Khoang ghe yên lặng trong mấy giây. Thủy thoáng sững người, rồi cười gượng gạo hỏi
– Quỷ là sao chú? Chú nói thiệt không đó?
Nhìn phản ứng của hai đứa trẻ, chú Liêm cười khoái trí, xua tay
– Chú giỡn với hai đứa mày chút thôi... chứ xóm đó mà quỷ còn ngự tới bây giờ thì đố cha thằng nào dám tới đó.
Chưa kịp thở phào với câu đầu tiên, Thủy và Tiến lại một lần nữa ngơ ngác trước câu sau
– Tới bây giờ... ý chú là xóm đó hồi xưa có quỷ thật à!?
– Ừ... tụi mày muốn tìm hiểu về cái nghề ở xóm đó, thì phải bắt đầu bằng câu chuyện này thì mới được.
Chú Liêm gật đầu, nghiêm túc nhìn cả hai rồi trầm ngâm suy tính. Sắp xếp xong câu chuyện trong đầu, chú kéo một hơi thuốc, cất giọng khàn khàn
– Xóm đó có tên Ông Đèn gần đây thôi...
Tiếng máy ghe chạy tạch tạch đều đặn, rẽ đôi dòng nước sông buổi sớm xàng xạc. Thủy và Tiến từ chỗ khó hiểu dần nhíu chặt hàng chân mày, chìm vào câu chuyện về xóm Ông Đèn của gần năm mươi năm về trước.
– Xóm này năm xưa có biết tới đèn lồng, bánh trái gì đâu. Chỉ quanh quẩn bán mặt cho đất, bán lưng cho trời để sống qua ngày đoạn tháng thôi. Cho tới đêm Rằm tháng Tám năm đó, sau một vụ mùa bội thu hơn những năm khác cộng lại...
Đám trẻ con nheo nhóc chạy nhảy, chơi đùa ngoài đồng, người lớn thì tụ họp bên chén trà, ly rượu ngắm trăng. Họ còn đang hăng say, đón từng cơn gió nhẹ mát rượi lướt qua da thịt, thì đột nhiên bầu trời trở nên lặng ngắt không một gợn gió. Xung quanh họ, từ ngọn cây, tán lá cho tới con sông phía ngoài bỗng trở nên mờ dần. Một màn sương từ khoảng không thình lình trào ra, không hề báo trước một dấu hiệu nào. Màn sương mỏng dính nhưng đục ngầu xám xịt bao trùm lên cả xóm nhỏ, làm con người ta dù đứng đối diện cũng không trông rõ mặt nhau.
Tiếng nói cười vô tư dần chuyển thành hoang mang, sợ hãi. Người ta í ới gọi tên nhau trong đêm đầy hoảng loạn. Thứ họ sợ không chỉ vì màn sương quái lạ chưa từng thấy này, mà vì thứ đang chạm lên áo quần, da thịt họ lúc này không mang theo cái lạnh ướt át của sương đêm, mà là một thứ gì đó nhớp nhúa, tanh nồng, rợn ngộp đến khó thở.
Từng âm thanh rời rạc rồi dồn dập bên tai họ không phải tiếng người kêu nhau, mà văng vẳng bên tai những tràng âm thanh the thé quỷ dị đầy man dại, thích thú...
Sương đến nhanh, rồi tan cũng nhanh. Chỉ vỏn vẹn mười phút ngắn ngủi trôi qua, nhưng tâm trí của những người còn sống đã tràn ngập kinh hoàng, ngây dại. Bàn tiệc xung quanh đổ nát, máu thấm đỏ trên nền đất ẩm. Xác người nằm la liệt, gương mặt bị cắn xé biến dạng không còn nhận ra hình thù. Có người tay chân gãy gập, hóa điên hóa dại gào lên từng tiếng đứt quãng "Quỷ... Quỷ..." rồi ói ra máu tươi, chết tức tưởi. Tiếng ú ớ ngây dại hòa lẫn vào từng tiếng gào khóc xé lòng của những kẻ mất đi người thân, biến đêm Rằm đầy thơ mộng thành một thảm cảnh địa ngục mà chính những người trong cuộc cũng không biết nguyên nhân.
Cả xóm sau ngày hãi hùng đó, không ai còn tâm trí cày bới ruộng vườn. Sự sợ hãi và bất an bao trùm lên từng mái nhà ẩm thấp. Cho tới một ngày nọ, một thông tin không biết rộ lên từ đâu mà nó như một cơn gió mang theo hi vọng truyền khắp xóm nhỏ: có người trong xóm được một ông cụ già về báo mộng.
Ông cụ tiết lộ rằng, mảnh đất họ đang cắm dùi sinh sống vốn là nơi phong ấn lũ quỷ dữ từ hàng trăm năm trước. Nay người kéo về quá đông, chính dương khí tích tụ qua nhiều năm tháng đã vô tình mài mòn đi lớp phong ấn cổ xưa, khiến lũ quỷ dần dà trỗi dậy và xé rào thoát ra ngoài. Đêm Rằm năm nay chỉ mới là một phần nhỏ, nhưng tới năm tiếp theo thì toàn bộ người trong xóm sẽ chết sạch.
Tiến đang cắm cúi ghi chép vào cuốn sổ tay coi như tài liệu tham khảo, chợt ngẩng đầu tò mò hỏi
– Người được ông cụ đó báo mộng là ai chú?
– Sao tao biết được! Người ta kể sao thì tao kể lại cho tụi mày y chang vậy thôi.
Đang theo đà kể lại bị cắt ngang, khiến chú Liêm có phần tuột hứng. Chú kéo một hơi thuốc cuối, rồi với tay búng đầu lọc qua khung cửa ghe, giọng hờn dỗi
– Giờ muốn hỏi thì tao cho hỏi đó, không thèm kể nữa.
Vốn ban đầu, Thủy không trông mong gì nhiều về xóm Ông Đèn mà chỉ chú tâm tới hai thi thể được đem về đó thôi. Nhưng, nghe qua lời kể của chú Liêm, cô dám chắc rằng xóm này có thứ huyền bí, hay ho hơn.
Nghĩ vậy, Thủy vội cười lấy lòng, cất tiếng nài nỉ
– Thôi chú đừng giận, thằng em con nó thực hiện đúng nghề nghiệp thôi. Kể tiếp con nghe đi chú, sau đó thì sao? Họ làm gì để thoát khỏi ma quỷ vậy?
Chú Liêm thấy Thủy tò mò, hào hứng muốn nghe tiếp, khác biệt với Tiến – thằng thanh niên chỉ cắm đầu ghi chép, lâu lâu lại cất giọng đâm chọt câu chuyện của mình. Chú hắng giọng mấy cái, nhếch nhẹ khóe môi
– Làm đèn lồng, mà không phải loại bình thường. Ông già đó báo mộng chỉ họ vẽ bùa lên trên đó, tới đêm Rằm theo treo lên. Xóm đó nói rằng thứ đèn lồng ấy giúp che đi hơi thở của người sống, khiến bọn quỷ không tìm ra cũng không hút dương khí được.
– À, dạng như loại bùa che mắt toàn hình gì đó hen chú? Mà tại sao ông ta không chỉ bọn họ cách phong ấn lại tụi quỷ bên dưới luôn, mà làm đèn chi rườm rà vậy?
Lại bị Tiến đâm chọt, chú Liêm cố nén xuống cảm giác muốn chửi. Chú tỏ ra không quan tâm tới cậu, tiếp tục nói với Thủy
– Bùa trên đèn thì lạ vậy, nhưng thứ lửa đốt lên bên trong thì lại khác. Lửa đó nghe nói là có thần khí dùng để gia trì phong ấn đó, như tu sửa lại á.
Những đêm Rằm tiếp theo trong xóm, nhờ vào thứ đèn lồng với ngọn lửa đỏ trắng đan xen linh thiêng đó mà họ được yên bình. Chỉ là, cái lợi thì luôn đi đôi với cái hại.
Việc vẽ bùa liên tục dần hao mòn đi sức sống, dương khí trên người toàn bộ dân xóm khiến họ sống trong rệu rã mệt mỏi. Nhận ra điểm đó, vài người trong xóm liền thành tâm khấn vái ông cụ – mà lúc này họ gọi với cái tên là "Ông Đèn", ý chỉ người soi đường chỉ lối.
Không phụ kỳ vọng, chẳng bấy lâu sau Ông Đèn lại hiện về trong giấc chiêm bao của một trong những người khấn vái.
Theo lời Ông Đèn, dân xóm bắt đầu chuyển qua làm một loại bánh có tên là "thuần dương" mang một khả năng khôi phục dương khí đầy kỳ diệu.
Từ ngày đó, người trong xóm bắt đầu mang ơn khôn xiết với vị thần trong câu chuyện của chính họ mà cùng nhau góp công góp của xây lên một ngôi miếu to lớn ở ngay đầu xóm để tiện bề phụng sự, hương khói.
Chú Liêm uống hớp trà, liếc sang Tiến đang nhìn mình chăm chăm liền mất kiên nhẫn nói
– Rồi đó thằng nhỏ! Mày muốn hỏi gì thì hỏi đi!
– Theo chú kể thì đèn lồng đó để trừ tà, bánh "thuần dương" cũng vậy luôn. Đèn lồng thì hợp với dịp Trung Thu, nhưng loại tà dị vậy cũng có người mua hả chú? Còn về bánh thì...
Tiến cúi đầu, vừa nói vừa nhìn cuốn sổ tay chi chít chữ của mình. Cuối cùng cậu ngẩng đầu, khó hiểu
– Xóm đó tà quá chú... nếu là con thì không ngu dại gì mua thử đồ ở đó ăn đâu, nói chi tới việc biết tới còn có phần rình rang như bây giờ.
Khói xám trắng tỏa ra trong khoang ghe có phần ngột ngạt. Chú Liêm cầm điếu thuốc vừa châm lên, nhìn con nước bên ngoài qua khung cửa sổ. Đôi mắt chú thoáng một tia phân vân, gật gù đồng tình
– Ờ... nghe mày nói tao cũng thấy có lí. Việc tại sao nghề bánh với đèn lồng xóm đó tự nhiên nổi lên là vì sao thì tao không biết...
Nói đoạn, chú quay đầu nhìn qua Tiến, mắt chợt sáng lên đầy vẻ hóm hỉnh
– Nhưng mà mấy thứ đèn lồng, bánh trái trừ tà kiểu đó mấy miệt trên cần vào dịp Trung Thu lắm. Có tiền thì cứ làm thôi, quan tâm gì tà hay không tà.
Tiến nhìn chú Liêm hồi lâu, rồi gật gù coi như đồng ý với câu trả lời đó. Cậu cúi đầu, tiếp tục ghi lại vào cuốn sổ tay.
Khác với đứa em chỉ chăm chăm để ý mấy thứ trọng tâm, Thủy lại lắng nghe câu chuyện kỹ hơn. Sự háo hức ban đầu dần tan sạch, nhường chỗ cho một mối lo về xóm Ông Đèn với tích quỷ ngự, người báo mộng không rõ nam nữ – tên tuổi và một sự bất an âm ỉ như chiếc ghe nhấp nhô trên con sông lặng gió.