🏠 Trang chủ 🔎 Tìm kiếm
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.2: TRƯỚC GIỜ G

~9 phút đọc · 1622 từ · ⚠️ Báo cáo

Vài ngày trước chiến dịch...
Tây Nguyên những ngày cuối tháng 10 năm 1965 đẹp một cách lạ lùng, cái đẹp hanh hao và yên ả trước khi cơn bão lửa ập xuống.
Dưới chân dãy núi Chư Prông sừng sững như một bức tường thành xanh thẫm, nắng chiều rải một lớp mật vàng óng lên những lối mòn ngập lá rụng. Gió đại ngàn xào xạc thổi qua những tán tre rừng, mang theo cái lạnh chớm đông mơn man da thịt. Nơi đây, sâu trong lòng thung lũng Ia Đrăng, trạm giao liên dã chiến của Mặt trận B3 hiện ra bình yên đến mức người ta dễ quên đi rằng ngoài kia, những vệt xích xe tăng Mỹ và tiếng gầm rú của máy bay đang cày xới mặt đất từng giờ.
Bên bờ một con suối nhỏ, nước trong vắt đến mức nhìn rõ từng viên sỏi cuội nhẵn nhụi, Phạm Đình Vũ ngồi lặng yên vót lại mấy chiếc cọc tre dã chiến. Đôi tay anh đưa những nhát dao bén ngót, dứt khoát nhưng đều đặn. Cách anh vài bước chân, Ngọc Ánh – cô gái giao liên người bản địa với đôi mắt sáng như sao trời và mái tóc thoảng mùi lá sả rừng – đang khéo léo dùng cây kim khâu vá lại chiếc áo sờn vai cho anh.
"Anh Vũ này..." – Ánh ngẩng lên, hai má hơi hồng dưới nắng chiều, giọng cô nhỏ nhẹ hòa vào tiếng nước chảy – "Hòa bình rồi, anh sẽ làm gì đầu tiên?"
Vũ ngưng tay dao. Anh nhìn vạt nắng chiều đang nhảy múa trên mặt nước suối, ánh mắt ánh lên một niềm tin trong trẻo và kiên định:
"Anh sẽ về lại Đà Nẵng. Dắt mẹ đi dạo dọc sông Hàn, ăn một tô mì Quảng thật ngon do chính tay mẹ nấu. Rồi... anh sẽ đi tìm em."
Ngọc Ánh cúi đầu, nụ cười bẽn lẽn giấu sau vành nón lá tai bèo đã bạc màu vì sương gió. Lời hẹn ước giữa thời chiến chẳng cần những lời thề thốt hoa mỹ, chỉ một cái nhìn, một câu hứa giản dị dưới chân núi Chư Prông cũng đủ gieo vào lòng họ một khoảng trời bình yên vô tận. Họ mơ về một ngày đất nước sạch bóng thù, một ngày không còn tiếng bom rơi...
Bóng tối ập xuống nhanh như một hơi thở nhẹ của đại ngàn. Sương muối bắt đầu buông, mang theo cái lạnh buốt thấu xương đặc trưng của đất đỏ Tây Nguyên. Vũ tạm biệt Ánh bằng một cái gật đầu siết chặt lòng, rồi bước nhanh về phía căn lán dã chiến được ngụy trang kỹ lưỡng dưới những tán lá trung quân dày đặc.
Bên trong lán, không khí dường như đã chuyển sang trạng thái tác chiến từ lúc nào. Dưới ánh sáng lập lòe, yếu ớt của chiếc bếp Hoàng Cầm giấu kín khói, anh Sơn – tổ trưởng tổ đặc công, một người đàn ông Quảng Nam già dặn trước tuổi với vết sẹo dài chạy dọc bên thái dương – đang cùng Hải và Lâm lau chùi lại những chiếc kìm cộng lực. Họ cẩn thận kiểm tra từng kíp nổ, vuốt lại từng đoạn dây cháy chậm của những khối bộc phá áp sát.
"Về rồi đấy à?" – Hải thúc nhẹ vào sườn Vũ, cười trêu bằng chất giọng đặc sệt miền Trung – "Lau súng đạn cẩn thận đi cậu em. Đêm nay chúng ta có việc lớn, không có chỗ cho sự mơ mộng đâu."
Vũ mỉm cười, không đáp. Anh nhanh chóng ngồi xuống cạnh đồng đội, đón lấy khẩu AK xếp báng từ tay Lâm rồi bắt đầu lau chùi. Không ai run tay. Từng động tác lau súng vẫn đều đặn, chậm rãi, như thể họ đang chuẩn bị cho một buổi tuần tra bình thường chứ không phải một đêm có thể không trở về.
Đúng 21 giờ, cả tổ bước vào căn hầm chữ A của Ban chỉ huy Đại đội.
Căn hầm sực mùi đất ẩm, mùi mồ hôi lính và mùi dầu hỏa từ chiếc đèn tự chế bằng vỏ lon bia. Trên chiếc bàn tre thô sơ, một bản đồ quân sự vẽ chi tiết về căn cứ biên phòng Plei Me hiện ra. Điểm đáng chú ý nhất là một khu vực được khoanh tròn bằng mực đỏ nằm sát rìa phía đông căn cứ, bên cạnh ghi vội dòng mật danh: Ward 37.
Tiểu đoàn trưởng gõ đầu bút chì vào điểm nút màu đỏ đó, giọng ông trầm ấm nhưng đanh thép vang lên trong căn hầm chật hẹp:
"Tình hình chiến trường đang chuyển biến rất gấp. Sau khi trại Plei Me được giải vây vào ngày 25, quân chủ lực của ta đang rút về hướng thung lũng Ia Drăng để bảo toàn và tái tổ chức lực lượng. Địch tưởng ta đã kiệt sức. Lữ đoàn 1 Kỵ binh bay Mỹ đang tung quân ra rìa ngoài để truy kích. Đây chính là thời cơ của chúng ta."
Ông nhìn thẳng vào bốn người lính đặc công:
"Tổ đặc công số 1 do đồng chí Sơn chỉ huy sẽ nhận mật lệnh luồn sâu. Các đồng chí sẽ xuất phát ngay , hành quân ngược hướng rút của chủ lực để tiếp cận Plei Me. Chúng ta sẽ dành ngày 29 để ẩn nấp dưỡng sức, trinh sát thực địa, và đúng đêm ngày 30 tháng 10 sẽ nổ súng đánh sập mục tiêu."
Ông dừng lại, chỉ tay vào phân khu màu đỏ:
"Nhiệm vụ trọng tâm của các đồng chí là: Dùng bộc phá khối đánh sập kho xăng và bãi trực thăng dã chiến ở vòng ngoài để cô lập hỏa lực địch. Tiếng nổ phải phát ra đúng 0h00 đêm ngày 30. 
Nghe đến đây, tổ trưởng Sơn nhíu mày hỏi: "Báo cáo Tiểu đoàn trưởng, phân khu Ward 37 đó chứa cái gì bên trong? Trinh sát của ta đã nắm được cấu trúc chưa?"
Tiểu đoàn trưởng trầm ngâm một lát rồi lắc đầu, nét mặt ông nặng trĩu: "Hiện tại, thông tin về Ward 37 hoàn toàn là một ẩn số. Trinh sát kỹ thuật chỉ phát hiện ra đây là khu vực được lính Mỹ canh gác cẩn mật nhất, bao quanh bởi ba lớp rào kẽm gai bùng nhùng cô lập hoàn toàn với phần còn lại của căn cứ. Có nguồn tin nói đó là nơi giam giữ các cán bộ cốt cán của ta, cũng có nguồn tin nói đó là phòng thí nghiệm hoặc chứa vũ khí đặc biệt của chúng. Nhiệm vụ của các đồng chí là phải đập vỡ cái vỏ bọc đó. Dù bên trong là gì, chúng ta cũng phải làm rõ."
"Rõ!" – Bốn người lính đặc công đồng thanh hô vang, sống lưng thẳng tắp dưới ánh đèn dầu leo lét.
Bầu không khí trong hầm bỗng chốc trở nên trang nghiêm đến nghẹt thở khi Chính trị viên bước lên. Ông nhẹ nhàng đặt lên bàn một tập giấy gác-măng-rê úa vàng và chiếc bút mực cắm sẵn.
Đã thành thông lệ của lính đặc công trước giờ mở đất: Ký giấy cam kết hy sinh và gửi lại toàn bộ tư trang. Đi vào lòng địch là chấp nhận một đi không trở lại. Để bảo mật tuyệt đối cho đơn vị, trên người họ khi xuất kích không được phép mang theo bất kỳ một mảnh giấy tờ tùy thân nào, thậm chí cả chiếc cúc áo dính chữ tiếng Việt cũng phải cắt bỏ.
Nắm giữ cái chết trong tay, nhưng trên gương mặt của Sơn, Vũ, Hải và Lâm không hề có một chút run rẩy hay do dự. Họ mạnh mẽ và kiêu hãnh đến lạ kỳ. Sự hy sinh đối với họ nhẹ tựa lông hồng trước vận mệnh của Tổ quốc.
Anh Sơn bước lên đầu tiên. Anh cầm bút, ký một nét dứt khoát, mạnh mẽ vào tờ giấy chứng tử để trống tên. Tiếp theo là Hải, rồi đến Lâm. Họ ký tên mình như đang ghi danh vào một bản anh hùng ca bất tử của đại ngàn.
Đến lượt Vũ. Anh tiến lên, đặt cây bút xuống. Bên cạnh tờ giấy sinh tử là lá thư anh đã viết nắn nót từ chiều, dán kín bằng hồ dán tự chế từ cơm nguội. Trên phong bì ghi rõ nét chữ học trò mực xanh: 'Kính gửi: Mẹ Hà — K20, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng.'
Anh nhìn Chính trị viên, ánh mắt kiên định không một chút gợn sóng:
"Báo cáo Chính trị viên, đây là thư gửi cho mẹ tôi ở Đà Nẵng. Nếu tôi không về... nhờ các anh chuyển tận tay cho mẹ em."
Chính trị viên nhận lấy phong thư, bàn tay ông hơi run lên vì xúc động, nhưng ông cố giữ cho giọng nói của mình thật đanh thép:
"Đảng và Tổ quốc ghi công các đồng chí. Đi lập công rồi trở về thực hiện lời hứa với hậu phương, nghe rõ chưa các đồng chí !"
"Rõ!"
Họ đứng nghiêm, chào điều lệnh một lần cuối. Vũ quay đầu bước ra khỏi hầm dã chiến. Gió đêm Tây Nguyên thổi lồng lộng, lạnh buốt thấu xương. Anh đưa mắt nhìn về phía trạm giao liên nơi Ngọc Ánh đang đợi một lần cuối, rồi cùng tổ trưởng Sơn và Hải hòa mình vào bóng đêm đen kịt, hướng thẳng về phía hàng rào kẽm gai bí ẩn của Ward 37…

💬 Bình luận