Nửa canh giờ sau đó, Lý Kiến thay đồ phục ngủ bằng áo trắng của một người mưu sĩ mà ngồi chờ ở lều chính quanh có bảy chum củi đốt thắp sáng mờ ảo, xua đuổi đi màn đêm tối cùng với sương trắng khỏi lều.
Không lâu sau, một người bước ra khỏi vén màn lụa che phía trong lều chính. Người ấy mặc áo giáp trụ lục sẫm hãy còn thấm ướt do phải hành quân bất kể nắng mưa liên tục suốt một tuần qua, vượt 300 dặm vào sâu bên trong lãnh thổ địch để đột phá, thực hiện chiến lược cầm chân sức mạnh của Bá Vương Hậu Sở.
“Mạt tướng Hồ Sử xin bái kiến Lý tướng quân!” – vị Hồ Xạ tướng quân ấy quỳ xuống chấp tay trước mặt Lý Kiến.
Đằng xa, gió sương phía Bắc thổi rào lạnh buốt của tiết thu tới hai người nhưng họ không hề đổi nét sắc mặt.
Vèo…vèo…vèo
Gió thổi vào khiến chum lửa suýt tắt lần nữa.
Vút…
“Miễn lễ! Miễn lễ Hồ Xạ tướng quân! Anh hãy ngồi xuống thay vì quỳ đi, chúng ta bàn tiếp nghị sự và hậu đãi chiến công của anh!” – Lý Kiến cười nhẹ, trong lúc đang cầm tay xoa từ từ vào bảo ngọc của Lê Uýnh tặng cho.
Khi Hồ Sử ngồi xuống bàn chuyện với Lý Kiến, thì lúc sau vị Hữu doanh tướng quân lại vừa soi kỹ bảo ngọc xong ông liền nhìn Hồ Sử vấn đáp:” Ta nghĩ anh đã dùng thứ của chủ soái chúng ta ban cho chăng?”
Hồ Sử với đôi mắt đồng thuận, ông cũng thừa nhận việc đó:
” Thưa Lý tướng quân, quả là mạt tướng đã lấy chính vận khí của mình diệt giặc, tự khấn Trời mà gọi sấm phá trận của lũ Ma tộc!”
“Nhưng nó có tổn vận khí và làm Hồ tướng quân bị suy kiệt một thời gian hay không?” – Lý Kiến lại chất vấn Hồ Xạ tướng quân bởi ông chưa rõ hậu quả của nó, chỉ nghe Lê Uýnh nói ‘chỉ dùng bảo ngọc khi cần dùng’ thôi.
Hồ Sử thở dài, ông chậm rãi trả lời lại câu của vị trên:
” Mạt tướng cũng thấy thân thể suy kiệt đi bảy phần rồi, nhưng mạt tướng vẫn có thể ráng sức vì bách dân, vì xã tắc xứ Nam chúng ta thì một hơi cũng không thể ngừng nghỉ!”
“Mong Hồ Xạ tướng quân hãy ráng dưỡng sức thay vì cưỡng ép chính mình, anh hãy tạm đề bạt người khác nắm quyền đoàn Xạ kỵ đi!” – Lý Kiến ân cần hỏi han, khuyên nhủ Hồ giữ sức mà tạm nghỉ.
“Vậy mạt tướng…mạt tướng xin đề cử đô úy trưởng của tả đội Xạ kỳ đoàn, tức là Diệp Hưng đảm trách mọi việc tạm thời cho toàn anh em Xạ kỵ. Người này không làm phụ lòng sự tín nhiệm của Lý tướng quân đâu!” – Hồ Sử đề bạt Diệp Hưng lên thay mình một thời gian, vì ông biết người ấy chiến công vượt xa mọi kỵ sĩ khác.
“Ồ, Diệp Hưng à?” – Lý Kiến hô lên một tiếng ngạc nhiên –“ Là người chém chết tên Ma Trình chăng, Hồ Xạ tướng quân?”
“Lý tướng quân quả là người am hiểu chuyện nhanh và biết dùng người đúng lúc!” – Hồ Sử khen lấy Lý Kiến.
“Ây, ta chỉ là đọc thư báo về trước đây thôi. Chẳng có tinh thông thần diệu gì cả đâu” – Lý tướng quân lắc đầu nhép miệng lên bất đắc dĩ mà nói tiếp –“ Hồ Xạ tướng quân hãy nghỉ dưỡng sức đi, ta sẽ nhờ thầy y bắt thuốc cho anh uống đặng giảm bớt bệnh tình sớm nhất có thể”
“Mạt tướng không quên nổi ơn đức vì quân dân của Lý tướng quân!” – Hồ Sử chấp tay để hành lễ cảm tạ.
“Miễn lễ, miễn lễ! Anh hãy về bản doanh của mình nghỉ trước đi” – Lý Kiến đưa nhẹ tay xuống tạ lễ của Hồ Xạ tướng quân.
Vào buổi sáng sớm tinh mơ, sương rét ăn sâu vào da người từng đám lính mới lúc tỉnh, lúc mơ thì ở phía rìa trại có một nhóm ba binh sĩ tụm lại, họ đang nướng thịt dê bắt được trên núi. Nguyên con dê ấy được cắm xuyên thân bằng xiên lớn, đang tự xoay trên ngọn lửa than hồng.
Một tên lính Lâm Nam với khuôn mặt trẻ trung, tuấn tú giữa đám anh em ngồi chờ thịt nướng nói trước:
” Diệp Hưng được chính Hồ Xạ tướng quân trọng dụng giữ đương nhiệm chức dẫn dắt trong anh em đoàn Xạ kỵ, thực sự Diệp đô úy anh đây có thực lực hơn người. Chính anh đã tự giết chết tên Ma Trình bạo tàn ấy trong vài hiệp, xứng danh anh hùng xứ Nam khiếp sợ đám Sở tặc!”
Diệp Hưng gãi đầu, ông ngại ngùng trả lời một cách e dè lại:
” Tôi chỉ là nhờ anh của huynh đây chỉ bảo, rèn luyện lũ kỵ sĩ như chúng tôi không dứt ngày nào. Tất cả cho việc đền ơn báo quốc, Hồ nhị ca à!”
Hồ Sâm nghe vậy nên có sự đắc ý, ông cười lớn rằng:
” Ha ha ha! Thưa vị Đô Úy…ấy nhầm đúng hơn là đương nhiệm Kỵ Xạ tướng quân họ Diệp cứ nhận lấy lời khen của ta đi. Bởi anh ta cũng sẽ quay lại nắm chức vụ nhưng cho đến giờ anh đã là phó tướng quân, là trợ lý đắc lực và bằng hữu trong lòng của anh ta!”
Thịt dê đã chín vừa tới, Nghị Hơn lấy dao xẻ từng miếng thị ra cho vào tô lớn, từng lát thịt bên ngoài có chút cháy đen vài phần nhưng bên trong vẫn mọng nước, nạc mỡ hài hòa vị mặn ngọt.
Xoẹt…xoẹt…xoẹt
Từng miếng thịt dê nướng được cắt ra bằng dao nhỏ, cho vào tô lớn.
Anh đã chia từng phần ấy ra dĩa, đưa cho từng huynh đệ mà kêu lên:
” Các bằng hữu hãy ăn lấy miếng thịt chín hồng, mặn ngọt đủ vị hài hòa đi!”
Diệp Hưng là người cầm lấy đầu tiên, ông không khách sáo mà vừa lấy đũa gắp ăn rồi vừa đáp lại:
” Đa tạ Nghị huynh…” – vị tạm đương Kỵ Xạ tướng quân thưởng thức thêm một lát thịt vào trong miệng –“ Ừm…huynh nướng thịt chín tới họng ta luôn, mềm tan không bị dai. Quả là nhân tài đứng số một về khoảng nấu ăn của đoàn kỵ chúng ta…”, rồi ông ăn thêm một lát thịt dê chín hồng nữa.
“Tướng quân Hưng đây quá khen tôi rồi, dù sao cũng phải thưởng cho anh bởi việc lập công giết tướng giặc chứ? Ha ha ha!” – Nghị Hơn vui cùng với đôi mắt hòa theo tiếng cười của đồng đội.
Rồi có một bóng dáng, mặc áo thường phục màu nâu sẫm chạy tới, trên tay hắn cầm theo vài bầu rượu đào mới mua gần ngôi làng bên cạnh.
“Hộc...hộc…hộc” – tên đó chạy nhanh nhẩu tới ba người lính Lâm Nam.
Hắn tới gặp bọn họ, nét mặt hổn hển trước mặt ba người mà nói:” Các ngươi…các ngươi…có thể đổi cho ta vài lát thịt dê nướng ngon lịm này không?”
“Di Lú, ngươi sao hối hả chạy tới hấp tấp, vội vã tới vậy? Có cần làm vậy không?” – Nghị Hơn vấn đáp hành động của Di Lú.
“Ta…ta chỉ muốn tý mồi để chia cùng huynh đệ ta bên kia thôi! Xin các ngươi cho ta miếng thịt hồng để nhậu đi, đổi lại ta sẽ cho các ngươi ba bầu rượu mua từ cô em làng bên. Cái rượu này uống ngon lắm đó!” –tên Di Lú van xin, vì hắn thèm thuồng việc ăn thịt nướng uống rượu lâu rồi.
Nhìn thấy ánh mắt năn nỉ của tù binh họ Di, Nghị Hơn liền đưa cái chén nhỏ có vài lát thịt vụn cùng với mề gan, tim phổi của dê núi cho hắn lên tiếng rằng:
” Cho các ngươi vài lát thịt nhỏ cùng với phần nội tạng thôi, dù sao phần này ta phải mất công cả hai canh giờ mới bắt được một con béo ú này. Còn về phần rượu, bọn ta cảm kích lòng tốt của Di huynh đây nhưng bọn ta đều là lính làm binh vụ, không thể quá sa đọa được nên ngươi nên tự giữ lấy đặng chia cho đệ ngươi nhậu đi”
Nhận được thứ mình hằng muốn, Di Lú nở nét mặt mừng rỡ như một gã nông dân trúng mùa vụ. Hắn nhảy nhót mấy nhịp rồi hạ đầu xuống đáp ơn:
” Xin cảm tạ lòng tốt của các ngươi, ta sẽ nói cho các huynh đệ ta biết! Ha ha ha, có mồi ăn rồi!”
Vút…
Di Lú chạy đi xa, một mình về tới nơi các tù binh nước Hậu Sở, là đồng hương của hắn.
Bóng dáng của gã người vô tư đó xa dần, cuối cùng thoát khỏi tầm mắt của ba người binh sĩ Lâm Nam.
Hồ Sâm nhìn tới Nghị Hơn, hỏi anh rằng:” Hơn có biết tên Di Lú này quê ở đâu không? Ta thấy hắn còn lạc quan, năng động hơn bất kỳ tù giặc nào ta tiếp xúc qua trước đó”
“Hắn quê ở Bình Thành, là con em của dân Nam Giang thôi” – Nghị Hơn bình thản đáp lại –“ Tên Di Lú này tuy quái dị, khó hiểu hành tung nhưng tôi lại thấy hắn là người đại diện cho con em Trung Nguyên biết rằng quân dân xứ Nam chúng ta là những người chính nghĩa hành đạo, không đồ sát vô cớ và mục đích của quân dân Lâm Nam là đẩy lui kẻ xấu khỏi đất tổ chúng ta mà thôi!”
“Quả là tầm nhìn sâu sắc, thấu hiểu sự tình quá Nghị Hơn à!” – Diệp Hưng vừa giễu vừa khen một cách sảng khoái, trong lúc ông còn đang ăn hết miếng thịt nướng còn lại trong dĩa.
Nghị Hơn cười nhẹ, anh cắt thêm lát thịt bỏ vào phần dĩa của Diệp Hưng mà tiếp lời:” Quá khen rồi, quá khen kẻ kỵ sĩ thấp hèn này rồi, thưa ngài Diệp tướng quân”
Cả ba cùng cười vang ở góc rìa trại, trong lúc các đám binh sĩ khác ở các lều vừa mới ngủ dậy, bọn họ chuẩn bị nướng bánh tráng ăn cùng với sốt mắm ngọt của vùng châu Lâm, vì nó gọn lẹ hơn trong thời chiến.
Tới giữa trưa, ở trong lũy thành đá cao của ải Nam Dương có vài tên lính đang bàn tán một cách ngột ngạt về tình hình bọn chúng bị quân Lâm Nam vây khốn mấy tuần qua mà không thể cử đội nhỏ phá ra ngoài báo tin.
Vù…vù…vù
Tiếng gió ban mai tuy mát mẻ, se se, mang theo hương cỏ rừng thoang thoảng, dễ chịu khắp núi đồi nhưng không tên nào có tâm trạng để ý tới cảnh vật nữa. Trong đầu bọn thủ trấn ải giờ chỉ có một suy nghĩ duy nhất: làm thế nào thoát khỏi trận địa vây lấy trùng trùng, điệp điệp của đối phương.
“Bọn này vây cả hai mặt trước sau của ải rồi, quả là quyết hạ diệt chúng ta mà!” – một tên lính Hậu Sở mặt mày ủ rũ, tối sầm và bi quan tột cùng do hắn cũng vừa mới tòng quân nên lo âu nhiều về cảnh thất bại, đầu toàn nghĩ về khung cảnh đồ sát không thương tiếc từ giặc khi hạ thành.
Bụp…
Một tiếng gậy cốc không quá mạnh, nhưng cũng không nhẹ đánh vào đầu tên ủ rũ này, làm cho da thịt đỏ bừng lên.
“Aaaa…đầu của ta” – tên đó la lên hoảng hốt, ôm đầu co ro.
“Các ngươi ăn nói cái khỉ gì vậy? Đô úy trên mà nghe được là chết cả lũ đó!” – một tên khác, có khuôn mặt đỏ hồng và ánh mắt phượng mang vẻ cấp trên kêu lên cảnh cáo đám lính gần hắn.
“Thập trưởng à,” – tên khác cố gắng chen vào nói lý lẽ, câu đo lại với kẻ cấp trên –“ chúng tôi chỉ là lỡ lời thôi! Vả lại mấy ngày nay lượng thịt lợn phơi khô dự trữ cũng đã cạn kiệt rồi, chúng ta chỉ có thể…chỉ có thể cầm hơi với cháo gạo pha loãng nên tụi tôi mới dại dột nhất thời vì sợ đói thôi!”
“Đúng rồi đó thập trưởng à! Chúng tôi nghe bên phu lương, bọn phu lẩm bẩm với nhau rằng…rằng chỉ…chỉ đủ cầm cự trong mười…mười ngày tiếp theo với số lương thực chút ít còn lại!” – tên lính ủ rũ nãy tiếp lời đồng đội hắn.
“Hừ! Các ngươi mới là tân binh nên ta nể tình cho qua thôi! Chưa đánh khổ chiến cùng đại quân của Bá Vương oai dũng, uy lực mà do đó các ngươi chưa hiểu ‘tử thủ quan môn, lập nhất công’ [1] “ – tên Thập trưởng tỏ vẻ tức giận, hắn bức xúc bởi sự mềm lòng của đám tân binh này.
Nhưng sau đó hắn tự nhủ với mình rằng: “E nếu hơn nửa tháng mà không có tiếp viện từ Bình Thành thì cả mình sẽ toi đời!”
Phía ngoài thành sau hơn vài nén nhang, dần ló dạng một hình bóng của một tên lính mặc giáp xanh tím y như bọn lưu thủ trong ải trấn vậy nhưng nét mặt thì không căng thẳng, rất vô tư.
“Ta là Di Lú, kẻ bị bọn Lâm Nam bắt ở đồn Bình Thành đây! Các ngươi mau mau đầu hàng đi, bởi bọn chúng nhân từ lắm!” – tên họ Di vang lên, nói với lũ trong ải rằng đầu hàng sẽ tốt hơn là chờ chết hao, chết mòn trong môn quan.
“Hừ!” –gã đô úy phe Hậu Sở lên giọng trong ải, lớn tiếng hạ thấp đối phương –“ Ngươi chỉ là kẻ giữ không nổi Bình Thành: vốn dễ thủ khó công. Sao ta có thể nghe lấy lời nói xằng bậy của nhà ngươi chứ?”, lời này trấn áp đi đôi phần nổi tuyệt vọng, khốn cùng của đám Hậu Sở còn lưu thủ trong ải.
Éc…éc…éc…
Nhưng tiếng chim quạ kêu làm cho bầu không khí trở nên kỳ dị, làm bất an với lũ Sở như gió đổi chiều, lật úp bàn cờ trong chốc lát.
Cùng với tiếng ‘rầm rầm’ đột nhiên xuất hiện như núi lở khắp trấn ải sơn biên, càng thêm phần quỷ dị, ám ảnh lên suy nghĩ hãi hùng của từng tên Sở binh.
“Sao…sao…lại thành dạng như thế này chứ?” – tên đô úy lại tự vấn chính mình.
Cộc…cộc…cộc…
Sương mù dưới tòa ải dần tan đi, để lại là những hàng lớp kỵ binh mang giáp trụ lục pha với khí thế sa trường bất bại. Đôi mắt của từng kỵ sĩ đều mang ánh quanh đầy sát khí, đè né lên nỗi vô vọng không lối thoát của đám đối nghịch trên thành lũy.
Cộp…cộp…cộp…
Tiếng ngựa tiến dần càng dồn dập và nặng nề hơn từ móng ngựa dẫm mạnh lên đất bùn.
Người tiên phong của đoàn kỵ sĩ này bước ra phía trước nghênh ngang, ung dung với giặc Sở. Người ấy cũng ở gần bên cạnh với Di Lú, giữa những mảnh đất hãy còn ướt từ những trận mưa lớn mấy ngày nay.
“Hãy mau đầu hàng đi!” – người tiên phong thản nhiên mà dõng dạc cất giọng lớn với câu chữ nhịp nhàng –“ Các ngươi đã vào thế cô bị động rồi, không một tên bằng hữu nào viện trợ các ngươi nữa đâu!”
Vèo…vèo…vèo…
Gió Bắc lại thổi tới Nam Dương Quan, khiến cho cành cây cùng đất đá dịch chuyển. Cơn lạnh ấy sát tới da thịt của phía lính Sở tặc, làm cho rất nhiều tên muốn buông vũ khí.
“Aaaa…ta muốn về nhà, ở đây chỉ có đường chết mà thôi!” – một tên trên thành nhỏ nhẹ tiếng đủ cho đồng đội hắn nghe, không để đô úy nghe được.
Nhưng tên đô úy vốn cứng nhắc, khó mềm lòng dễ dàng. Hắn nắm chặt ụ thành trước mắt, rồi hướng tới phía vị tiên phong của Lâm Nam mà nộ giọng lên hét:” Ngươi có mười cái đầu thì tự mình nhảy lên thành mà lấy, cả ải này nhận lệnh của bệ hạ Đại Sở rằng phải tử thủ tới người cuối cùng! Ngay cả trại thủ cấp trên của ta là Lâm Ức cũng sẽ làm như vậy, không dám trái chỉ dụ!”
Người tiên phong ấy nhìn lên thành, chỉ thấy duy có tên đô úy còn gan hùm lớn mật, còn lại thì nhát sợ mất hồn, người ấy lại đem một hàm môi nhép lên khinh miệt mà cười lớn:” Khà khà khà, quả là lũ ngu đần, các ngươi chưa biết ta là ai sao? Có lẽ ta hơi thất lễ khi chưa xưng danh phận cho bọn ngươi nghe lấy trước chăng?”
“Hả? Ngươi…là….ngươi là…” – gã hung bạo lúc nãy sửng sốt, tay buông ra mà cố lùi lại né sự quỷ dị, hắc ma của người đối nghịch dưới thành.
Tên đô úy trên thành chuyển sắc mặt từ khinh bỉ, ngạo mạn coi Trời bằng vung sang run rẫy và chảy mồ hôi, hắn trợn mắt một cách khiếp sợ mà nhìn kỹ người tiên phong ấy.
Người tiên phong càng kịch phúng, đã dẫn ngựa áp sát dần tới chân thành chỉ cách hơn mười hai bước.
Cộc…cộc…cộc…
Tiếng chân ngựa phi lên ngày càng tới gần, cho kỵ sĩ Lâm Nam ấy thấy rõ từng đôi mắt của giặc. Người ấy bắt đầu chậm rãi xưng danh phận và uy danh cho bọn Sở tặc nghe:
“Ta là Diệp Hưng, tạm đương giữ chức chỉ huy của cả Xạ Kỵ Tả doanh. Ta cũng chính là người tự tay đâm chết Ma Trình – kẻ đứng đầu tác oai, tác quái của đội sơn kỵ tộc Ma, trợ thủ đắc lực của Chu Lệ, Hạng Danh chuyên ức hiếp dân chúng Nam Giang. Nay đám tặc man di đó không còn, các ngươi chẳng có tiếp viện được nữa đâu, vả lại bọn ta chưa dùng tới cỗ pháo đá hạ thành nữa…”
Trong lúc Diệp Hưng đang nói, lũ trên thành đã hồn bay phách lạc, xiêu táng lìa khỏi xác rồi. Chưa bao giờ mà nghe nói một tên vô danh tiểu tốt của xứ Nam lại có thể giết chết được một tên gian bá, vua con của Nam Giang như giết chết một con lợn vậy.
“…Ta mong các ngươi mau chóng nghị bàn, trao trả thành và đầu hàng vô điều kiện. Hoặc không điều tệ hơn sẽ đến với các ngươi” – giọng nói của Diệp Hưng không quá nặng, nhưng từng câu chữ đều mang hàm ý lợi hại, thiệt hơn cho lũ Hậu Sở nghe lấy nhằm ra quyết định sáng suốt.
“Giết chết Ma Trình? Thật vậy sao? Chúng ta chẳng còn cơ may đổi vận nữa rồi!” – đám lính Hậu Sở trên lũy quan môn đều xôn xao, tên nào cũng bàng hoàng, chết lặng trước câu nói sau cùng của vị kỵ sĩ tiên phong ngang tàng đó.
Tên đô úy liền rút đao ra…
Xoẹt….
Đao tuốt ra khỏi vỏ để chĩa vào từng thuộc hạ, hắn lấy lại thần sắc để căm phẫn sự nhu nhược của sĩ tốt phe hắn:
” Các ngươi sao dám tin lời tầm bậy, vô cớ của giặc? Sao dễ tin người của giặc tới vậy? Các ngươi biết đó là tội khi quân…”
Chưa kịp để hắn nói xong, một thân kỵ sĩ xứ Nam tiến gần phía Diệp Hưng đặng cắm thân gỗ, trên có dải lụa tựa dáng cờ hiệu.
Phập…phập….
Thân dáng tựa cờ đó cắm xuống vào đất mềm nhũng, dải lụa trên thân tựa cờ đó phấp phới một lúc với viền đỏ, bìa trong đen và ở giữa có thêu chữ ‘Ma’ to lớn đã dính đầy máu và bùn.
“Đây là kết cục của kẻ bạo tàn, chuyên ức hiếp dân chúng trong vùng!” – Di Lú tiến lên, hắn vang vọng lớn để cho từng tên lính phục vụ Bá Vương nghe rõ –“ Các ngươi chỉ có thể lựa chọn đầu hàng vô điều kiện mà thôi!”
Tên đô úy cùng với thuộc hạ của hắn trơ cả mắt nhìn, khung cảnh ấy với bọn chúng như ‘địa ngục trần gian’ vì kẻ đứng đầu đội kỵ tinh nghệ nhất Nam Giang, là đặc lực nhất nhì của Bá Vương Hạng Danh ở mạn phía Nam lại bị một tên kỵ sĩ cấp đô úy xứ Nam giết chết trong hỗn chiến.
Diệp Hưng tiếp tục tự tại mà giữ chặt ngựa trước thành, ông nói ra việc lợi hại cho giặc nghe:
” Không còn đường để thoát đâu, chim mọc mười cánh cũng bay không nổi khỏi nơi này. Các ngươi sẽ không còn hy vọng nếu dám ngoan cố tử thủ, chống cự uy thế của toàn dân quân Lâm Nam bọn ta. Trời đất sẽ tru diệt những kẻ không thức thời, lũ đó sẽ tan biến vào cõi hư đời đời!”
Gã đô úy đã thực sự ‘hồn mất mà xác vẫn còn’, hắn cầu mong sống sót mà thôi bởi hắn biết tuyệt cảnh nếu càng kháng cự thì khi thành bị hạ, nguy cơ bị đồ sát rất cao. Đường về bị ngõ cụt, tất cả đều bị diệt là lựa chọn chính cả thành tự chuốc lấy.
Vèo…vèo…vèo…
Cơn gió ban mai lại thổi vào mặt đám trên thành, ngay cả tên đô úy cũng run lên vì lạnh gáy.
Hắn cuối cùng nhẹ giọng lại, hết còn vẻ hung bạo và ngang tàng như trước mà đáp lại với Diệp Hưng rằng:” Ta…ta sẽ báo với trại thủ tướng quân Nam Dương Quan về việc thương lượng tiếp quản ải môn này”
Diệp Hưng nhắc nhở hắn lần nữa:” Chủ tướng nhà ngươi hãy mau sắp xếp bàn hậu sự với chủ tướng Lý tướng quân ta, nếu chần chừ hoặc dối lòng thì đừng trắc cơn sóng dữ tợn tràn vào người các ngươi!”
Những điều không tốt ấy được chính gã đô úy kể lại với Lâm Ức – kẻ cầm đầu cả trấn ải của phe Hậu Sở.
“Thật…thật…vậy sao?” – tên Trại thủ tướng quân họ Lâm chất vấn tên đô úy về tình hình tới giờ -“ Ma…Ma Trình đã chết rồi sao?”
“Bẩm Trại thủ tướng quân, quả là như vậy” – tên đô úy run rẫy không hé nổi một ánh mắt lừa dối –“ Tại hạ thấy rõ cờ kỳ trận Ma tộc bị bọn…bọn Lâm Nam cắm xuống đất thị uy chúng ta”
“Hừ…hừ…híc…vậy là hết hi vọng rồi!” – Lâm Ức sau đó thở dài, hắn xuôi tay kêu tên đô úy lại gần.
“Vậy thì ngày mai ta sẽ tuyên bố với toàn quân rằng chúng ta xin hàng trước bọn Lâm Nam…hà…hà…” – tên chỉ huy trấn ải theo lệnh của Hang Danh, Chu Lệ quyết tử thủ tới cùng giờ toàn thân trống rỗng, hắn mong sau tìm sinh cơ sống sót thôi.
Từ giờ cho đến hai ngày tiếp theo, từng lớp quân địch trong ải ra khỏi thành mà hàng phe ta. Hơn ba ngàn năm trăm lính cùng cả năm ngàn dân phu bị bắt bởi quân dân xứ Nam.
Khi Lý Kiến bước vào trong ải Nam Dương, ông liền khen Diệp Hưng một cách tự hào:
“Anh quả là người đầy mưu lược, không có một khuyết điểm nào cả” – ông nói một cách ung dung, vinh danh đức hạnh văn võ toàn vẹn của tạm đương Xạ Kỵ tướng quân.
“Tiểu tử xin cảm tạ lời khen thật lòng của Lý tướng quân!” – Diệp Hưng chấp tay với tấm lòng tin tưởng ấy.
Chú thích:
[1] Là câu từ thể hiện ý chí thủ thành tới người cùng, lấy thân xác giữ trọng trấn giúp cho việc đại quân giành chiến thắng toàn cục về sau.