Hôm nay, cuối cùng đã đến ngày xuất chinh.
Dù đã chuẩn bị tinh thần nhưng Kỳ Nhi cả đêm vẫn khóc sưng cả mắt. Dẫu biết cha sẽ ra trận nhưng trong lòng thấy đau quặn. Cả đêm nàng cùng cha ngồi tâm sự ôn lại những chuyện gần xa trong mười năm nay.
“Cha, cho con hỏi cha câu này. Tại sao mẹ mất đã lâu như vậy mà cha không chịu nạp thiếp.”
Cha nàng đặt chén trà xuống bàn, mắt buồn hẳn đi:
“Vì không ai có thể thay thế được mẹ con. Có lẽ tình ái nam nữ trong lòng ta đã chết từ lâu.”
Kỳ Nhi nghe vậy xúc động muốn chảy nước mắt, hai gò má đã đỏ lựng, đang nhìn cha mình bằng cặp mắt ướt rượi, nàng ôm lấy cha mình.
“Cha, con thật sự không muốn xa cha một chút nào hết.”
Kỳ Nhi không nỡ xa cha nàng, khi tựa đầu vào người cha. Nghĩ lại, Kỳ Nhi luôn muốn có cảm giác mình là một đứa con gái nhỏ. Muốn có cảm giác yếu đuối để được che chở.
“Nha đầu ngốc này! Kìa, con đã lớn như vậy, ra dáng một thiếu nữ rồi mà còn biết làm nũng sao?”
Lư Tuấn Nghĩa cũng không kiềm lòng được, mà ôm siết lấy nàng như thể cô là một bé con vừa trải qua cơn ác mộng khủng khiếp. Kỳ Nhi thì mười phần hưởng thụ, nàng áp má vào tảng ngực rộng của cha, hai mắt nhắm nghiền lại cứ muốn thiếp đi thật lâu. Nàng giống như về tới thời điểm lúc nhỏ, được trở về hình ảnh của một thiếu nữ đáng yêu, thích được làm nũng.
Đây là cha nàng. Lư Tuấn Nghĩa. Người cha mà nàng hết mừng sùng kính.
Đây là cha nàng. Nàng nhất định sẽ sống chết vì ông ấy.
Sáng sớm hôm sau, Kỳ Nhi lại là người thức dậy sớm nhất Lư phủ, nàng xắn tay áo xuống bếp để chuẩn bị sẵn một bữa cơm tiễn cha, đồng thời cùng phụ cha mặc áo giáp.
“Ta đi chinh chiến. Con nhớ ở phải nghe lời nhũ mẫu. Cùng Vương tổng quản chăm sóc nhà cửa và gia nhân đó nhé.”
Đứng trước cổng Lư phủ, Kỳ Nhi cùng với nhũ mẫu, Yến Thanh, Vương tổng quản và các gia nhân đứng tiễn biệt chủ nhân của họ.
“Cha! Cha gắng bảo trọng. Con hứa ở nhà sẽ vâng lời nhũ mẫu.”
“Lão gia đừng lo lắng. Chúng tôi ở nhà sẽ chăm lo cho Lư phủ và tiểu thư.”
Người đàn ông râu bạc mà mọi người hay gọi là Vương tổng quản vái dài. Đây là người gia nhân mà Lư Tuấn Nghĩa mến yêu nhất nên ông yên tâm giao quyền cho coi sóc cả nhà.
Lư Tuấn Nghĩa lên ngựa, cúi chào mọi người và con gái lần cuối rồi cùng các thân binh lên đường tới vĩ trường của đại doanh phủ để điểm binh. Khi bóng của người cha đã khuất nơi cuối con đường, cũng là lúc Kỳ Nhi chạy bổ vào khuê phòng, để lấy những đồ đạc mà nàng đã chuẩn bị từ lâu.
“Tiểu thư! Mong tiểu thư hãy nghĩ lại. Đây không phải là chuyện đùa đâu. Nếu lộ ra, lão gia sẽ bị liên luỵ. Đây là tội chết đó.”
Yến Thanh bạo gan đặt chân vào khuê phòng của Lư Linh Kỳ. Chàng quỳ suốt dưới đất mà hết mực van xin. Chàng ta lúc này đã trưởng thành, đã một thiếu niên anh tuấn mê người.
“Tiểu ất ca. Ý muội đã quyết. Muội đã mong chờ cái ngày cùng được cha tung hoành nơi sa trường đã lâu. Đó là nơi mà muội phải đến.”
Tiểu ất muốn khóc ngất ra. Vốn dĩ chàng ta đã coi Kỳ Nhi như muội tử của mình nên đang hết mực khuyên can, đến mức doạ sẽ cho Lư viên ngoại biết chuyện tày trời này.
“Tiểu Ất ca. Ca nhìn xem muội có xinh không nè.”
Nói xong, Kỳ Nhi đứng lên khỏi bàn trang điểm, xoay người tiến thẳng tới Yến Thanh, lúc này trên người nàng đã là diện bộ đồng phục màu đỏ của bộ binh đại Tống, tóc búi gọn gàng theo kiểu của nam nhân.
“Tiểu thư! Mặt của người!”
Tiểu ất há hốc mồm. Bật ngửa ra sau, khi đập vào mắt chàng, là một cái bớt xanh kỳ dị trên gò má phải của Kỳ Nhi.
“Xấu lắm phải không?” Kỳ Nhi che miệng cười.
“Đây là muội mua từ mấy tay lang trung giang hồ. Mực bôi trên mặt này rất khó rửa trôi. Gương mặt của muội quá nổi bật nên khó có thể lừa người được. Nên giờ có thêm một cái bớt xanh doạ người cũng đủ để họ nhìn muội chưa được ba khắc thì đã quay mặt đi chỗ khác rồi.”
Kỳ Nhi cười lên thích thú, Tiểu ất thấy vậy cũng gật gù, đúng là giờ trên mặt của Kỳ Nhi đã có thêm một cái bớt xanh chiếm một nửa gò má phải, bao quanh cả mắt phải. Thật sự đã huỷ đi phần nào vẻ đẹp trời ban của nàng.
Về cử chỉ của nàng để đóng giả làm nam nhân, thì Tiểu Ất không cần phải lo lắng do Kỳ Nhi do từ nhỏ đã đánh bạn với đám thanh niên trong xóm. Nhìn cách ăn nói và đi đứng của nàng thì không ai có thể nói là tiểu thư khuê các được.
“Vậy còn giọng nói? Giọng của tiểu thư dù hơi trầm và sâu nhưng vẫn là giọng của nữ nhi.”
“Muội có mua thuốc uống. Khi nào ngừng uống sẽ lấy lại được giọng cũ.”
Đột nhiên đôi mắt to đen và ít nháy của nàng soi chiếu vào Yến Thanh, làm chàng chột dạ.
Giọng của Kỳ Nhi đã trở nên nghiêm túc bội phần:
“Nhìn thấy phụ thân đi vào chốn hiểm nguy không có ngày về. Muội không đành lòng, nên muội mới quyết đi cùng cha. Đây không phải là vì công danh sự nghiệp gì hết. Muội làm điều này là vì cha. Đôi khi muội hận mình không phải là nam nhi, hận mình không phải là một trang nam tử để gánh vác gánh nặng với cha. Muội biết Tiểu ất ca cũng đã coi cha muội như cha ruột. Tiểu ất ca huynh có thể hiểu cho muội được không.”
Không rõ có phải do ánh mắt nóng rực như thiêu đốt kia, ánh mắt luôn tạo cảm hứng mãnh liệt cho người đối diện đã làm Yến Thanh xiêu lòng. Chàng ta thở dài, đôi mắt ầng ậng nước. Chỉ đành thuận theo ý trời thôi. Chàng chắp tay, giọng rầu rầu cam chịu.
“Tiểu thư cẩn thận. Tiểu ất chỉ hận không thể đi cùng tiểu thư và lão gia được.”
Kỳ Nhi mỉm cười, nắm lấy tay của Tiểu Ất:
“Ca, Muội cảm ơn huynh đã hiểu cho muội.”
o0o
Lại nói về Lư Tuấn Nghĩa, thật sự là mấy ngày này công việc của ông cực kì bận rộn, ông ta đi đi lại lại khắp phủ Đại Danh mà chọn lựa tráng đinh, vừa phải cùng các bộ hạ đi trưng thu quân lương, kiểm kê lại vũ khí. Đây là công việc cần dùng đầu óc chứ không phải cơ bắp là xong.
Bắt đầu từ khi nhận được thánh chỉ của Triều đình, ông đã đi ban quân lệnh chiêu mộ tân binh ở các thôn trấn quanh phủ Đại Danh, nhiều ngày nay đã chiêu mộ được không ít thanh niên lẫn tráng niên. Cuối cùng lăn đi lộn lại thì Lưu Tuấn Nghĩa cũng từ phủ đại danh mà chọn ra được gần năm ngàn nam tử cường tráng. Tất nhiên lúc này chỉ ghi danh rồi để đó mà chưa huấn luyện quân sự gì.
Bình thường, nếu chiêu mộ tân binh, sẽ phải thu xếp tân binh trong một doanh độc lập để huấn luyện, nhưng nay chiến sự khẩn cấp, cũng không thể đem tân binh đi huấn luyện được, mà chỉ có thể sáp nhập cùng những binh lính cũ đã trải qua luyện tập.
Đứng trên đài điểm binh của phủ Đại Danh, quan tri phủ của phủ Đại Danh đứng hàng đầu đang ngắm nhìn từng nhóm tân binh, liền vuốt râu mỉm cười hài lòng.
Đầu hàng là các võ tướng thống lãnh cùng tham tướng, phó tướng. Hôm nay, họ tập trung nơi đây để làm lễ tế cờ, xuất binh bắc phạt, tiến đánh Yên Vân thập lục châu.
Mọi công việc chuẩn bị đều được tiến hành từ sớm. Tất cả mọi người đều hồi hộp chờ đợi tri phủ đại nhân cùng các võ tướng điểm binh.
Đầu giờ Ngọ, hai hàng võ tướng lục tục kéo đến, xếp hàng dưới chân đài. Lúc này, viên tri phủ mới truyền chỉ nói lớn: “Tất cả quỳ xuống. Nghe thánh chỉ !”
Phía dưới, các võ tướng cùng binh sĩ hô vang: “Ngô Hoàng vạn tuế… vạn tuế… vạn vạn tuế….”
Viên tri phủ bắt đầu giở chiếu thư, ưỡn mình đọc lớn: “Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết, Trẫm nhờ trời cao chiếu cố đã trải hơn mười năm tại ngôi vị Thiên tử. Trong mấy năm này, những việc Trẫm làm dù ít nhiều chưa thể so sánh với võ công của Thái Tổ. Thế nhưng, Trẫm tự tin mà nói, mấy năm qua, dưới sự trị vì, nơi nơi quốc thái dân an.
Việc lo lắng hiện nay của Trẫm chính là hoàn thành tâm nguyện cả đời của Thái Tổ. Hai đời Thái Tổ Thái Tông ra sức điều quân chiếm lại Yên Vân thập lục châu nhưng bất thành.
Gần đây, Trẫm có được tin tức xác đáng rằng người Khiết Đan đang lâm vào cảnh binh đao, quốc lực suy yếu. Các phiên thuộc của chúng đều đang rục rịch đòi quật khởi. Bởi thế nên tình thế của bọn phiên di đó là: Trong có nội ưu, ngoài có ngoại loạn. Lại nữa, xứ phiên di đó xưa nay đều hống hách và khinh lờn Thiên uy. Nay thấy khí số của chúng đã tận đến hồi lung lay sắp đổ, Trẫm quyết định cất binh thảo phạt. Trước là để đạp chúng dưới gót chân Thiên triều, làm gương cho các nước khác. Sau là để đoạt lại Yên Vân Thập Lục Châu để làm yên lòng đức Thái Tổ, Thái Tông và các vị tiên đế.
Trẫm quyết định ban soái kỳ, kiếm lệnh cùng ấn tín cho Đồng Xu Mật. Sắc phong cho làm Tiên Phong Đại Nguyên soái, thống lĩnh sáu vạn cấm quân tinh nhuệ. Nay lệnh cho hai mươi châu huyện phương Bắc lập tức chiêu mộ binh sĩ. Các khanh hãy thay Trẫm dạy cho chúng biết thế nào là uy quyền và cơn thịnh nộ của Thiên tử. Khâm thử!”
Lúc này cũng vừa khéo chính Ngọ. Một hồi trống lệnh vang lên. các võ tướng cùng binh sĩ cùng lại hô vang:
“Ngô Hoàng vạn tuế… vạn tuế… vạn vạn tuế….”
Viên tri phủ lại nói to:
“Mời Chánh tiên phong Lư Tuấn Nghĩa lên đài bái tướng.”.
Lư Tuấn Nghĩa chắp tay dạ ran rồi bước từng bước vững chãi lên đài. Hôm nay, ông trông thật oai phong trong tướng bào, đầu đội hổ quan, khác hẳn dáng vẻ nho nhã ngày thường. Đến trước mặt viên Thái Thú kia, ông quỳ xuống hành lễ.
Viên Tri phủ lại nói:
“Mời Lư tiên phong tiếp chỉ. Cùng soái kỳ, kiếm lệnh và binh phù.”
“Ty chức lĩnh chỉ và quyết không làm nhục mệnh.”
Từng món tín vật đại biểu cho quyền lực của một vị chánh tướng được viên tri phủ tận tay giao cho Lư Tuấn Nghĩa. Tay cầm binh phù trong tay, giờ Lư Tuấn Nghĩa mới thực sự có quyền ra lệnh cho năm ngàn con người ở dưới đài điểm binh.
Phải biết rằng địa vị của võ tướng đời Tống rất thấp, cái gọi là Đô Thống lãnh binh một phủ huyện cũng chỉ là con chó săn dưới tay đốc phủ địa phương mà thôi. Địa vị của tướng quân dù chỉ huy hơn một vạn quân vẫn không bằng địa vị của một Tri huyện thất phẩm. Lư Tuấn Nghĩa cũng chỉ là một viên tướng cấp thấp nhỏ nhoi, thực ra cũng không đáng gì lắm.
Lư Tuấn Nghĩa lại đứng lên. Ông hướng xuống dưới đài điểm binh để nói vài lời trước mặt ba quân, ủy lạo tinh thần binh sĩ, thể hiện uy nghiêm của một vị chánh tướng.
Ông nói cũng nhiều lắm. Nào là người nam nhi là phải biết xả thân vì trung nghĩa, vì Thiên tử. Nào là sứ mệnh chiếm lại Yên Vân Thập Lục Châu là một sứ mạng vinh quang, công lớn lưu danh nghìn thu.
Buổi lễ tế cờ bái tướng đến đây cũng kết thúc với tiếng hô vang của quân sĩ. Các lão binh thì thể hiện nhiệt huyết của mình bằng cách dậm trường thương trên nền đất hoặc gõ cương đao vào mộc thuẫn. Các tân binh cũng lây nhiễm mà làm theo.
Hoà cùng đám người cuồng loạn bên dưới, đôi mắt đẹp của Kỳ Nhi bất động, đã hơi đẫm lệ.
“Cha, cha oai phong quá.”
Lúc này nàng đã hoàn toàn hoá thân thành một người lính Đại tống, áo quần màu đỏ, ủng cao, khinh giáp che ngực, đầu đội mũ rộng vành, tay cầm trường thương. Với dáng người cao ráo khỏe khoắn của mình, kèm thêm cái bớt xanh đã “tàn phá” dung nhan, không ai nhận ra nàng là nữ tử cả.
Đoàn quân của đệ thất doanh phủ Đại Danh bắt đầu chuyến xuất quân. Họ kéo đi, cờ xí đỏ rực trời, trống chiêng vang dậy đất. Càng đi càng thấy nhiều đoàn quân tụ hội, đây cũng là các doanh quân từ các địa phương khác cùng tập hợp với cấm quân của triều đình. Phút chốc đoàn quân bắc tiến đã trải dài hàng trăm dặm. Hai mươi vạn đại quân khí thế ngút trời, “thiên hạ.” chấn động. Hành quân đi bộ cứ mỗi ngày bốn mươi lăm dặm lại đóng trại nghỉ ngơi, sau hai mươi ngày trời, đoàn người ngựa mới đến gần biên giới nước Liêu, tiến vào Bắc bộ Hà Bắc cũng chính là mười sáu châu Yên.
Khởi đầu của Đại Quân Bắc Phạt khá thuận lợi khi nhanh chóng đánh chiếm được ba châu Doanh, Mạc, Bá, các châu này ba mặt giáp Đại Tống, quân Khiết Đan lúc này còn chẳng kịp phòng bị đã bị chiếm mất.
Khó khăn lớn nhất đã bắt đầu từ lúc này. Đối diện đại quân Tống bây giờ là thành Đàn Châu, một cửa ải hiểm yếu của nước Liêu. Thành ấy có con sông Lộ Thuỷ bao quanh, nơi ngã ba dòng chảy rất sâu. Sông Lộ Thủy ăn thẳng ra sông Vị Hà.
Toàn quân hạ trại, chia ra dựng hai đại doanh ở đằng Đông và đằng Tây. Đệ thất Doang của Lư Tuấn Nghĩa đóng ở vách phía Đông, cách thành Đàn Châu 20 dặm.
Tối hôm đó, Đồng Quán cho mời các bộ tướng đến bàn luận kế sách đánh địch.
Các chư tướng, phó tướng, lẫn Tiên phong đang đứng vây quanh một sa bàn, mô tả rõ núi non, sông suối và thảo nguyên đồng cỏ của mười sáu châu Yên Vân này. Trong cái biển người đó nổi bật hết thảy là chính là kẻ đang mặc bộ áo giáp rất tinh xảo, kẻ đang nắm quyền của Mười hai vạn đại quân, Đồng Quán, đỉnh đỉnh đại danh Đồng Xu mật.
Điểm thu hút nhất của hoạn quan Đồng Quán là chiếc cằm chẻ khác người. Gương mặt hơi vuông nhìn rất rắn rỏi, cương nghị, chững chạc, hơn nữa y còn có thân hình vạm vỡ của một kẻ giỏi võ nghệ nên trông rất đàn ông. Mặc dù là hoạn quan nhưng kỳ lạ là râu vẫn mọc ra từ cằm. Người ta đồn đoán rằng thời điểm tịnh thân khá muộn nên y vẫn giữ được một số đặc điểm của đàn ông
Đồng Quán lên tiếng trước:
“Chư vị, theo tin từ thám tử của ta truyền ra. Trong thành Đàn Châu, quan trấn thủ là Động Tiên thị lang dưới quyền có hắn 4 vạn quân thủ thành. Nghe tin triều đình cất đại quân đến đánh, tên Nam Viện Đại Vương cũng một mặt sai người báo tin cho các châu lân cận là Kế Châu, Bá Châu, Trác Châu, Hùng Châu để cùng cứu ứng. Nay quân Liêu chia bốn đường đón đánh quân ta, số lượng không dưới bảy vạn, ta cũng nên chia quân tiến đánh các ngả, hay nên đánh thẳng vào thành trì của chúng?”
Chiêm sự Thái Du liền đáp:
“Nếu chia quân tiến đánh các ngả thì sợ miền này đất rộng người thưa, đầu đuôi không tiếp ứng được nhau. Chi bằng cứ đánh thẳng vào thành trì của chúng rồi sau sẽ liệu. Nếu ta đánh mạnh bọn chúng chắc phải lui quân.”
Đồng Quán vuốt râu gật gù:
“Thái chiêm sự nói cũng có lý. Còn ai có ý kiến gì khác không?”
Tiên phong Lư Tuấn Nghĩa liền bước lên
“Ty chức nghĩ chúng ta nên giành quyền chủ động, ghìm và giam chân quân giặc tại thành Đàn Châu, nhưng chưa đủ sức để tiêu diệt chúng. Chúng ta không nên dốc toàn bộ sức lực đánh thành Đàn Chân, mà hãy “vây thành, diệt viện." chỉ để lại một bộ phận bao vây, còn tập trung phần lớn lực lượng tiêu diệt.”
Chiêm sự Thái Du lại không cho là đúng nói:
“Kế nghe thì rất hay, nhưng Lư tiên phong có nghĩ tới hay không, muốn tiêu diệt quân Liêu Tiếp viện phải cần tổ chức lực lượng, bố trí trận địa mai phục. Sẽ mất rất nhiều thời gian mà trong khi đó bốn lộ đại quân tiếp viện của quân Liêu thì đã lửa sém ngang mày rồi.”
Lưu Tuấn Nghĩa quả quyết nói:
“Quân sư, Ty chức cho là không nhanh như vậy đâu. Bốn lộ đại quân này sẽ tới rất gấp gáp, chắc chắn chưa chuẩn bị đầy đủ lương thảo và đồ quân nhu. Quân Liêu sẽ không tùy tiện phát động tấn công, Ty chức cho là cần ít nhất một tháng, bọn chúng mới có thể bắt đầu tấn công. Trong thời gian này chúng ta dư sức để nắm rõ từng địa thế hiểm yếu để cài quân mai phục. Còn 4 vạn quân ở thành Đàn Châu thì đã nằm gọn trong vòng vây, chúng ta không nên vội tiến công ngay mà chủ trương vây hãm, nhằm tiếp tục để chúng khốn đốn, kiệt sức hơn nữa, khi tiêu diệt được 4 lộ viện quân Liêu, chúng ta sẽ đánh được thành Đàn Châu dễ dàng.”
Con mắt của Thái Du lóe lên một tia sáng sắc lạnh khiếp người, quát to:
“Ngươi chỉ là một hạ cấp tiên phong sao lại nói lời xằng bậy. Nếu bốn lộ quân kia bốn tháng chưa đến, thì phải đợi bốn tháng sao? Ngươi làm tiên phong, đáng lẽ phải biết xung phong đi đầu làm gương, nay lại kiếm cớ bê trễ không tiến, có biết tội mình chưa?”
Lư Tuấn Nghĩa kiềm cơn giận, vội nói:
“Quân sư! Nhân mã chúng ta đang mệt mỏi giờ lại phải xung phong công thành, ngày mai lại phải đánh với 4 lộ quân thì sẽ tốn rất nhiều xương máu. Kế sách Ty chức chính là vì mục đích vẹn toàn. Chỉ cần chúng ta Nắm được nhược điểm này của tướng giặc, dựa vào địa thế núi, rừng hiểm trở, bố trí trận địa mai phục chặt chẽ, vững chắc, liên hoàn, đảm bảo đánh bại đạo viện binh chủ lực của giặc.”
Thái Du hét lớn:
“Nói tới nói lui rốt cục vẫn là trì hoãn tiến quân. Lư Tuấn Nghĩa, ngươi tìm mọi cách cản trở đến tột cùng là mục đích gì? Có phải muốn cho Đồng thừa tướng rơi vào cảnh bị Quan Gia khiển trách bê trễ việc quân, mà Lư Tuấn Nghĩa nhà ngươi được tiếng thơm giữa chốn ba quân không.”
Xung quanh liền im lặng như tờ, các tướng lĩnh dĩ nhiên thấy được điều hay trong kế sách của Lư tiên phong, nhưng họ đều ngại mở miệng bênh vực cho ông. Lư Tuấn Nghĩa thì chắp tay không nói gì, trong bụng đầy oán than, vì mình không thể đấu miệng lưỡi với Tên thư sinh này, nếu tiếp tục e chỉ chuốc lấy thiệt thòi. Đang toan rút lui thì bất ngờ thay, Đồng Quan lúc này lại gật đầu nói:
“Vậy thử xem, việc này liền do Lư Tuấn Nghĩa ngươi toàn quyền phụ trách.”
Lư Tuấn Nghĩa nghe vậy đột nhiên mừng rỡ nói:
“Xu tướng anh minh. Ty chức lĩnh mệnh.”
Sau khi các chư tướng lui về trại, trong lều của chủ soái chỉ còn lại Đồng Quán và Thái Du. Đồng Quán lúc này rót mời Thái Du một chén rượu:
“Thái lão đệ, ta biết đệ đang nghĩ gì. Đệ chớ lo, Lư Tuấn Nghĩa đó chỉ là một hạ cấp tiên phong. Đời nào mà hắn trèo lên được vị trí của lão đệ được?”
Thái Du uống cạn chén rượu rồi nói:
“Xu tướng. Hạ quan biết vậy…nhưng mà tên Lư Tuấn Nghĩa đó thật ngạo mạn. Và lại e rằng hắn sẽ chiếm hết công lao.”
“Lão đệ nhầm rồi. Mưu kế của hắn thì đã sao chứ? Chỉ huy ngàn vạn thiên binh là ta. Người báo công tới thánh thượng cũng là ta. Làm sao mà ta để người khác đoạt mất công lao chứ. Ta cũng đã có cách khống chế để hắn bớt ngạo khí đi rồi.”
Thái Du à lên một tiếng rồi cười nịnh:
“Xu tướng nói chí phải. Do hạ quan nóng vội quá nên hồ đồ.”
Sắc mặt Đồng Quán đột ngột trở nên thâm hiểm:
“Tên Lư Tuấn Nghĩa này là người có tài. Ta đã nhiều lần lôi kéo hắn về với phe ta, nhưng bất thành. Loại người không thức thời như hắn, sớm muộn gì cũng sẽ nếm trái đắng. Hừ hừ.”
Ngày hôm sau, y theo kế sách của Lư Tuấn Nghĩa, đại quân Tống không tiến hành công thành ngay mà chỉ tiến hành bao vây thành, vây thật chặt thật ngặt nghèo, đồng thời tích cực đi thu gom lương thảo chuẩn bị cho đại chiến.
Thái Thú Đàn Châu cũng không chịu ngồi yên, hắn đốc xuất từng đội quân ra khỏi thành giao chiến với quân Tống. Đây đều là những trận đánh có quy mô nhỏ, đệ thất doanh của Lư tiên phong hiển nhiên đã có cơ hội để lập công.