Cái không gian tám mét vuông vốn dĩ đã ngột ngạt, nay chính thức vỡ trận sau một đêm nháo nhào như cái chợ vỡ. Tiếng líu ríu, chít chít liên hồi của mười hai đứa con nhỏ cộng thêm tiếng cào chân sột soạt của nàng vợ mới nhà "cục bông" khiến Dũng không tài nào chợp mắt nổi. Đầu óc gã cựu kiểm toán căng ra vì thiếu ngủ, bản toán không gian sinh tồn lập tức báo động đỏ.
Sáng ngày thứ hai, khi vệt nắng hanh đầu tiên của mùa khô vừa chạm vào ngưỡng cửa lưới xơ môn, Dũng đứng dậy, dứt khoát thi hành một lệnh trục xuất tối cao.
Cậu dùng hai tay bưng nguyên cả tấm đệm xơ mướp, nơi mười bốn thành viên nhà chuột đang nằm túm tụm thành một khối bông trắng muốt, lầm lũi bước thẳng ra khỏi nhà chính. Điểm đến của cuộc "di dân" bắt buộc này là căn nhà kho nông sản mới dựng cạnh bên. Dũng đặt cả gia đình chúng xuống một góc khuất kiên cố, ngay sát cạnh đống Khoai Ngọc ruột trong suốt béo bở.
- Ở đây diện tích lớn, có sẵn đồ ăn. Cấm bén mảng về phòng cũ quấy rầy.
Con chuột bố ngồi rướn cái đuôi dài ngoằng, khịt khịt mũi vào củ khoai ngọc bên cạnh đầy thỏa mãn, hoàn toàn sòng phẳng chấp nhận vùng lãnh thổ mới mà không có lấy một sự kháng cự.
Trở về gian phòng chính, Dũng vác chiếc xẻng sắt bản to định bụng dọn dẹp nốt mớ tơ chuối vụn còn sót lại trên nền đất nện. Đúng lúc này, một biến động chấn động nổ ra, bẻ gãy mọi quy luật tư duy thực chứng từ trước đến nay của cậu.
Từ góc vách tối, con quái thú thân rắn đầu dê uốn lượn thớ vảy đen xì bỗng chốc rướn cao phần cổ xám tro. Đôi mắt đảo liên tục của nó nhìn chằm chằm vào đôi ủng cao su của Dũng, rồi cái miệng đầy răng cưa khẽ mấp máy, phát ra những luồng âm thanh lạ đầy trúc trắc, bập bẽ:
- Dũ... Dũng... Ăn... khoai... Ngọc...
Cạch!
Chiếc xẻng sắt trên tay Dũng rơi tự do, nện mạnh xuống nền đất nện phát ra một tiếng động khô khốc. Gã thiếu niên giật nảy mình, đứng chết trân tại chỗ, hai phin lọc của chiếc mặt nạ phòng độc phập phồng theo nhịp thở dồn dập. Cậu tự đặt tên cho nó là Tỵ Dương vì cái ngoại hình nửa rắn nửa dê quái dị, nhưng cậu chưa từng chuẩn bị cho một kịch bản rằng cái thực thể dị hợp này lại có khả năng học và bập bẽ được tiếng người nhanh đến thế, chỉ sau một thời gian ngắn ngủi sống chung dưới một mái lá môn. Giọng nó ngọng nghịu, thô ráp như hai thớ đá cọ vào nhau, nhưng ngữ nghĩa thì rõ ràng, sòng phẳng đến lạnh gáy.
Lấy lại sự điềm tĩnh của một gã từng đối mặt với những con số khủng hoảng, Dũng chậm rãi nhặt chiếc xẻng sắt lên, dựng vào vách tường. Đôi mắt cậu nheo lại sau lớp kính bảo hộ, xoay người nhìn chằm chằm vào hai sinh vật tị nạn còn lại đang nằm ở góc sân phòng.
Một con là cáo ba đuôi màu xanh hải quân mà cậu gọi là Tam Vỹ, con còn lại là chú hoẵng nhỏ có cặp sừng ngọc tự phát sáng. Cậu bước lại gần, chống hai tay lên đầu gối, gặng hỏi bằng cái giọng nửa đùa nửa thật nhưng tràn ngập sự áp chế:
- Mấy đứa có nói được thì mở mồm nói luôn một thể đi. Để anh mày còn biết đường mà định biên nhân sự, chuẩn bị tâm lý. Đừng có giấu bài, dở trò úp mở ở cái pháo đài này nữa.
Không gian tám mét vuông rơi vào một sự im lặng mang đầy tính ngầm hiểu sâu sắc.
Đáp lại lời tra hỏi sắc lẹm của gã cựu kiểm toán, cả Tam Vỹ lẫn con hoẵng nhỏ đều không phát ra bất kỳ một thứ âm thanh bập bẽ nào. Chú hoẵng điềm đạm chỉ khẽ nghiêng cái đầu mảnh mai, cặp sừng ngọc trên đỉnh đầu phát ra thứ ánh sáng thuần khiết, xanh dịu, dửng dưng nhìn cậu đầy từ tốn. Trong khi đó, con cáo ba đuôi lười nhác cuộn tròn thân mình sắc xanh hải quân, ba chiếc đuôi gầy guộc khẽ vẫy vẫy đầy ẩn ý xuống nền đất nện như một lời từ chối khéo léo.
Dù chúng quyết giữ thế im lặng, nhưng cái đầu óc phân tích của Dũng thừa hiểu mọi chuyện qua ánh mắt linh hoạt, quá mức hiểu chuyện của hai sinh vật này. Cái điền trang ba héc-ta này rõ ràng không chứa chấp những con thú hoang thông thường. Kiểu gì đám này cũng biết nói, hoặc ít nhất là hiểu sạch sành sanh mọi nước đi của cậu, chỉ là chưa đến hạn định hoặc chúng chưa thèm mở miệng sòng phẳng với chủ nhà mà thôi. Cậu nhếch mép, quay lưng bước ra luống sậy già, trật tự sinh tồn trong đầu lại phải thêm vào một danh mục rủi ro mới: Những kẻ tị nạn biết suy nghĩ.