Vạt nắng hanh hao của mùa khô dị giới chiếu xuyên qua những thớ lá môn lợp mái, rọi thẳng vào lòng kho nông sản mới dựng. Dũng hất cánh cửa khung gỗ bước vào, kiểm tra lại tình hình cuộc "di dân" bắt buộc của mười bốn thành viên gia tộc bông gòn.
Vừa thấy bóng dáng bọc trong bộ đồ bảo hộ của gã chủ đất, một trận hỗn loạn nhỏ lập tức nổ ra. Đàn chuột con mười hai đứa lông tơ trắng muốt, líu ríu phát ra những tiếng chít chít nôn nóng, đồng loạt lao ra từ góc đống Khoai Ngọc. Chúng truyền chân nhau qua thớ ủng cao su, nhanh thoăn thoắt nhảy phốc lên, bám chặt vào hai bên cầu vai của gã thiếu niên. Dũng không xua đuổi. Đôi tay găng cao su nhẹ nhàng vuốt ve từng cái đầu nhỏ xíu, rồi cứ thế để cả đám ngồi vắt vẻo, ríu rít trên vai mình, lững thững rảo bước ra khỏi cửa kho để bắt đầu chuyến đi tuần tra mê cung đất.
Bản toán kinh tế của mùa khô thúc ép gã cựu kiểm toán phải đẩy mạnh diện tích canh tác lên mức tối đa. Đứng giữa những luống đất vén cao đan cài dọc theo các con hào, Dũng bắt đầu rà soát, định biên lại toàn bộ các giống nông sản hiện có để chọn ra loại có năng suất tích bột cao nhất, chuẩn bị cho những kịch bản cực đoan tiếp theo của đồng bằng.
Tâm điểm của chiến lược tích lũy lần này được dồn vào một giống củ độc đáo độc vị. Dũng nhớ lại thói quen của "cục bông": sinh vật này vốn không mấy ưu tiên loại củ này vì chúng hoàn toàn không có mùi thơm thảo mộc đặc trưng, nhưng nó cũng tuyệt đối không bao giờ vứt bỏ hay gặm dở.
Củ có hình dáng thuôn dài, lớp vỏ ngoài nhẵn nhụi trông không khác gì củ cải trắng thế giới cũ, nhưng kết cấu thớ thịt bên trong lại đặc quánh, chứa hàm lượng tinh bột đậm đặc và thô sần hệt như khoai lang. Đặc biệt hơn cả, khi Dũng dùng dao găm vớt được gọt thử một vạt nhai sống, thớ củ tứa ra một vị chát nhẹ rồi đọng lại vị mặn mòi tự nhiên rất rõ. Giữa cái dị giới hoang vu, nơi muối ăn là thứ xa xỉ phẩm hoàn toàn vắng bóng trong thực đơn suốt hơn năm mươi ngày qua, giống củ mặn tích bột này chính là chiếc phao cứu sinh hoàn hảo cho cơ thể thanh niên. Cậu dứt khoát dành riêng một héc-ta đất gò cao để chuyên canh loại củ cải mặn này.
Quan sát sự vận hành của dải thảo nguyên cỏ mật ngoài kia qua lớp kính bảo hộ, cái đầu óc phân tích của Dũng nhanh chóng bóc tách được một quy luật sinh học đầy khắc nghiệt: Vì phần lá xanh và thân cỏ trên mặt đất luôn bị đàn thú ăn cỏ hàng nghìn con tàn phá, giẫm đạp khốc liệt mỗi ngày, hầu hết các loài thực vật ở đồng bằng đều chọn chiến lược dồn toàn bộ dưỡng chất và sinh khí xuống tầng đất sâu hoắm để phát triển phần củ ẩn mình.
Để bảo vệ thành quả lao động của mình, Dũng lập tức tận dụng một bẫy sinh học tự nhiên. Đối với những loài cây dại độc lạ sở hữu phiến lá gai góc, sực mùi hôi hám hoặc tiết nhựa độc mà tuyệt nhiên không một con dã thú ăn cỏ nào dám đụng mỏ đến, cậu chủ động xách xẻng sắt lội ra ngoài dải bãi bồi, đào tận gốc mang về.
Dũng đem trồng chúng san sát nhau, ken đặc thành một dải bờ lũy bám dọc theo bờ rìa phía bên ngoài của con hào nước sâu. Một lớp tường vây sinh học nồng nặc và nguy hiểm chính thức được thiết lập, dựng lên một ranh giới cảnh cáo vô hình chặn đứng mọi bước chân của đám linh dương biến dị từ xa.
Trong khi bề mặt thảo nguyên bên ngoài đang ráo hoảnh, nứt nẻ dưới cái nắng hanh của mùa khô, thì hệ thống hào nước sâu bao quanh khu vườn ba héc-ta lại biến thành một túi sinh thái trù phú đến kinh ngạc.
Lòng hào sâu hút, ngập triều phù sa loang loáng nước nay trở thành nơi tị nạn lý tưởng của các loài thủy sinh bờ bãi. Đám lươn hoang, trạch dị giới thân dẹp lép, trơn tuột từ các vũng sình lầy khô cạn ngoài kia không biết theo lối mòn nào mà rủ nhau bò tới, tụ tập về đây dày đặc. Chúng bơi lội ngoằn ngoèo, quẫy đuôi tanh tách dưới đáy hào, tạo thành một ma trận chuyển động sống động ngay sát cạnh pháo đài đất nện. Dũng đứng trên bờ lũy sậy, nhìn những cái bóng dài lướt đi dưới lòng nước đục, khẽ nhếch mép dửng dưng. Nguồn tài nguyên thủy sinh dồi dào này đang nằm gọn trong tầm tay, sòng phẳng đợi cậu khai thác bất cứ lúc nào.