Cánh cửa khoang hầm khép lại, nuốt chửng Hứa Huy Hòa vào cái không gian chật chội và đặc quánh mùi sắt gỉ. Cơn sốt hôm trước cùng sự kiện kỳ quái ban đêm vắt kiệt thể lực đứa trẻ, khiến cậu chìm vào giấc ngủ sâu không mộng mị.
Đúng năm giờ mười ba phút sáng, chiếc đồng hồ sinh học được lập trình bằng roi vọt và kỷ luật thép tự động bật tung hệ thần kinh. Hòa mở bừng mắt, bật dậy khỏi chiếc giường đơn. Cơ thể mười ba tuổi tuy còn chút ê ẩm nhưng đã phục hồi nhanh chóng nhờ nền tảng thể lực được rèn giũa suốt hai năm qua.
Cậu mặc vội bộ đồ tập chạy, xỏ giày lao ra khoảng sân bê tông lạnh ngắt buổi sớm. Sương mù đặc quánh giăng kín thung lũng, phả vào lồng ngực vị mặn mòi và ẩm ướt. Bước chân nện xuống đất đều đặn, nhịp thở dốc phả ra những làn khói trắng nhỏ. Nhưng chạy được nửa vòng quanh hàng rào thép gai, nhịp chân Hòa bỗng khựng lại.
Khoảng sân phía đông trống hoác. Góc bếp của lão Long lạnh ngắt, không một làn khói bốc lên, chiếc nồi gang úp ngược im lìm.
-- Lão Long đi mất rồi, không ai nấu ăn.
Hòa lầm bầm, quay gót bước ngược về khu nhà bếp. Không có giáo quan giám sát, nhưng thói quen vận hành của cỗ máy quân sự vẫn ép cậu phải hành động. Hòa nhóm bếp, vo gạo, nấu nồi chảo lúa mạch đặc quánh cho bữa sáng, rồi chiên thêm mấy quả trứng gà dự trữ.
Đồng hồ trên tường nhảy đúng sáu giờ sáng. Đáng ra giờ này, tiếng dép lê lạo xạo của bà Linh, tiếng gầm gừ của lão Nghiệp hay dáng đi tập tễnh của Nguyễn Giang Nam phải vang lên ngoài hành lang.
Nhưng không gian tĩnh lặng đến rợn người.
Hòa bước ra khỏi phòng bếp, gõ cửa từng căn phòng một.
-- Giáo quan Nghiệp? Thầy Nam? Bà Linh?
Không có tiếng đáp lời. Cậu đẩy nhẹ từng cánh cửa. Cả ba căn phòng đều trống không. Chăn màn được gấp vuông vức, phẳng lỳ như chưa từng có ai chạm vào.
Trên khung cửa gỗ của phòng ăn, ba tờ giấy nhỏ màu vàng sẫm được dán ngay ngắn bằng băng dính. Hòa bước tới, giật từng tờ giấy xuống đọc.
Tờ thứ nhất, nét chữ nguệch ngoạc, thô ráp của lão Nghiệp:
-- Đi có việc.
Tờ thứ hai, nét chữ sắc nhọn, gãy gọn của Nguyễn Giang Nam:
-- Đi có việc.
Tờ thứ ba, nét chữ run rẩy nhưng cứng cáp của bà La Thi Linh:
-- Đi có việc.
Cả ba người đều để lại những lời nhắn cụt lủn, ngắn gọn đến lạnh lùng, hoàn toàn không báo trước, không một lời dặn dò hay giải thích cho đứa trẻ bị bỏ lại.
Hòa đứng trân trân giữa phòng ăn rộng thênh thang, nhìn chằm chằm vào chiếc bàn dài nơi ba bát cơm lúa mạch bốc khói nghi ngút do chính cậu vừa nấu. Khối lượng thức ăn được bày biện sẵn cho bốn người, giờ đây bỗng trở nên thừa thãi, nhiều gấp ba lần cái dạ dày tuổi trưa của cậu.
Cơn gió sớm lùa qua khe cửa hẹp, mang theo tiếng lá khô xào xạc ngoài thung lũng.
Hòa ném những mẩu giấy xuống bàn, quay người bước ra ngoài sân.
Mặt trời bắt đầu nhô lên khỏi đỉnh núi, rọi thứ ánh sáng vàng nhạt xuống khu vườn nhỏ. Vườn rau cải ngọt trồng sát vách đá đang héo rũ vì thiếu nước, bầy gà trong chuồng nháo nhác đập cánh kêu quang quác vì đói mồi, và góc khuất phía cuối thung lũng, những thùng ong mật đang râm ran tiếng vo ve đòi được kiểm tra tầng lồng.
Nhìn bộn bề công việc bị bỏ mặc, một tiếng cười khẽ bỗng bật ra từ lồng ngực đứa trẻ mười ba tuổi. Âm thanh ấy vừa chát chúa, vừa nhẹ nhõm đến lạ thường.
-- Ha ha...
Hòa ngẩng đầu nhìn bầu trời cao vút không một gợn mây, khóe môi nhếch lên một nụ cười đầy mỉa mai và tự do.
-- Giờ thì hay rồi, chẳng còn ai kè kè cầm roi thúc đ-ít nữa. Ở đây một mình... trồng rau, nuôi cá, ngắm hoa chắc cũng chẳng chết ai.