Trời cao lồng lộng, trên con đường quan đạo dài dằng dặc cách Mạch Hương Trấn khoảng hai ngày đường, bụi cuốn mù mịt theo những cơn gió khát của vùng biên thùy.
Một đoàn xe ngựa gồm năm chiếc, tháp tùng theo cả người lẫn vô số những rương hòm, hộp gỗ nặng nề, đang kịch liệt lăn bánh bươn chải trên mặt đường đất đá mấp mô. Năm chiếc xe ngựa đó đã đi được 6 ngày đường rồi.
Nhìn từ bên ngoài, chiếc xe ngựa thứ hai nằm giữa đoàn trông vô cùng bình thường, chẳng có gì nổi bật so với bốn chiếc xe chở đầy hàng hóa còn lại. Thế nhưng, có bước vào bên trong mới thấy được sự khác biệt một trời một vực.
Không gian bên trong được bài trí vô cùng tiện nghi và rộng rãi: ở góc xe đặt một bếp than nhỏ đang cháy đỏ hồng tỏa ra hơi ấm áp, trên chiếc bàn gỗ nhỏ cố định giữa sàn bày biện đủ loại điểm tâm tinh xảo cùng bình trà nóng thơm phức. Lúc này, một đôi phu phụ cùng hai đứa con thơ đang quây quần bên nhau, vừa thưởng trà vừa rôm rả trò chuyện.
Người đàn ông trung niên mang dáng dấp của kẻ học võ, vóc dáng vạm vỡ nhưng gương mặt lúc này lại thoáng chút đăm chiêu. Hắn nâng chén trà lên, nhìn sang thê tử của mình rồi khẽ thở dài, cất giọng trầm thấp:
"Phu nhân, ta biết tấm lòng của nàng dành cho gia đình ta, nhưng chuyến này về quê, nàng chuẩn bị nhiều lễ vật chất đầy mấy xe ngựa như thế, liệu có quá phô trương, nhiều quá hay không?"
Người phụ nữ nghe phu quân hỏi vậy liền đặt miếng bánh ngọt xuống, khẽ liếc mắt nhìn chồng bằng ánh mắt vừa yêu chiều vừa có chút trách móc.
Nàng sửa lại chéo áo cho đứa con nhỏ đang dựa vào lòng mình, rồi nhẹ nhàng nói:
"Phu quân đừng có lo hờ lo hão. Số lễ vật ấy nhìn thì có vẻ xa hoa, chất đầy hòm to rương nhỏ thật đấy, nhưng đa phần đều là đặc sản địa phương của vùng chúng ta sinh sống, mang về làm quà biếu là hợp lý nhất rồi. Năm xưa chàng rời quê hương lập nghiệp, ra đi trong cảnh bàn tay trắng không mấy vẻ vang, lại còn chịu tiếng ngỗ nghịch với lão gia tử.
Thế nhưng lần này trở về vị thế đã hoàn toàn khác xưa, chàng đã là Phó đường chủ của Mãnh Hổ Đường danh tiếng, lần này về trấn mở phân đường, có muốn không xa hoa cũng không được đâu!
Thể diện của chàng cũng là thể diện của mẹ con ta."
Nói đến đây, nàng khẽ mỉm cười, giọng điệu có chút trêu chọc:
"Sao dọc đường đi chàng cứ lo lắng mãi thế? Ta còn đang chê số lễ vật đó ít đây này, lúc nãy còn định bụng bảo hộ vệ dừng chân, dọc đường ghé vào thương hội lớn nào đó để mua sắm thêm một ít trâm ngọc, nhân sâm quý hiếm đem về nữa cơ đấy."
Đứa con lớn ngồi bên cạnh nghe mẹ nói thế liền khúc khích cười, còn người đàn ông nghe thê tử phân tích rành rọt như vậy thì chỉ biết lắc đầu cười khổ, trong lòng trào dâng một cảm giác ấm áp, cái nỗi lo lắng bồn chồn trước ngày đối mặt với lão phụ thân khó tính cũng vơi đi vài phần.
Nàng xích lại gần, chủ động nắm lấy bàn tay thô ráp của phu quân mình, mềm mỏng nhưng đầy kiên định mà nói:
"Chàng đã nói rồi, bên ngoài chàng lo ngoại, bên trong ta lo nội. Chút chuyện quán xuyến hậu viện này, ta là đương gia chủ mẫu mà lại không lo liệu nổi sao?
Nói thật lòng, ta chuẩn bị chu tất như vậy không phải là để nịnh bợ hay lo lắng cho phụ thân khó tính của chàng đâu."
Nói đến đây, ánh mắt nàng chợt dịu xuống, thoáng hiện lên một sự đồng cảm sâu sắc:
"Ta là thương cho tỷ tỷ chàng. Một mình tỷ ấy phải ở lại gồng gánh, chống đỡ cái tòa kim cương phật tháp Bạch gia to lớn đó thay cho chàng suốt bao nhiêu năm qua.
Chàng đi thì thảnh thơi tự do rồi, chứ tỷ ấy chắc chắn là mệt mỏi tâm can lắm. Số lễ vật xa xỉ kia, phần nhiều là ta cố tình chuẩn bị riêng cho tỷ ấy và đứa nữ nhi của tỷ ấy cả đấy. Nữ nhân với nhau, ta hiểu tỷ ấy cần những thứ gì để nở mày nở mặt."
Nghe thê tử tâm lý và hiểu chuyện đến vậy, người đàn ông siết nhẹ bàn tay nàng, bao nhiêu nút thắt và sự áy náy trong lòng bấy lâu nay đối với gia đình bỗng chốc như được cởi bỏ.
Người đàn ông nghe động, sắc mặt lập tức trầm xuống. Hắn quay sang nhìn thê tử, ánh mắt kiên định và trấn an, trầm giọng bảo:
"Nàng hãy ở yên trong xe với hai con, đóng chặt cửa lại. Bên ngoài cứ để ta lo!"
Dứt lời, hắn một tay đẩy phăng cửa xe, thân hình vạm vỡ như tháp sắt vững vàng bước xuống. Bên ngoài, cảnh tượng đã vô cùng hỗn loạn. Tiếng đao kiếm ma sát kịch liệt, tiếng thét kinh hoàng của vài phu xe yếu thế vang lên nghe gợn người. Gió cuốn cát bụi mịt mù hòa lẫn với mùi máu tanh bắt đầu lan tỏa.
Một tên cướp mắt ti hí vừa chém gục một tên hộ vệ, liếc thấy hắn bước xuống liền gầm lên một tiếng, vác thanh đại đao bén ngót lao thẳng tới, phạt một đường ngang hông định chẻ đôi người hắn.
Hắn không hề né tránh, hít sâu một hơi, vận dụng khí công. Nội lực thâm hậu nháy mắt lưu chuyển khắp toàn thân, làm tà áo dài căng phồng lên, rách toạc vài đường bên gấu áo. Ngay khi lưỡi đao lạnh lẽo chỉ còn cách sườn gang tấc, hắn nghiêng mình né nhẹ, đồng thời tay phải co lại thành trảo, nhanh như chớp giật chộp lấy cổ tay tên cướp, dùng lực bẻ ngược một cái.
Rắc!
Tiếng xương cổ tay gãy giòn rụm vang lên, thanh đại đao rời tay rơi xuống. Không để đối phương kịp hét lên, hắn vung một quyền thẳng vào ngực hắn, kình lực bạo liệt đánh bay tên cướp văng xa mấy trượng, đập rầm vào vách đá, bất động.
Vừa gia nhập chiến cục, hắn lập tức thế như chẻ tre, bước chân uyển chuyển nhưng mỗi bước nện xuống đất đều khiến sỏi đá văng tung tóe. Từng quyền từng cước tung ra dũng mãnh, điên cuồng như mãnh hổ xuất sơn. Ba tên cướp khác thấy đồng bọn chết thảm liền vây quanh, ba thanh trường kiếm đồng loạt đâm tới tạo thành một lưới kiếm dày đặc.
Hắn quát lớn một tiếng, âm thanh như tiếng hổ gầm làm màng nhĩ tụi cướp ong ong. Hắn xoay người đá một cước vòng giò cực mạnh, hộ thể kình phong thấu xương quật gãy đôi hai thanh trường kiếm, dư lực của cú đá đá văng tên cướp chính diện lệch cả quai hàm.
Cùng lúc đó, hai tên còn lại chưa kịp định thần, hắn đã áp sát, hai tay hóa thành hai nắm đấm thép liên tiếp giáng xuống.
Một quyền móc ngược từ dưới lên trúng cằm tên bên trái, nghe tiếng răng rắc vỡ vụn; một quyền sấm sét từ trên bổ xuống đỉnh đầu tên bên phải, khiến hắn ngã gục ngay tại chỗ, máu mũi máu mồm thi nhau tuôn ra.
Nắm đấm mang theo kình phong của hắn đi đến đâu là máu tươi bắn tóe đến đó, đánh văng khí giới, giết lui không biết bao nhiêu tên cướp đang liều mạng lao vào như thiêu thân. Chỉ trong vòng chưa đầy một nén nhang, hơn mười tên cướp sừng sỏ đã nằm la liệt dưới chân hắn.
Trong lúc giao thủ kịch liệt với tên thủ lĩnh cuối cùng — kẻ đang cầm đôi đoản đao điên cuồng chém loạn nhằm mở đường máu tháo chạy — ánh mắt sắc bén của hắn bỗng quét qua cánh tay gầy guộc của vài tên đang nằm rên rỉ dưới đất. Do lớp áo ngoài bị kình lực của hắn đánh rách tả tơi, lộ ra da thịt bên trong, hắn chuẩn xác nhìn thấy nơi cổ tay tụi chúng đều có xăm một dấu ấn hình đầu sói xanh hung tợn, nhe răng máu đầy gớm ghiếc.
Đôi lông mày hắn nhíu chặt lại, dồn toàn bộ nội lực vào lòng bàn tay, hóa quyền thành chưởng đánh thẳng một đòn "Mãnh Hổ Hạ Sơn" vào chính giữa ngực tên thủ lĩnh, khiến hắn hộc máu bay ngược ra sau. Trong đầu hắn lập tức lóe lên một cái tên, thầm đoán ra lai lịch của đám người này:
"Dấu ấn đầu sói... Là người của Dã Lang Bang!"
Từng cái xác của đám cướp Dã Lang Bang được đám hộ vệ nhanh chóng kéo đến, chất cao như núi giữa bãi đá trống bên lề đường quan đạo. Một bình dầu hỏa lớn được tưới thẳng từ trên xuống, ngọn lửa hung tàn lập tức bén vào, bùng lên cháy dữ dội.
Lửa hoả thiêu ngùn ngụt đỏ rực một góc trời chiều, khói đen cuồn cuộn bốc lên kèm theo mùi khét lẹt nồng nặc, bay theo chiều gió. Ngửi thấy thứ mùi quỷ dị ấy, hai đứa nhỏ ngồi bên trong xe ngựa vội vàng nhăn mặt, đưa mấy ngón tay nhỏ nhắn lên bịt chặt lấy mũi của mình.
Người đàn ông sau khi giải quyết xong mối nguy hiểm bên ngoài liền vén rèm bước lên xe. Gương mặt sắc lạnh gột rửa sạch sát khí lúc giao tranh, vừa nhìn thấy bộ dạng đáng yêu của hai đứa trẻ, hắn liền bật cười thành tiếng.
Hắn ngồi xuống bên cạnh thê tử, bàn tay to lớn, thô ráp vừa dùng để đấm chết đám cướp lúc nãy giờ đây lại vô cùng nhu hòa, khẽ vuốt ve mái tóc của hai đứa con nhỏ để vỗ về, trấn an chúng. Vị phu nhân ấy mỉm cười dịu dàng, đón lấy chén trà nóng đưa cho phu quân, ánh mắt ngập tràn sự tin tưởng và hãnh diện.
Khung cảnh gia đình bốn người quây quần ấm cúng, đầy ắp tình thương bên trong khoang xe tiện nghi, so với ngọn lửa trại từ đống xác người đang cháy bừng bừng dữ dội ngoài kia, quả là một sự tương phản kỳ lạ, nhưng lại vô cùng ấm áp và an lòng.
Nghe phu quân trầm giọng nói ra ba chữ "Dã Lang Bang", thê tử hắn không hề tỏ ra sợ hãi.
Nàng khẽ tựa lưng vào thành ghế nệm êm ái, đưa tay vén nhẹ rèm che nhìn đống xác cướp đang bén lửa đùng đùng ngoài cửa sổ, rồi buông một tiếng thở dài thườn thượt, giọng điệu vừa cảm thán vừa mang vài phần giễu cợt:
"Haizz... Có những người thật biết làm nền cho người khác tỏa sáng mà."
Nàng quay sang nhìn phu quân, ánh mắt lộ rõ vẻ trêu chọc nhưng cũng đầy ý vị sâu xa:
"Đám người Dã Lang Bang này thật là có lòng. Chàng vừa mới lo lắng chuyến này về quê mở phân đường chưa đủ danh tiếng, chưa đủ vẻ vang để diện kiến lão gia tử, bọn chúng liền vội vàng chạy tới, tự dùng mạng của mình để làm đá lót đường, giúp Phó đường chủ Mãnh Hổ Đường chàng lập uy ngay trên bờ cõi Mạch Hương Trấn. Đúng là buồn ngủ lại gặp chiếu man."
Người đàn ông nghe thê tử trêu đùa như vậy thì bao nhiêu sát khí bừng bừng lúc nãy liền tan biến sạch sẽ. Hắn chỉ biết dở khóc dở cười lắc đầu, cúi xuống ôm hai đứa nhỏ vào lòng, không khí trong xe lại một lần nữa trở nên hòa hợp, ấm áp vô cùng.
Bạch Linh Nhi không biết nghe ngóng được tin tức từ đâu rằng vị Tam cửu cửu hành tẩu giang hồ nhiều năm của mình sắp trở về. Vốn tính tình còn chút hoạt bát, nàng mừng rỡ ra mặt, lập tức nhấc váy chạy thẳng đến viện của mẫu thân để hỏi thăm thực hư.
Thế nhưng, ngay khi vừa bước qua cửa phòng, niềm vui sướng trên mặt nàng bỗng chốc cứng đờ. Đập vào mắt nàng là dáng vẻ nghiêm túc đến đáng sợ của Bạch phu nhân. Bà đang ngồi bên bàn trang điểm, sắc mặt trầm lặng như nước, đôi mắt phượng sắc bén khẽ quét qua đứa con gái đang thở hổn hển vì chạy vội.
Bạch phu nhân đặt chiếc lược ngà xuống bàn phát ra một tiếng cạch khô khốc, cái nhìn lạnh lùng của bà khiến Bạch Linh Nhi không tự chủ được mà rùng mình một cái, đứng nép sang một bên.
Bà nhìn chăm chú vào gương mặt còn chưa kịp thu lại nụ cười của con gái, cất giọng trầm thấp, nghiêm nghị đầy răn đe:
"Con tuy không phải là tiểu thư quan gia đài các, nhưng dẫu sao cũng xuất thân thanh lưu, dòng dõi võ đạo lâu đời. Gặp chút chuyện nhỏ đã vội vàng hấp tấp, vui buồn đều hiển hiện hết lên trên mặt như thế, còn ra thể thống gì nữa?"
Thấy con gái cúi đầu không dám ho he, Bạch phu nhân mới thu lại ánh mắt, nhàn nhạt nói tiếp:
"Chuyện Tam cửu cửu của con trở về lần này, thảy đều do một tay ta sắp xếp ổn thỏa. Con biết chuyện thì biết vậy thôi, tuyệt đối đừng có nhiều lời, léng phéng đến trước mặt gia gia con mà bàn tán.
Ông cụ tính khí thất thường, tránh để ông ấy tức giận rồi người phải đứng ra thu dọn tàn cuộc, chịu phiền phức lại là ta."
Nói đoạn, bà phất tay áo rộng, ra lệnh một cách dứt khoát:
"Biết rồi thì lui về viện của mình đi, đóng cửa mà chuyên tâm tu luyện. Đừng suốt ngày chạy lung tung nghe ngóng mấy chuyện bao đồng này nữa."
Bạch Linh Nhi nghe vậy, trong lòng dù có trăm ngàn câu hỏi và sự tủi thân nhưng trước uy nghiêm của mẫu thân, nàng cũng chỉ biết ngoan ngoãn hành lễ rồi lặng lẽ lui ra ngoài.
Bạch Linh Nhi vừa lui ra ngoài không lâu, căn phòng trang điểm của Bạch phu nhân lại trở về vẻ yên tĩnh đến ngột ngạt. Bà vẫn ngồi đó, hàng chân mày khẽ cau lại như đang tính toán điều gì.
Đúng lúc này, từ phía cửa sau, vị lão ma ma thân cận đột ngột bước vào với dáng vẻ hớt hải, trên tay nâng một ống tre nhỏ xíu vừa mới tháo ra từ chân chim bồ câu đưa tin. Gương mặt già nua của ma ma tái mét, bước chân có phần run rẩy tiến lại gần, quỳ sụp xuống bên cạnh bàn trang điểm, run giọng bẩm báo. Chỉ khẽ lắc đầu.
Bạch phu nhân thấy vậy, động tác vuốt ve chiếc trâm ngọc khựng lại giữa chừng. Bà giật lấy mảnh giấy nhỏ cuộn tròn bên trong ống tre từ tay lão ma ma, nhanh chóng mở ra đọc.
Vẻ hòa nhã, ung dung tự tại thường ngày biến mất sạch sẽ, thay vào đó là sự vặn vẹo đầy độc địa.
Rầm!
Bà đập mạnh tay xuống mặt bàn gỗ trắc, khiến mấy hộp phấn son và gương đồng nảy lên, phát ra tiếng động chói tai. Bạch phu nhân lập tức đứng bật dậy, đôi mắt trợn trừng, nghiến răng nghiến lợi quát lên:
Cơn thịnh nộ đột ngột của chủ tử khiến lão ma ma sợ tới mức cúi gằm mặt xuống sàn nhà, không dám thở mạnh.
Bạch phu nhân sau khi trút cơn lôi đình thì lồng ngực vẫn còn phập phồng kịch liệt. Bà hít một hơi thật sâu để cưỡng ép bản thân bình tĩnh lại, ánh mắt sắc lẹm như dao găm dời từ đống giấy vụn dưới đất sang vị lão ma ma đang quỳ run rẩy.
Bà chậm rãi ngồi xuống ghế, thanh âm đã thu lại vẻ gầm rú nhưng lại mang theo luồng khí lạnh thấu xương:
"Đứng lên đi. Chuyện ta nhờ ngươi đi mật báo, hỏi thăm cặn kẽ về lai lịch gia đình của đứa tam đệ kia... rốt cuộc đến đâu rồi?"
Lão ma ma nghe vậy như trút được gánh nặng, lồm cồm bò dậy, hai tay đan vào nhau trước bụng, cung kính cúi đầu bẩm báo:
"Bẩm phu nhân, Nương tử của Tam công tử họ Ninh, tên gọi Ninh Huân Nhi. Thân thế của người phụ nữ này không hề tầm thường, bà ấy chính là đích nữ xuất thân từ dòng chính Ninh gia của Nhu Kiếm Các tại Tĩnh Sa Châu."
Nghe đến bốn chữ "Nhu Kiếm Các", hàng chân mày của Bạch phu nhân khẽ giật nảy một cái. Đó là một tông môn kiếm đạo danh tiếng lẫy lừng phương xa, so với Bạch gia ở cái trấn nhỏ này thì đúng là đại thụ so với cỏ dại.
Lão ma ma liếc nhìn sắc mặt chủ tử, bấm bụng nói tiếp:
"Năm xưa, Tam công tử trong lúc hành tẩu giang hồ đã vô tình cứu mạng được Ninh tiểu thư. Hai người vừa gặp đã nhất kiến chung tình. Để rước được nàng ta về dinh, Tam công tử khi ấy đã phải dùng đến đại giá, sính lễ cực kỳ long trọng cùng thành ý mười phần mới lay động được Ninh gia.
Vị cô nương này không chỉ là một cao thủ kiếm đạo thâm tàng bất lộ, mà còn cực kỳ sắc sảo trong việc quản xuyến nhà cửa, đối nhân xử thế vô cùng chu toàn. Nghe nói, Tam công tử có thể thuận buồm xuôi gió leo lên được vị trí Phó đường chủ Mãnh Hổ Đường như ngày hôm nay, có đến một nửa công lao là nhờ vào sự phò tá và chỗ dựa từ bà ấy."
Bạch phu nhân nghe đến đây thì khẽ cười khẩy một tiếng:
"Còn con cái của bọn họ thì sao?"
Lão ma ma lập tức thấp giọng đáp lời:
"Dạ, Ninh phu nhân đã sinh cho Tam công tử hai người con, một trai một gái. Trưởng tử tên là Bạch Thuần, năm nay vừa vặn mười tuổi, nghe đồn tư chất rất khá. Còn tiểu nữ nhi tên là Bạch Ninh Hinh, năm nay mới lên bốn tuổi. Chuyến này bọn họ mang theo cả hai đứa nhỏ cùng về Mạch Hương Trấn, rõ ràng là muốn dùng tôn tử để lấy lòng lão gia tử."
Lão ma ma thoáng nhìn nét mặt đăm chiêu của Bạch phu nhân, liền cẩn trọng thọc tay vào trong chéo áo rộng, cung kính lấy ra hai tấm bái thiếp đỏ rực, viền chỉ vàng tinh xảo dâng lên:
"Phu nhân, đây là hai tấm bái thiếp vừa được gửi tới phủ sáng nay. Một tấm là của Kính Châu tri phủ phu nhân, mời người đến phủ dự yến xem hí kịch vào cuối tháng. Còn tấm thứ hai này... là bái thiếp của Cự gia. Đích thân quản gia Cự gia gửi đến ạ."
Nghe đến hai chữ "Cự gia", Bạch phu nhân khẽ biến sắc. Bà giật lấy tấm thiếp thứ hai, lật xem dấu triện vặn vẹo hình cự linh thần ở góc thiếp mà trong lòng không khỏi hốt hoảng. Sự kinh ngạc lướt nhanh qua mắt, nhưng ngay sau đó, bà lại bật cười thành tiếng, nụ cười mang theo vẻ bất ngờ xen lẫn chút tính toán thâm sâu:
"Tổ trạch của Cự gia vốn nằm ở Cự Linh Trấn, thuộc quyền quản hạt của cửu trấn Kính Châu chúng ta. Nhưng dòng chính của bọn họ trước nay đều định cư ở kinh thành, hưởng vinh hoa phú quý ngay dưới chân thiên tử, căn bản chẳng thèm ngó ngàng gì đến cái chốn thâm sơn cùng cốc này. Sao đột nhiên lúc này bọn họ lại hạ mình gửi thiếp mời cho một gia tộc ở trấn nhỏ như Bạch gia?"
Bà khép mạnh tấm bái thiếp lại, ánh mắt lóe lên tia nhìn sắc bén, quay sang hạ lệnh cho lão ma ma:
"Chuyện này chắc chắn có ẩn tình. Ngươi lập tức dùng tai mắt bên ngoài đi điều tra kỹ lưỡng cho ta. Xem thử biến động gì ở kinh thành hay có đại sự gì liên quan đến Cự gia mà khiến bọn họ đột ngột động thân trở về tổ trạch vào thời điểm này!"