Hàng đuốc phía Bắc nhìn từ xa như một bức tường lửa, nhưng đến gần thì viên tướng trẻ dẫn đầu thấy rõ từng lớp. Khiên dựng sát nhau thành một dãy dài chắn ngang đường, sau khiên là rừng giáo chĩa chếch lên, mũi nào cũng hướng vào ngực ngựa, ánh đuốc liếm trên từng lưỡi thép.
Hắn không ghìm cương. Hắn rạp người sát cổ ngựa, thúc gót, và con chiến mã đạp thẳng lên mặt khiên. Gỗ bọc da lún xuống dưới vó, người cầm khiên bị hất ngửa ra sau, một mũi giáo sượt qua bụng ngựa, một mũi khác xé toạc vạt giáp bên đùi hắn mà hắn không kịp thấy đau. Rồi hắn đã vượt qua dãy khiên, đáp xuống giữa đám bộ binh đang ngơ ngác quay lại.
Đội kỵ binh ào vào theo con đường hắn vừa mở. Có con ngựa bị giáo xuyên qua cổ, quỵ xuống giữa dòng người, kẻ cưỡi nó văng ra rồi biến mất dưới chân quân địch. Có người mắc vào khiên bị kéo tuột khỏi yên, tiếng hét tắt ngay giữa chừng. Viên tướng nghe thấy tất cả, và nhớ lời lão tướng dặn lúc ở cổng, nên hắn không ngoái lại đếm xem mình đã mất bao nhiêu người.
Hắn nhìn về phía trước. Cách đó chừng trăm bước, trên một đài gỗ cao dựng giữa doanh, một tên tướng giáp đen đang vung hai lá cờ lệnh. Theo từng nhịp cờ, các toán quân bên dưới xoay đội hình, khép lại phía sau đoàn kỵ như một cái túi đang thắt miệng. Hắn hiểu nếu để lá cờ ấy vẫy thêm mười nhịp nữa thì không một ai trong đám người này ra khỏi vòng vây.
Hắn rút ngọn giáo cặp bên yên, nhắm vào ngực tên tướng trên đài, ngựa vẫn phi hết tốc lực, rồi vung tay.
Ngọn giáo vạch một đường thẳng tắp qua ánh lửa. Tên tướng giáp đen chưa kịp hạ cờ thì mũi giáo đã xuyên qua ngực, sức lao hất tên tướng ngược ra sau, rơi khỏi đài xuống nền đất. Lá cờ lệnh bay theo rồi cắm xuống bùn.
Phía dưới, các toán quân ngẩng lên thấy đài trống, không còn cờ nào chỉ đường. Đội này vẫn xoay theo nhịp cũ, đội kia đứng khựng lại, hai bên va vào nhau, tiếng quát tháo chồng lên nhau mà không ai biết nghe ai. Viên tướng trẻ thúc ngựa lách qua khe hở vừa hé ra giữa hai toán quân đang rối, vượt khỏi vòng đuốc cuối cùng và lao vào bóng tối.
Chạy đến khi tiếng hò hét phía sau chỉ còn là một tiếng vọng xa, hắn mới kéo cương nhìn lại. Chỉ còn tám con ngựa theo sau, thở dốc, mình đầy bọt và máu.
Trước mặt hắn là con đường lớn dẫn về Thái Bình Độ, rộng và phẳng, dưới ánh trăng trắng như một dải lụa. Chính vì thế hắn nhìn nó rất lâu. Kẻ vây được Tam Phân kín bốn mặt bằng ngần ấy quân thì không thể bỏ trống con đường duy nhất về Đế Đô. Phía trước kia, trong những khúc quanh hắn không thấy được, hẳn còn có thứ đang chờ.
Hắn xoay đầu ngựa, rẽ vào bụi cây bên đường.
Tám con ngựa lần lượt theo hắn vào rừng. Cành thấp quất vào mặt, tán cây khép lại che mất vầng trăng, và chẳng bao xa thì lối đi cũng biến mất, họ phải xuống yên, dắt ngựa bước qua rễ cây và đá ngầm. Ánh đuốc cuối cùng của Tam Phân bị lớp lá nuốt hết, chỉ còn tiếng thở của người và ngựa. Con đường lớn đã bỏ lại sau lưng, còn Thái Bình Độ thì nằm đâu đó phía Bắc, sau bao nhiêu dặm rừng chưa ai trong họ từng đi qua.
Con chiến mã quỵ xuống trước cổng Đế Đô khi mặt trời vừa lên khỏi tường thành. Nó không ngã vì địch mà vì kiệt sức, bốn chân run lên rồi khuỵu, bọt trắng sùi ra khóe miệng.
Viên tướng trẻ lăn khỏi yên. Hắn chống tay gượng dậy, nhưng chân không còn đứng vững nữa, vừa chạm đất đã khuỵu xuống. Vết rách ở đùi đã khô thành mảng đen cứng, vải áo dính chặt vào thịt, mặt mũi lấm bùn rừng và máu khô. Hắn đành bò, mười ngón tay cào xuống đất, kéo thân mình về phía cổng từng gang một.
Lính gác thấy vậy vội chạy tới. "Ngươi là ai? Sao ra nông nỗi này?"
"Đỡ ta vào gặp bệ hạ." Giọng hắn khản đặc. "Ta có tin cần báo."
Hắn móc từ thắt lưng ra một tấm lệnh bài dính bùn, giơ lên, tay run bần bật.
Hai người lính xốc nách hắn dậy, gần như vác hắn qua cổng thành.
Trong đại điện, Thanh Long đang đứng bên bản đồ cùng Chúc Cửu Âm. Viên tướng trẻ được đưa vào, quỳ một gối rồi không đứng lên nổi nữa.
"Tam Phân bị vây bốn mặt, cờ Quy Xà đen kín... đông gấp bốn lần quân ta." Hắn thở dốc giữa từng câu. "Chung tướng quân dặn: thành còn đứng, nhưng không đứng được lâu. Lúc thần ra khỏi thành, thành còn đứng."
Hắn chưa nói hết thì cửa điện bật mở. Một truyền binh lao vào, giáp dính khói, quỳ sụp xuống ngay giữa điện.
"Cấp báo! Thiên Môn Quan bị đại quân Quy Xà đánh gấp, binh lực rất đông, quan ải đang cầm cự!"
Cả hai tin đến cùng một lúc. Chúc Cửu Âm nhìn xuống bản đồ, ngón tay dừng ở Huyền Quy Môn, nơi bấy lâu chưa ai tính đến.
Thanh Long không nhìn bản đồ.
"Đưa hắn đi nghỉ. Gọi thầy thuốc giỏi nhất." Ông nói với lính bên cạnh. "Hắn đã làm xong việc của hắn."
Rồi ông quay sang. "Cửu Âm."
"Có thần."
"Ngươi dẫn hai mươi vạn quân đến Thiên Môn Quan. Cửa ải ấy không được mất."
"Thần tuân lệnh."
"Hai mươi vạn còn lại theo ta đi Tam Phân." Giọng ông không cao. "Chung Quỳ giữ chỗ ấy vì lệnh của ta. Ta không để lão chết một mình."
Trống lệnh Đế Đô vang lên trước khi hai người rời điện. Viên tướng trẻ được khiêng ra ngoài, bàn tay vẫn nắm chặt tấm lệnh bài, đến mức thầy thuốc phải gỡ từng ngón.
Thanh Long đi ngày đêm không nghỉ. Hai mươi vạn quân kéo xuống từ Đế Đô theo đường lớn, ngựa thay hai lượt mà ông vẫn thúc đi đầu hàng quân, Đảm Long Thương gác ngang yên, áo choàng phủ bụi đường đến không còn nhận ra màu.
Đến cổng Thái Bình Độ, ông bất ngờ ghìm cương.
Con đường phía trước chui vào một khe núi hẹp, hai bên sườn dốc phủ rừng rậm, im lặng đến mức không có nổi một tiếng chim. Ông ngồi trên lưng ngựa nhìn vào khoảng tối ấy, đạo quân phía sau dồn lại, dừng theo ông. Một khe núi như thế, một con đường duy nhất về Tam Phân, ông không tin nó bỏ trống.
Trong đầu ông chợt vang lên giọng Chung Quỳ, đêm trước ngày lão tướng xuất binh, đứng giữa đại điện, lưng vẫn thẳng như cán thương:
"Lão thần còn thì Tam Phân còn. Lão thần chết, Tam Phân mới mất."
Lão chưa bao giờ nói suông.
Thanh Long cắn răng, thúc ngựa lao thẳng vào khe núi.
Chưa đầy trăm bước, tù và nổi lên từ hai bên sườn dốc. Tên bay xuống như mưa, đá tảng và thân cây lăn ào ào theo triền, nghiền nát từng hàng quân ngay giữa lòng đường. Ngựa hí vang, người bị hất tung, đội hình dài hàng dặm bị chẻ làm nhiều khúc ngay trong một hơi thở. Quân Thanh Long chết rất nhiều, chết trước cả khi kịp nhìn thấy mặt kẻ địch.
Thanh Long không dừng. Đảm Long Thương quét một vòng gạt tên, ông rạp người trên lưng ngựa lao qua đám đá lăn, vượt qua những thân cây còn đang xoay tròn. Một mũi tên cắm vào vai ông, ông không nhìn, cũng không giảm tốc. Phục binh từ hai bên sườn ào xuống chặn đường, ông xông thẳng vào giữa đội hình, mũi thương đi tới đâu thì hàng ngũ địch vỡ ra tới đó.
Cuối khe núi, ông thấy một tên tướng cưỡi ngựa đứng giữa trận, tay cầm cờ chỉ huy. Là Hùm Ngư. Hắn cũng thấy ông, nhưng đã quá muộn để tránh.
Đảm Long Thương đâm xuyên ngực hắn, mũi thương nhô ra sau lưng giáp.
Hùm Ngư thổ máu, và hắn hiểu mình đã chết. Hai tay hắn buông cờ, siết chặt lấy cán thương, dồn nốt chút sức cuối cùng ghìm vũ khí của Thanh Long lại. Phục binh xung quanh thấy chủ tướng làm vậy, gào lên xông vào ông từ mọi phía.
Thanh Long buông một tay khỏi cán thương. Thái Bình Bảo Kiếm rời vỏ, một đường sáng lóe lên, đầu Hùm Ngư bay khỏi cổ.
Thân thể không đầu còn đứng trên yên một thoáng. Thanh Long rút Đảm Long Thương từ ngực nó ra, tay không dừng, quét ngang một vòng. Mấy tên lính xông đầu bị hất văng, máu vẩy thành một vòng cung trên mặt đường. Phục binh khựng lại, nhìn thân xác chủ tướng đổ xuống, nhìn người đàn ông đẫm máu đứng giữa trận với mũi tên còn cắm trên vai, rồi lùi dần từng bước.
Phía sau, những kỵ binh sống sót sau trận đá lăn nhìn thấy chủ soái đẫm máu giữa trận, mũi tên vẫn cắm trên vai. Không ai ra lệnh, tiếng hô đã xé qua khe núi, hàng kỵ binh đồng loạt thúc ngựa ào lên, dàn ra hai cánh và sau lưng ông như một bức tường sống dựng quanh ngọn thương.
Thanh Long đưa tay nắm lấy thân tên, bẻ gãy ngang. Tiếng gỗ khô gãy khục, đầu mũi tên vẫn nằm trong thịt, máu thấm ướt cả nửa vạt giáp. Ông không nhìn xuống. Ông giật mạnh cương, con chiến mã dựng đứng hai chân trước, hí lên một tiếng vang dội cả khe núi rồi lao về phía trước.
Bên phía phục binh, tên phó tướng của Hùm Ngư vừa thấy đầu chủ tướng lăn dưới chân ngựa, quân dưới tay hắn đã bắt đầu rúng động, người lùi, người buông giáo. Hắn rút đao, hét khản cổ.
"Không được loạn! Dàn trận lại! Hắn chỉ có một người, chặn hắn lại, không để hắn qua!"
Tiếng hét kéo những kẻ đang lùi đứng lại. Khiên dựng lên, giáo hạ xuống, bộ binh từ hai sườn đổ xuống lấp kín lòng đường thành ba lớp dày. Trên sườn dốc, cung thủ giương lại, một đợt tên nữa bay xuống. Chỉ trong chốc lát, khe núi đã bị bịt kín bằng một bức tường người chưa ai từng thấy chịu nổi.
Thanh Long lao thẳng vào bức tường ấy.
Đảm Long Thương đâm tới đâu, khiên vỡ giáo gãy tới đó, hàng đầu ngã xuống như lúa bị gặt. Ông không cố giết hết, chỉ dùng mũi thương mở một đường đi. Lớp thứ nhất vừa nứt thì ngựa ông đã đạp lên xác lớp ấy mà tiến vào lớp thứ hai. Vai ông rỉ máu theo từng nhịp phi, cánh tay cầm thương nặng dần, nhưng mũi thương vẫn không chậm đi.
Kỵ binh ùa theo, đâm vào đường nứt ông vừa mở và cố sức nới nó rộng ra. Có người ngã ngựa dưới đá lăn, có người bị tên bắn từ trên sườn, có người bị giáo xuyên qua sườn ngựa mà vẫn nghiến răng thúc tới. Hai mươi vạn quân vào khe núi, giờ theo sau Thanh Long chưa đến mười vạn, nhưng không một ai quay đầu lại.
Tên phó tướng gào lên đến vỡ giọng, vung đao ép hàng ngũ khép lại. Hắn thấy lớp thứ ba rung chuyển, thấy mũi thương đẫm máu hiện ra phía sau những tấm khiên, thấy người đàn ông mang chiến bào xanh phủ bụi đường và máu ấy nhìn thẳng vào hắn. Cái nhìn chỉ thoáng qua, rồi hàng ngũ phía trước hắn bục ra như đê vỡ.
Thanh Long xuyên qua.
Cuối khe núi, ánh chiều tà đổ xuống đỏ rực, nhuộm cả triền dốc đầy xác người lẫn đá tảng. Từ miệng khe, một dải bóng đen tràn ra, ngựa nối ngựa, mũi thương và lưỡi đao nhấp nhô trên nền trời, bụi cuộn lên đằng sau thành một dải dài đục ngầu. Đi đầu là một bóng người cưỡi ngựa, thân thẳng, một tay cầm thương, chiến bào phần phật trong gió.
Họ chạy về phía Nam, nơi một thành đất đang cháy lên trong đêm thứ ba.