôn – vị tướng trấn ải trước đó bị Hạng Danh xử tử vì không chịu quy hàng phục vụ.
Còn ở đường lớn hơn, đủ để hơn trăm hàng lính đi ngang qua thì sẽ dàn trận hơn 600 lính sĩ theo kiểu ‘Phương Bách Quân’: vẫn là những binh sĩ hỗn hợp thương dài, khiên lớn và cung nỏ được dẫn dắt bởi Nùng Tư Quốc[1] – cháu của Nùng Trù Lăng.
Các vị chỉ huy ở lại chặn giặc đều gặp vị tướng quân của Hữu doanh này lần cuối tại nhà gỗ ba gian trong trấn ải, trước khi tất cả thực hiện theo mệnh lệnh cầm chân giặc tới cùng.
“Các anh hãy ráng ngày đêm phòng bị, không được lơ là, lỡ nhịp một khắc mà bị dụ dỗ bởi lũ Sở tặc. Chúng có đủ quỷ kế, mưu tính để chia rẽ đội ngũ anh em chúng ta, nhưng quân dân chúng ta hiến mình cho xứ Nam, cho quốc gia kim sơn hải viễn[2] mãi trường tồn!” – Lý Kiến nói với bọn họ về trách nhiệm cao cả đó, rằng họ không thể hèn nhát mà thoái lui.
“Bọn hạ tướng xin đảm nhận trọng trách này, không phụ lòng tổ quốc xứ Nam, dân Việt!” – những vị tướng vì nước quên mình, lòng trung dũng đã tuốt đao mà thề với Lý tướng quân.
“Tốt, các anh quả có khí phách bất khuất, xả thân cho dân Nam ta mãi trường tồn! Giờ đây chúng ta phải ứng phó giặc nhanh chóng, không thể chần chờ một khắc nào nữa!” – nói xong những lời kích lệ sĩ khí hào hùng, thì vị Hữu doanh tướng quân cũng tiễn biệt những người chiến sĩ ấy, là những người có lẽ ông sẽ không bao giờ gặp mặt họ lần nữa.
Ở thành Quế Ung, các quân ở khắp cõi đất Sở đã được điều động về cho chiến dịch thảo phạt của Chu Lệ. Những binh lính ấy được ghi sổ từng tên sĩ tốt, còn bắt phu vác các nơi và cũng ghi sổ bọn họ để tính đủ quân lẫn phu cho cuộc tái chiếm lại Lâm Nam.
Trong phủ thống tướng chỗ phòng nghị sự, qua khỏi cánh cửa gỗ được bảo vệ bởi năm tên tướng tráng sĩ cao to, mặt hung tợn, có mặc trọng giáp và cầm đao lớn – chúng đều là thân vệ của Chu Lệ, thì lại nghe tiếng tranh luận, xen lẫn cãi vả xì xào, sôi nổi trước khi xuất quân chinh Nam.
Phòng ấy vẫn có địa đồ lớn, đại diện cho các nước Trung Nguyên, Nam Hải nhưng lần này địa danh ‘Bình Thành’ lại để trống ô tốt, còn địa danh ‘Nam Dương Quan’ đổi từ ô tốt mang cờ thêu chữ ‘Sở’ tím đẫm sang cắm thành ô tốt có cờ thêu chữ ‘Lâm’ xanh lục.
Khắp căn phòng đều đóng cửa kín bít, bởi chúng sợ bất cứ kẻ nào ngó nhìn, nghe ngóng mà phát hiện việc bàn sự, tính toán cho thảo phạt Nam chinh của bọn Chu Lệ.
Ánh nến lập lòe có hương tỏa trên bàn gỗ to đặt gần các góc của mặt địa đồ giúp cho cả phòng không bị chìm vào tối tăm nhưng nó cũng lúc sáng, lúc mờ khiến không gian vừa ấm áp, vừa ma mị cùng lúc, nặng nề như báo trước một cuộc chinh phạt đầy gian nan.
“Chúng ta cần xuất quân ngay lập tức, nếu chậm trễ thì e thế lực của phe Lâm Nam ngày càng thịnh, phe ta ngày càng suy giảm, thất bại là khó tránh khỏi!” – một tên tướng cấp thấp, là kẻ có khuôn mặt đầy nếp nhăn và vết sẹo từ việc liên tục chiến đấu hàng chục năm cho Bá Vương, hắn nêu lên ý kiến của riêng hắn cho các tướng Hậu Sở cùng nghe.
Dưới ánh nến tiếp tục chập chờn, căn phòng lại suýt chìm vào bóng tối lần nữa, càng khiến cho cảnh tượng bàn bạc đơn thuần trở thành cuộc lựa chọn sinh tử giữa những kẻ có trọng trách, chức vụ cao ở triều đình nước Sở. Không ai dám tiếp lời tên tướng đó cả mấy nén nhang, cho đến khi Phạm Dĩnh trấn áp đi không khí vắng tiếng người này.
“Thật là không sai, thưa Châu Trọng tướng của Hỏa doanh thuộc Tả quân…” – Phạm Dĩnh thản nhiên đáp lại mà ánh mắt không đổi sắc, rồi hắn vấn hỏi rằng – “ Vậy ngài có biết cách nào tròn vẹn nhất để quân ta hành quân băng qua nghìn dặm mà khi các đạo quân chưa có đủ lương thực không? Ngài cũng hiểu hậu quả của việc dẫn quân với tâm thế đói khát mà?”
“Thần…thần quả là bất lực, ngu xuẩn mà thiếu phương án, thưa Phạm…Phạm Ty Giám…” – Châu Hiên – chủ tướng của Hỏa doanh, hắn đã ấp úng không thể trả lời được câu này của Phạm Dĩnh.
“Nhưng thưa ngài Ty Giám, ta nếu không đánh mà đứng yên bất động thì…thì bọn Trịnh Soài cùng với lũ Lăng – Tăm sẽ phải bị diệt, việc mà Bá Vương và Phạm tiên sinh ra lệnh bằng mọi giá phải cứu lấy bọn chúng” – Nhâm Thùy, chỉ huy của Hạ Lâm doanh thuộc về Hữu quân mới thành lập, hắn luận rằng dù sao quân Hậu Sở vẫn phải đánh theo lệnh của bệ hạ.
“Ừm…ngài nói có lý, nên ta đã hành động trước khi các ngài được điều động tới đây rồi” – Phạm Dĩnh tự kịch phúng, hàm ý giễu cợt, hắn vừa liếc nhìn địa đồ từ châu Quế và châu Phiên[3] và tiếp tục trả lời vấn đề -“ Ta đã ép lũ bá hộ, địa chủ cùng các thương gia hai châu Quế, Phiên phải giao những tài sản từng kiếm lời phi pháp ở Lâm Nam, sung vào ngân khố quỹ chiến. Ngân khố ấy đã được hơn 30 vạn thạch lương thực các loại, 3 vạn lạng bạc và 10 vạn quan tiền đúc các thứ: đủ cho quân ta dùng trong một năm tính cả những quân tư, nhu phẩm từ trước!”
Trong phòng lúc này trở nên im ắng lạ thường, ai cũng sửng sốt, vừa nể vừa sợ bởi tài quỷ kế, không chừa thủ đoạn của cháu Phạm Tùng, ngay cả tiền bạc của lũ thương phú gian manh mà hắn cũng không khó khăn moi ra được từ từng kẻ, tất cả chỉ dùng cho quân phí thảo phạt.
“Ha ha ha, Phạm huynh ta đây luôn có đầu óc hơn người, chẳng có cái khó nào mà khiến huynh đây nản lòng cả!” – Chu Lệ bước lên nhìn Phạm Dĩnh, rồi mặt hắn vui cười lớn, vang khắp trướng để khen lấy mưu sĩ đầy thuật pháp trái lẽ thường này.
“Chu thống tướng đây quá khen thần rồi, nếu không bởi việc ngài biết dùng người thì sao Đại Sở lại có người phục vụ Bá Vương mở mang bờ cõi chứ? Thần đây chỉ lấy sức nhỏ mà đưa toàn quân tới chiến thắng, thống nhất thiên hạ một lần nữa dưới lá cờ nước Sở…” – Phạm Dĩnh nhẹ nhàng, từ tốn cảm tạ lời ấy, đôi mắt hắn chợt lé lên sự thỏa mãn, trái ngược với sự khiêm nhường trong lời nói.
Nhưng không khí trở nên khác thường, dị biệt khi Trương Diên – vị chỉ huy của đội ‘Xạ Cao Đồ’[4], đã xen vào cuộc trò chuyện đắc ý một chiều của tên Ty Giám họ Phạm này, tự rằng:
“Thưa Chu thống tướng, Phạm Ty Giám, việc có đủ quân phí và lương thảo quả là tốt. Nhưng hạ tướng thiết nghĩ, đạo quân chúng ta vẫn gặp ba khó khăn lớn khi thảo phạt Lâm Nam.”
“Xin Trương Cao Đồ tướng quân hãy trình bày, ta rất mong được nghe” – Chu Lệ đã hỏi Trương Diên, trong khi Phạm Dĩnh nhìn vị tướng ấy với ánh mắt nghi kỵ, khó chịu bởi đã làm ‘bẽ mặt’ hắn trước toàn tướng sĩ.
“Vậy hạ tướng xin trả lời: thứ nhất là việc quân ta đi qua địa hình trắc trở, xa xôi ngàn dặm dễ gây hao tổn quân lương và sức phu. Như cứ 500 dặm thì 1 ngàn lính cần tới 3 ngàn dân phu hỗ trợ, nếu thực sự đánh tới sào huyệt của họ Lê thì 6 vạn quân ta cần tới 18 vạn dân phu hậu cần, chỉ để duy trì mức chiến đấu tối thiểu, vô cùng gánh nặng…” – Trương Diên đáp ra từng chữ mang đầy trầm ổn, thẳng thắn và không có ý lừa dối.
“Nhưng…nhưng ngươi lo xa quá chi? Chúng ta có toàn dân đồng lòng đánh giặc mà?” – Trần Hạo ngơ ngác chen vào.
“Hạ tướng thấy dân chúng ở chợ thương, quán trọ đều chán ghét chiến tranh rồi, thưa ngài Thượng tướng tham mưu” –Trương Diên lắc đầu, khẽ nhẹ mà nói thêm –“ Nhưng để hạ tướng tiếp về điều thứ hai: là lòng dân dao động, không muốn cống hiến và nhiều trong số họ đã reo mừng khi Ma Trình chết ở Cốc Dung. Hạ tướng ban đầu lấy làm lạ nhưng sau đã hiểu rằng chúng ta dùng quá nhiều kẻ ngang ngược, chỉ vì ít lợi lộc mà mất dần lòng dân!”
Những kẻ trong phòng đều chuyển từ sắc mặt vui vẻ bởi kế sách của Phạm Dĩnh sang há hốc mồm, khó mở lời trước phản bác, đanh thép và đầy chặt chẽ từ Trương Diên, dù chỉ là một tướng ‘đánh thuê’ ở Hải Tây mà lại có lý lẽ, đạo nghĩa xã tắc hơn chính chú cháu Phạm tộc.
“Hừ! Ngươi đang nói cái quái gì?”– tên tướng khác áp sát gần Trương Diên, tay phải của hắn cầm chặt chuôi gươm, đứng trước mặt vị tướng‘đánh thuê’ ấy mà hét lên –“ Muốn xúc phạm tiên kế của vị Phạm Ty Giám sao?”
Không khí càng đè nén ngột ngạt thêm, gần như sẽ xảy ra đổ máu lẫn nhau thì Chu Lệ tới gần kêu tên kia nguôi giận:” Này Lý Thiên Ôn, ngươi phải để Trương Cao Đồ tướng quân nói hết chứ?”
“Nhưng…nhưng hắn xúc phạm danh phẩm của nước ta mà?” – tên tướng họ Lý vẫn bất chấp, ánh mắt trợn tròn, đỏ rực vì không thể chịu nổi lời của Trương Diên.
“Chúng ta phải đồng lòng, không gây gổ bởi đó là thứ giặc muốn ở chúng ta” – Chu Lệ cau mày, hắn nghiêm nghị lạnh giọng với thuộc hạ–“ Ngươi mau thu mình lại đi!”
“Hừ!” – Lý Thiên Ôn bất đắc dĩ mà hạ tay khỏi chuôi gươm, đi ra phía sau giữa các tướng sĩ khác, tự nghiến răng trong lòng do còn uất ức và thù ghét với Trương Diên.
Trương Diên không lung lay hay hoảng sợ vì những lời đe dọa đó, ông ta đáp nốt:
” Điều cuối cùng chính là uy vọng của Lê Uýnh ở Lâm Nam vô cùng mạnh mẽ, bởi hắn đã uy dũng trước Bá Vương các ngài khiến cho dân xứ ấy coi là thần…”
“Bọn chúng chỉ có hai tới ba vạn quân thôi, có lật trời nổi đâu?” – Nhâm Thùy xen ngang, khuôn mặt hoài nghi trước câu của vị Cao Đồ tướng quân.
“Dù vậy, ta có đem 6 vạn, hay 12 vạn hay vét cả 30 vạn quân thì cũng chẳng nhổ hết cỏ giặc, khiến dân ấy phục chúng ta được!” – Trương Diên giải thích với Nhâm Thùy.
Lời sâu sắc này của Trương Diên, chỉ ba điều mà lộ rõ cả mặt bất lợi khi đương đầu với một đạo quân đã có sức mạnh toàn dân, toàn quân và chiến đấu trên đất của mình. Kẻ nào cũng bắt đầu mang sự sầu não, u ám về diễn cảnh lập lại thất bại của Chu Thông, Trần Hào.
“Vậy theo…theo Trương Cao Đồ tướng quân, triều ta phải làm sao thắng được lũ Lâm tặc này?” – Chu Lệ nuốt nước bọt hỏi, hắn thấy lời của Trương Diên hoàn toàn có cơ sở, phần nữa hắn vẫn còn hãi hùng với chiến công suýt giết chết Hạng Danh của Lê Uýnh, rằng Lâm Nam là nơi dễ đi khó về.
Trương Diên lặng tiếng một hồi lâu, hơn mấy nén nhang ông ta mới trả lời vấn đáp của Chu Lệ lại:
” Việc ta cần làm trước mắt là hãy tạm hoãn việc binh, bình ổn dân sinh các đạo, các châu tốt. Gửi nghị hòa với Lê Uýnh, phong hắn làm tiểu vương của Lâm Nam…”
Châu Hiên sắc mặt đỏ bừng, cắn răng tiến lên quát trước mặt Trương Diên rằng:
” Tiểu tử nhà ngươi dám nghĩ đến nghị hòa với giặc, muốn thay Bá Vương bọn ta lắm sao?”
“Bình tĩnh, Châu Trọng tướng” – Phạm Dĩnh trấn áp cơn giận của thuộc hạ hắn, liền quay sang thắc mắc Trương Diên –“ Ngài nghĩ nếu Lê Uýnh không chịu thần phục hay dối lòng, ta phải làm sao?”
“Vậy thì chúng ta sẽ có chính danh hiệu triệu cả nước đánh Lê Uýnh, hắn sẽ không thể nhân danh kẻ khoan hồng, thương dân với quân ta. Ta có sức mạnh nước lớn, hồng phúc an dân mà thảo phạt vì nghĩa trừ bạo” – Trương Diên quả quyết như vậy với Phạm Dĩnh –“ Việc đó tròn cái thế đại quốc, nước nhỏ ai cũng phục cả!”
Tiếng ầm ỉ, bàn luận giữa đám tướng với nhau rất là gay gắt, người thuận kẻ chống, chưa ai chịu ngã ngũ. Bởi bọn chúng tuy thấy sách của Trương Cao Đồ tướng quân cũng nhiều phần đúng, nhưng làm thế chẳng có chút quân công nào, danh dự nào để báo cho Hạng Danh hết.
“Ta e là ngài chưa từng đương đầu với lũ giặc Lê Uýnh, Cự Tiên rồi…” – Phạm Dĩnh bắt đầu kể với Trương Diên bằng vẻ mặt thảm thiết, thất thần, y như kiểu cha khuyên nhủ con mình trước lâm chung –“…nếu bọn giặc xứ Lâm vì dân, yêu nghĩa hiệp…thì sao…thì sao mà giết chết Ma Trình: là một vị trọng tướng trấn an cả Nam Giang chống lại đám chằn tinh hung ác? Ngài cũng biết tội ác tày trời, khó lòng tha thứ của đám chằn tinh da rắn mà. Dân chúng Nam Giang đã lầm khổ sau khi Ma tướng quân chết, tất cả là bởi lòng tham, dục vọng chiếm đất của lũ giặc Lê Uýnh…bản tọa thiết nghĩ nếu ngài sáng suốt thì sẽ biết nhiều tên mật thám Lâm Nam tuyên truyền, chúng ru ngủ dân hồng nước ta theo chúng… chứ Ma tướng quân bị oan, không ác như ngài nghĩ đâu…Hic hic”
Nước mắt của Phạm Dĩnh chảy đầm đìa ra, từng giọt chảy sắp mặt, tràn xuống tay áo nhưng phía sau đôi mắt lại không hề có lấy một tia chân tình, nhép miệng hé lên nhẹ khó ai thấy.
Trương Diên liền đổi sắc mặt, nếp nhăn trên đầu nở ra bởi ông ta đang suy xét lời kể của Phạm Dĩnh, ánh mắt đã dần ló sáng với hàm ý đồng tình, tuy vẫn phân vân.
Phạm Dĩnh không ngần ngại mà tiếp thêm lời, khóe mắt đỏ hoe:
” Lũ giặc tiếp tay cho chằn tinh bạo tàn, ức hiếp dân lành. Sau khi đốt phá Bình Thành thì mở đường cho chằn tộc tràn vào từ các dãy núi giáp nước Thục, Gò Xung…ấy chẳng phải là khiến dân lầm than sao?”
“Vậy thì tình hình Nam Giang ra sao rồi?” – vị chỉ huy của Xạ Cao Đồ hỏi lại, mặt vẫn không đổi nhưng ánh mắt đã có lé một chút trầm tư.
Rầm…
Lúc đó, cửa phòng đột nhiên bị mở ra, để một tên quân dịch trạm có nét mặt hốt hoảng, thở hổn hển chạy vào. Hắn quỳ xuống, mồ hôi thấm đầy người, tự mình ráng gượng hết hơi báo rằng:
” Bẩm cấp trên…đồn Bách Đồ[5] bị…bị lũ chằn quỷ vây lấy rồi!”
“Hả?” – giữa các tướng Hậu Sở ai cũng bất ngờ, sao lũ chằn tộc đó vượt ải Thiên Vân đột vào nội địa 800 dặm dễ dàng như vậy.
“Ngươi có chắc chưa?” – Chu Lệ mặt mày thất sắc, hắn giằng giọng chất vấn tên trạm tốt.
“Bẩm…bẩm thống tướng, chính chủ đồn Lam Thụ lệnh cho tiểu tốt đây…gửi cấp tốc về…” – tên trạm tốt mệt mỏi, sức lực chạm đáy run rẫy đáp tiếp –“… sáu ngàn tên đang cố giết hiếp người của ta, e là khó cầm cự lâu”
Tướng sĩ lại sôi nổi tiếng người nói qua lại, ai cũng bàn tán nhưng chẳng kẻ nào dám đưa người trợ viện: phần vì sợ hao tổn tư binh của chúng, phần vì chẳng có lợi lộc bằng viễn chinh Lâm Nam. Dân chúng ở vùng biên tái Nam Giang chỉ là kiến hôi, cỏ rác có thể đổi chác trong mắt lũ tướng tá Hậu Sở này.
Chỉ có Trương Diên tự mình đi tới gần tên trạm tốt, hỏi kỹ hắn:” Cho ta biết đồn Bách Đồ cầm cự được bao nhiêu ngày?”
“Dạ…dạ không quá tám ngày là lương cạn, đồn chịu không nổi – đó là lời của chủ đồn gửi cho tiểu tốt bằng mọi giá báo tới các chư vị ở đây” – hắn kể tiếp, vừa chảy nước mắt, vừa lạy mấy lần trước Trương Diên van xin –“ Xin…xin các chư vị hãy cứu viện lấy muôn dân, tướng sĩ bị kẹt…đời đời không quên hết ân điển của Đại Sở…hic…”
“Vậy ta sẽ hành tốc, xuất quân đi liền!” – vị tướng ở Hải Tây sau đó quay mặt bái lạy Chu Lệ, Phạm Dĩnh cùng các chư tướng khác mà lên giọng rằng –“ Tội ác không siết đã tràn xuống dân hồng. Hạ tướng nay vì ân phước bệ hạ cùng với chư vị nước Sở các ngài đây, mà tự thân mình dẫn các thân kỵ cứu lấy chúng sinh ở Bách Đồ. Mong các chư vị chấp thuận ý này của hạ tướng!”
“Trương Cao Đồ tướng miễn lạy, ngài là đồng minh của nước ta mà, há chi phải van xin vậy chứ?” – Chu Lệ thản nhiên, ung dung tiến tới đỡ vai của Trương Diên –“ Bệ hạ của nước ta cùng với bệ hạ của nước ngài đều minh ước, thề với nhau chống lại ngoại địch, tộc ác nên việc ngài làm là phải nghĩa với Trời, thuận với Đất thôi”, hắn tự mình lạy một cái trước Trương Diên, cảm tạ sự giúp đỡ không màng tư lợi nào khác.
“Trương tướng quân hãy vì minh ước, làm nghĩa hiệp mà phát quân đánh giặc. Ngài đã thấu tâm địa của bọn Lê Uýnh, chúng chỉ cần tư lợi mà hại chết dân chúng rồi!” – Phạm Dĩnh rưng rưng khóe mắt, nhưng đôi mắt hắn chẳng hề liếc nhìn Trương Diên quá lâu, cúi đầu xuống mà miệng tự giễu, che giấu điều gì đó mờ ám.
“Hạ tướng xin động lòng trước sự chấp thuận của chư vị tướng quân…” – Trương Diên chấp tay hành lễ, ông ta hứa sẽ diệt giặc và hội quân cùng nhau chinh Nam sau đó –“ Diệt giặc hung ác trong vòng một tháng, trấn uy Nam Giang!”, rồi vị tướng mặc giáp đỏ sáng loáng ấy từ từ bước ra khỏi phòng nghị sự.
Kết thúc cuộc bàn bạc, chỉ còn Chu Lệ và Phạm Dĩnh ở trong phòng. Phạm Dĩnh lại đắc ý, thỏa mãn với chính mình cười lên:” Hà hà hà….thần lừa được tên tướng tuy đạo nghĩa lý tưởng nhưng lại ngây ngô, dạng võ biền quả là dễ dụ!”
“Ta càng thấy Phạm huynh mưu mô phi phàm, tuy phải đánh đổi lòng dân Nam Giang” – Chu Lệ hòa theo tiếng cười, rồi hắn hỏi Phạm Dĩnh –“ Phải chăng huynh lệnh cho lũ tốt mở ải, để chằn tinh chém giết vào sao?”, ánh mắt hắn lo âu, bàng hoàng về mưu độc thâm sâu này có khả năng phản tác dụng.
“Chu thống tướng đừng lo quá, bọn đó đã khai với chằn tinh là ‘do bọn Lê Uýnh làm’ rồi” – Phạm Dĩnh bình thản trả lời Chu Lệ -“ Mà chắc bọn này bị ăn thịt hết rồi, ‘Trương ngây thơ’ khó lòng mà đàn hặc chúng ta nổi!” – hắn càng thêm ngạo nghễ, kiêu căng với kế do hắn bày sẵn.
Tráo đổi đạo đức là những gì Phạm Dĩnh đã làm, hắn mong muốn Trương Diên dần thấy bọn Lê Uýnh là những đám tặc hung ác, lợi dụng cả dân thường vì dục vọng bành trướng lãnh thổ. Khiến cho vị tướng đồng minh xứ Hải Tây trở thành bàn tay đắc lực, chỉ thấy Hậu Sở là chính nghĩa còn Lâm Nam là tà nghịch.
Ngày 15 tháng 5 năm 1917, tám doanh thuộc hai quân Tả, Hữu do Tư lệnh thống tướng Chu Lệ dẫn đầu, Thượng tướng quân Trần Hạo, Ty Giám Nam đạo Phạm Dĩnh cả hai phụ chính quân viễn chinh. Lực lượng được huy động không tính Xạ Cao Đồ của Trương Diên đang đánh dẹp thì ước chừng 53,600 binh sĩ các chủng loại và 73,800 dân phu hiện thời làm ở các trạm dịch từ Quế Ung đến Bình Thành. Số lượng này ít nhiều ngang ngửa quân chinh Nam năm ngoái của Hạng Danh (đánh vào Lâm Nam), nhưng lại kém về khoảng tác chiến bởi đa phần là lính tuyển mộ, bị ép tòng ngũ.
Bọn chúng tới ngày 28 thì dừng lại ở Bình Thành để sắp xếp lại quân tư, lương thực và kiểm kê kỹ các sĩ tốt không để thiếu sót. Chu Lệ ép dân chúng quanh vùng đi phu vác, già trẻ không tha: ngày đêm phải mở đường, khôi phục cầu xá, trạm dịch đã bị quân kỵ của Hồ Sử phá nát từ tháng trước.
Tuy lần này, quân dân Lâm Nam có khí thế và chuẩn bị mọi tình huống ập đến. Nhưng áp lực công kích từ nhiều phía đã khiến toàn quân vẫn trong tình trạng nguy cấp, thậm chí còn gian nan hơn năm trước rất nhiều.
Chú thích:
[1] Tuy là cháu của kẻ phục tùng Hậu Sở, nhưng Nùng Tư Quốc vốn đã không ủng hộ hành động của chú mình. Ông luôn từ chối ra mặt làm việc cho chính quyền ngụy Lăng – Tâm, tự mình dắt vợ con trốn tránh trên rừng núi suốt thời gian cai trị bóc lột của Sở tặc tại châu Lạng. Cho đến khi quân Lâm Nam giải phóng các đạo thì ông tập hợp hơn 400 người ở miền sơn cước địa phương chống lại ách đô hộ của Hậu Sở. Ông được chính Lý Kiến gặp mặt và trọng dụng vô cùng.
[2] Kim sơn hải viễn: nghĩa đen là đất vàng, biển rộng. Hàm ý sâu hơn là thể hiện của một quốc gia cường thịnh, dân sinh đầy đủ về mọi mặt.
[3] Cả hai đều thuộc đạo Hồ Nam, châu Quế giáp núi còn châu Phiên giáp biển với Lâm Nam.
[4] Là một đội đánh thuê, được nhà vua nước Trương (thuộc đạo Hải Tây) cử sang hỗ trợ Hạng Danh đánh dẹp lũ chằn tinh quấy phá trên danh nghĩa (thực chất lợi dụng họ chinh chiến ở Lâm Nam).
[5] Đồn Bách Đồ cách Quế Ung 750 dặm về hướng Tây Nam.