Mặt trời Nam Sơn mọc trơ khấc giữa vầng sương muối nhạt nhòa, trông hệt như một lòng đỏ trứng vịt ung bị nắng hạn nung cho rữa nát. Cái nóng hầm hập của tháng Ba ập xuống bãi bồi Cồn Xác Trôi từ lúc gà còn chưa gáy dứt tiếng, kéo theo uế khí quánh đặc từ những hũ mắm khú ngoài sân chòi con Cẩm rò rỉ, không tài nào thoát đi được giữa long mạch đứng.
Âm thanh hũ sành nện vỡ toác rạch đôi không gian tĩnh mịch đầu cồn, miểng văng tung tóe. Thằng Đực, thằng Khoai cùng đám thanh niên vạn đò tay lăm lăm gậy gộc, đòn gánh củi tràm hoắm hét kéo tới bao vây căn chòi lá dừa mục nát. Tụi nó vừa chửi bới vừa ra sức đạp vỡ những hũ mắm đặt xếp lớp ngoài sân, để mặc cho thứ dịch mắm cá lóc thối rữa trộn lẫn sình non đen kịt tràn ra loét choét, bốc mùi khắm lặm tanh tao nồng nặc.
Lão quản sự đứng chống cây gậy tre ngà trên con dốc nẻ, hai hốc mắt sâu hoắm hấp háy vệt gân máu đỏ loét, giọng lanh lảnh the thé rít lên qua kẽ răng thưa đờm:
"Tụi bây nện nát cái lu sành góc nhà cho tao! Cứ dông dài với con góa này, cái cồn có ngày chết sình hết ráo! Mày giấu xác chết thối dưới sàn chòi làm ô uế bến đò đúng không hả?"
Thầy Ba ngồi chồm hổm trên một gò mả lạng rợp bẹ chuối thối mục cách đó không xa, bấu chặt bàn tay phải vào chuôi dao phay sắt cùn giấu sau lưng quần, hai mắt nheo lại nhìn thấu cái tuồng kịch hai mặt của bầy phàm nhân. Lão khạc nhổ một vệt nước bọt chát ngầm xuống đất, khóe môi nhếch lên nụ cười châm biếm sâu cay.
Đám đông đang mượn cái mác đạo lý làng mạc, nhưng nhãn quan thực dụng của một gã thầy pháp giang hồ thừa hiểu cái bụng tụi nó nghĩ gì. Tụi nó chèn ép, quỵt nợ tiền mắm của con Cẩm suốt mùa hạn mặn, đêm đêm lại mò vào vách lá rách rình rập nhục thân góa phụ, giờ thấy điềm gở thì kéo nhau tới đòi đóng gông cướp lấy vựa ngải, vơ vét đem giấu dưới bến ngầm kiếm chác. Cái tâm địa phàm nhân xảo trá rốt cuộc còn thâm độc hơn thứ tà ngải chôn vùi dưới rốn bùn sâu.
"Thầy Ba! Ông ăn tiền vớt xác của xóm tôi rồi, giờ tính đứng trơ mắt ếch ra đó coi nó thả quỷ hại dân hả cha?" Thằng Đực quay sang quát lớn, mặt sạm dầu mỡ trộn mồ hôi phèn chua chát.
Lão Ba không ho he một lời, chậm rãi rút điếu thuốc rê tắt ngúm ra khỏi bờ môi khô khốc, mắt lão bất thần dịch chuyển góc nhìn hướng ra mé sông Mẹ.
Cùng khoảnh khắc đó, một sự quỷ dị ngập trời, một hiện tượng trái khuấy đến gai óc thình lình diễn ra ngoài bãi bồi. Cách căn chòi ba mươi sải chân, đám đàn bà con gái trong xóm đang đứng túm tụm vá lưới ngoài mé sông bỗng đồng loạt dừng bặt tiếng thoi tre lạch tạch. Không một ai lên tiếng, không một tiếng động sinh hoạt đời thường nào phát ra.
Mười mấy mạng đàn bà đồng loạt quẹo gập cổ sang bên trái, xương xúm xít vang lên những tiếng rắc rắc gãy lìa một cách rùng rợn, giống như những thớ sụn và khớp xương cổ bị một lực vô hình vặn gãy giòn rụm.
Hai hốc mắt của đám đàn bà trợn ngược lên trần tục, võng mạc không còn tròng đen mà bị kéo tuột qua bởi một lớp màng sáp trắng đục, dính bệt tanh tao hệt như màng mắt của lũ cá lóc chết sình trôi dạt ba ngày trên sóng phèn. Tụi nó đứng im phăng phắc như những hình nhân tạc bằng đất sét nung lỗi, nhưng thớ thịt vùng bụng dưới nương theo vạt áo bà ba rách nát lại phập phồng từng nhịp thở lục bục khô khốc.
"Mẹ nó... trễ rồi..." Lão Ba lầm bầm nơi cuống họng, đồng tử co rút lại khi ngửi thấy một mùi vị kinh tởm vừa trào dâng.
Thứ ngải độc này không thèm phát tác từ cái bao da người dưới sông, cũng không nổ ra từ lu mắm góc nhà con đàn bà góa, mà nó đã âm thầm bám rễ sâu vô ấm nước, miểng chén hằng ngày của cả cái bến vạn đò tự thuở nào.
Nằm chơ vơ trên chiếc bàn tre mục gãy chân kê sát mé bờ rạch, ấm trà quạo dùng chung của đám thanh niên và khách hớt tóc bến phà đang rỉ ra thứ nước chát đen kịt, dẻo quánh bất thường. Mỗi một hớp trà quạo được người dân ực vào cổ họng để lọc vị phèn chua chát hằng ngày, giờ đây đã bị pha tạp thứ dịch mủ sáp trắng mùi long não rò rỉ ra từ mạch nước ngầm nhiễm độc dưới gầm sàn chòi con Cẩm. Mầm ngải bùn mọc tóc đang âm thầm cày xới, bám rễ sâu vào tủy não của từng mạng người bên bến nước.
Đám trai tráng bỗng chốc ngưng bặt tiếng chửi đổng, tụi nó quay đầu nhìn nhau, hai bàn tay cầm gậy gộc bắt đầu run rẩy lẩy bẩy một cách hoang dại khi màng cá chết bắt đầu tràn lên che khuất nhãn quan.
Lão Ba lạnh lùng rút dao phay ra khỏi thắt lưng, thớ đất dưới kẽ chân lão rùng mình rạn nứt.
Sự tĩnh lặng gớm ghiếc ập xuống bến vạn đò Cồn Xác Trôi. Không một cơn gió nào đủ sức thổi tạt thứ uế khí lờm lợm đang bốc lên từ những hũ mắm vỡ.
Cách đó ba mươi sải chân, mười mấy người đàn bà con gái cứ đứng trân trân nhìn về phía bãi bồi, hai hốc mắt bị kéo tuột qua bởi lớp màng sáp trắng đục như mắt cá lóc chết sình trôi dạt. Bụng dưới của tụi nó phập phồng những nhịp thở lục bục khô khốc.
Cây đòn gánh tràm tuột khỏi tay thằng Khoai rớt tõm xuống sình, rạch toạc cái không gian đông đặc. Cặp mắt trắng dã của con vợ nhà nó vừa trừng ngược lên, quắc sang một bên, khóa chặt vào cái cổ họng đang nuốt khan của nó.
"Trời đất ơi... chết mẹ rồi... Quỷ! Quỷ nhập tràng tụi bây ơi!"
Thằng Khoai rống lên một tiếng xé họng, hai cái chân đất quíu lại rồi vắt lên cổ mà chạy. Tiếng thét của nó như giọt phèn chua rỏ thẳng vào chảo nước sôi. Đám thanh niên bỗng chốc vỡ trận. Tụi nó vứt mẹ hết gậy gộc, dao rựa, đạp lên nhau, ngã dúi dụi xuống sình lầy rồi lồm cồm bò dậy tốc chạy. Chẳng có cái lý tưởng nhân đạo hay bảo vệ xóm làng mả mẹ gì ở đây cả. Cái tánh tham sống sợ chết bứt dây, tụi nó quíu giò đạp lên nhau: mạnh ai nấy chạy, then cài cửa đóng kín mít đặng trốn cái điềm gở đang rục rịch chuyển mình.
Lão quản sự mặt cắt không còn một hột máu, hai đầu gối run bần bật, lóng ngóng chống cây gậy tre ngà dặm loạn xạ lên vách đất nẻ để leo lên bờ dốc.
"Quản sự. Đi đâu lẹ dữ vậy cha?"
Một bàn tay thô ráp, chai sạn bấu chặt lấy cái bâu áo bà ba của lão Quản sự, giật ngược lão lại. Thầy Ba đứng đó, hai tay lành lặn vạm vỡ nhưng hằn rõ những đường gân xanh xao của kẻ trót đói ăn lâu ngày. Tay phải lão lăm lăm cây dao phay sắt cùn dính đầy phèn chua rỉ sét, ép sát vào mang tai gã đàn ông có quyền lực nhất xóm vạn đò.
"Buông... buông tao ra thằng bá dơ!" Lão quản sự lắp bắp, nước bọt văng tung tóe.
"Trời thần đất hỡi, cả cái xóm này tới số rồi! Buông ra cho tao về lập đàn cúng vái..."
"Hai chục đồng bạc." Thầy Ba nói ráo hoảnh, nhổ toẹt một bãi nước bọt lẫn đờm xuống lớp sình nhầy nhụa dưới chân.
"Mày... mày nói cái gì?"
"Tao nói, chốt giá. Hai chục đồng bạc cắc. Tao thay mặt cái xóm này đứng ra dọn bãi mắm thối này cho mày," giọng Thầy Ba lạnh tanh, ánh mắt lão híp lại, ghim chặt vào con ngươi đang đảo điên của lão Quản sự. Đây không phải chuyện anh hùng cứu nhân độ thế. Đây là nghề. Và cái nghề đối mặt với âm ti lôi thôi này thì không bao giờ có chuyện làm miễn phí.
"Mày điên hả? Tụi nó thành quỷ hết rồi kìa! Tới cái mạng mày còn đách giữ nổi..."
Lưỡi dao phay sắt cùn ấn nhẹ vào lớp da nhăn nheo của lão Quản sự.
"Đất nhớ, nước nhớ. Chỉ có tụi bây là giả vờ quên. Có tiền thì tao mở đường sống, không thì tao vác dao đi chỗ khác, để màng cá chết nuốt trọn cái bến đò này. Sao? Hai chục đồng. Miễn trả giá."
Lão quản sự nuốt cái ực, mồ hôi hột ứa ra ướt đẫm trán. Lão cắn răng gật đầu cái rụp:
"Ừ... ừ! Hai chục thì hai chục! Mày làm sao thì làm, đừng để thứ quỷ đó bò lên xóm trên là được!"
Nói đoạn, lão vung gậy dốc mạng bươn chải qua triền dốc, bỏ lại Thầy Ba đứng cô độc giữa vùng rìa đang bị xâm thực. Lão Ba liếc nhìn đám đàn bà mắt trắng dã đang bắt đầu lết những bước chân cứng đơ về phía mé rạch. Trong tay cũng chẳng có bột khoáng huyết sắc tỏi độc, vác cái mạng cùi đâm đầu vô lúc này thì chỉ có nước đi bán muối. Lão xoay gót, thu cây dao phay vào hông, lẩn mình vào bóng tối um tùm của rặng bần chua, Bỏ mặc cái bến nước đang rữa nát đầy tà khí, lão nhắm thẳng hướng Gò Mả Lạng mà đi.
Đêm chướng đổ sương muối đặc quánh, lạnh buốt thấu xương. Cái lạnh của Nam Sơn không cắt da cắt thịt, mà nó ngấm ngầm luồn qua kẽ áo, chui vào tận tủy. Thầy Ba lội bì bõm qua con rạch nhỏ, mười ngón chân bấu chặt vào nền đất sét dẻo quánh nhầy nhụa để không phát ra tiếng động. Xung quanh lão, mùi long não trộn với uế khí bẹ chuối hoại tử xộc lên tận óc.
Gò Mả Lạng nằm lọt thỏm giữa vùng trũng, là nơi duy nhất thứ ngải chưa vươn vòi xâm thực tới, bởi nơi đây vốn dĩ đã bị oán khí bạt ngàn của đất hoang che khuất. Giữa những mả đất sụt lún chỏng chơ bát nhang lạnh ngắt, căn chòi rách nát của Ông Chín Mù leo lét ánh đèn hột vịt xanh lè.
Thầy Ba vén tấm liếp lá dừa lùi xùi bước vào. Ông Chín đang ngồi xếp bằng giữa nền đất nẻ, đôi bàn tay gầy guộc đầy sẹo rết tẩn mẩn bện từng cọng tàu cau khô thành chổi. Lão ngước cái cổ nhăn nheo lên, hai hốc mắt đục ngầu không tròng hướng thẳng về phía cửa, nơi hơi ấm của người sống vừa tràn vào.
"Mày nhận giá nhiêu?" Giọng Ông Chín khàn đặc như tiếng mo cau cọ xát vào nhau.
"Hai chục." Thầy Ba ngồi phịch xuống cái chõng tre ọp ẹp, tháo cây dao phay gác lên đùi. "Khẳm tiền, nhưng e là cái mạng tui trần ai khoai củ lắm mới nuốt trôi cục tiền này."
Động tác ngồi mạnh của Thầy Ba làm giạt một miếng liếp tre mục nát dưới chiếc chiếu rách. Bàn tay phải thô ráp của lão sờ trúng một vật dẹt lép, ẩm ướt giấu kỹ dưới lọng chiếu.
Đó là Sổ tay khấn nôm của gã phu đào huyệt — một tập sổ tay thô sơ làm từ vỏ cây dó ngâm nước phèn chua loét. Các mép giấy đã mủn ra như bã đậu, dính bết những vệt bùn phèn màu vàng bợt loang lổ và bốc lên thứ mùi hăng hắc của nhang tàn lạnh lẽo quyện chặt với mùi mỡ cá lóc hoại tử tanh tưởi đến lợm giọng. Chữ viết trong sổ không dùng mực tàu mà được viết bằng nét than bếp nham nhở, vẹo vặn, nét bút run rẩy chồng chéo lên nhau của một kẻ mù lòa đang lần mò trong bóng tối.
Thầy Ba nheo con mắt trái, lật giở từng trang giấy mục dưới ánh đèn dầu hột vịt lụi xanh lét đang đặt leo lét giữa nền đất nẻ.
“Ngày... [Giấy bản mục rữa mất dòng chữ]... Đào một cái huyệt cạn sâu ngang hông dưới nắng đứng tháng Ba chua loét phèn mặn. Nhận bọc gạo trấu mục nuôi cái mạng cùi luẩn quẩn suốt sáu mươi năm.
….
Đêm nay nằm dưới lòng hố sâu hoắm, tôi lại lầm rầm khấn nôm, nói chuyện với linh hồn bà nó. Tôi áp tai vào đất nẻ, nghe rõ mồn một tiếng sột soạt khô khốc của những móng tay đang điên cuồng cào cấu dưới lòng sình.
Cườm nước gặm nhấm vĩnh viễn, đôi mắt tôi đã đục ngầu trắng dã. Tôi c h ẳ n g nh ì n t h ấ y g ì n ữ a...
[Vệt than bếp vẽ nguệch ngoạc, đè chồng chéo đầy hoang tưởng]...
Ngôi mộ đất của bà nó đã nẻ toác thành khe nứt sâu bằng lòng bàn tay. Uế khí phèn chua quyện vị mắm khú rỉ lên tanh nồng. Chất dịch mỡ cá lóc đặc quánh màu vàng khè từ thớ đất nứt rịn ra, ngọt lịm như mật rừng lên men...
Khế ước bưng biền trăm năm trước.... Bản án máu đã đến kỳ đáo hạn.
M ẹ Đ ấ t M ụ c đ a n g b ò l ê n... n h a i n u ố t s ạ c h s à n h…
ꖘ ᛏ ꆜ — (Vệt than bếp trên giấy bổi nhòe ra thành hình những tơ tóc người dài thượt vặn vẹo cố vươn ra ngoài không khí, bốc lên mùi phèn chua quyện mắm khú dơ dáy) — (Cái long mạch đã thối hoen từ trong tủy, Mẹ Đất Mục đang về siết nợ máu dòng họ sát nhân).”
Thầy Ba rùng mình, gập mạnh tập sổ nhét tọt vào chiếc túi đụt da trâu ẩm mốc. Lão ngước con mắt đục ngầu nhìn về phía Ông Chín đang lầm lụi bện chổi tre.
Ông Chín khẽ cười xòa, nụ cười làm những nếp nhăn xô lại thành từng gợn sóng đen đủi trên khuôn mặt sạm màu phèn. Lão với tay lấy bầu nước rễ tranh đục ngầu, tu một ngụm rồi khà ra hơi dài, đoạn chậm rãi nói:
"Cái xóm vạn đò này mạt vận rồi con ơi. Mày tưởng thứ màng cá chết sình đó là tà thuật khơi khơi ngoài rạch trôi vô hả? Hổng phải. Nó là cái rễ mục của một cái cây đã cắm xuống bùn từ trăm năm trước rồi."
Thầy Ba nheo mắt, rút điếu thuốc rê gài trên mang tai ra châm lửa: "Ý ông là Mẹ Đất Mục?"
Ông Chín gật đầu, đôi mắt mù lòa như đang nhìn xuyên thấu qua mấy lớp thời gian đặc quánh.
"Thời ông cố ông sơ tao, cái bãi cồn này chỉ là vũng sình chết. Nắng hạn trơ đáy, cá tôm chết nghẹt dưới lớp phèn mặn chát. Dân đói rã họng, cào sình non mà ăn thay cơm. Để đổi lấy những mùa nước nổi mang theo phù sa đỏ quánh mỡ màng, đám người già trong xóm đã lập một khế ước máu."
Lão Chín ngừng lại, bàn tay bện chổi khựng giữa không trung. Không gian tĩnh mịch đến độ Thầy Ba nghe rõ tiếng sương muối nhỏ giọt lách tách ngoài mái lá.
"Tụi ổng không tế trâu bò" giọng Ông Chín hạ rền xuống, đặc nghẹt sự kinh tởm.
"Tụi ổng dùng chính những giọt máu huyết chưa tượng hình bọc trong lụa đào, cột đá trấn yểm ném thẳng xuống đáy xoáy đó. Đổi lại sinh mạng non nớt đó, con sông trả về cho xóm những xác cá lóc to bằng bắp vế, trả về thứ đất sình non màu mỡ nuôi sống cái bến phà này qua ba đời người."
Điếu thuốc rê trên tay Thầy Ba cháy lụi đến sát ngón trỏ, đỏ rực.
"Đất nhớ. Nước nhớ. Cái thứ Mẹ Đất Mục mà tụi nó rỉ tai nhau thời nay, chính là tinh kết của những hài nhi bọc lụa đào nằm phơi thây dưới đáy vũng xoáy đó. Tụi nó trở về không phải để hại người..." Ông Chín khạc một bãi đờm khô xuống đất.
"...Tụi nó trở về để siết nợ máu."