Ba ngày trước, khi Chung Quỳ dẫn ba vạn quân xuống Tam Phân Địa, thứ chờ ông chỉ là một doi đất lầy nằm giữa chỗ ba nhánh sông gặp nhau rồi tách ra, vài căn nhà vách đất sập mái dột, cỏ lau mọc xuyên qua nền bếp lạnh. Phó tướng hỏi hạ trại ở đâu. Ông đi bộ dọc bờ nước đến hết chiều, bốc nắm đất lên bóp trong tay, rồi chọn một gò cao giữa doi và cắm cây giáo xuống.
"Dinh dựng ở đây. Thành dựng quanh dinh."
Lính kéo dây đo các bãi bồi, cắm cọc tre uốn quanh gò theo thế nước. Lũy đất đổ từng lớp, đầm bằng chày gỗ. Sáng nào ông cũng đi trên đỉnh lũy, gõ sống đao xuống nghe tiếng, chỗ nào rỗng thì chiều đó đã bị đào lên làm lại. Phó tướng nhìn hố móng dãy kho sâu quá mức cần thiết.
"Tướng quân, nếu chỉ giữ chỗ này qua một mùa..."
"Ta không xuống đây để giữ qua một mùa. Đào tiếp."
Đến khi lũy cao quá đầu người, chiếc thuyền cá đầu tiên ghé bến. Lính trả bằng muối, không lấy của dân một mớ rau. Trong đám người lui tới có một khách buôn muối khô từ thượng nguồn, đi khắp các ngõ, bán rẻ, chuyện trò nhiều, chỉ có đôi mắt là đếm cổng, đếm tháp canh, đếm xe lương vào kho. Canh tư đêm ấy, hắn dắt ngựa ra cổng Tây khi thuyền đi chợ sớm vừa mở bến, lính gác thấy mặt quen nên chỉ vẫy tay.
Một khoái mã rời Tam Phân khi trời chưa sáng, mất hút về phương Tây, mang tin tức về Huyền Quy Môn.
Tin từ Tam Phân vào đến Huyền Vũ điện lúc trời vừa sáng. Các trạm ngựa chuyển tiếp suốt đêm, con khoái mã cuối cùng gục ngay trước bậc thềm, bọt mép trắng xóa. Viên truyền tin quỳ giữa đại điện, dâng bản báo: quân Thanh Long đã xuống Tam Phân Địa, đang đắp lũy, dựng tháp canh, dân chạy loạn bắt đầu kéo về. Đó không phải doanh trại đóng tạm mà là một tòa thành đang mọc lên.
Huyền Vũ đọc một lượt rồi ném bản báo xuống án.
"Bao nhiêu quân?"
"Khoảng ba vạn, thưa bệ hạ."
"Truyền lệnh." Ông đứng dậy, giọng không cao nhưng từng chữ vang khắp đại điện. "Triệu bốn mươi vạn binh mã về Huyền Quy Môn. Trống lệnh đánh ngay hôm nay. Tướng nào chậm một canh, chém. Ta đích thân đến đó."
Ông sải bước ra khỏi điện, áo choàng quét qua bậc thềm đá. Khi ông xuống đến chân thang, các tướng phía sau đã chạy về doanh của mình.
Trống lệnh vang lên từ đầu giờ Thìn. Trên tường điện, cờ Quy Xà cuộn mình trong gió Tây, và dưới sân, những hàng quân đầu tiên đã bắt đầu tập kết.
Bốn mươi vạn binh mã rời Huyền Vũ điện ngay trong ngày, đi suốt ngày đêm không nghỉ. Con đường lên Huyền Quy Môn uốn theo vách núi và mép Biển Hổ, hẹp đến mức đội hình kéo dài hàng chục dặm, đầu hàng đã vào cổng ải khi đuôi hàng còn chưa qua khỏi chân thác. Ban ngày bụi đá cuộn lên thành một dải vàng dọc sườn núi, ban đêm đuốc nối nhau bò quanh triền dốc, phản chiếu xuống mặt nước đen. Ngựa kiệt sức bị bỏ lại bên đường, xe lương được lính vác tay đẩy qua những đoạn lầy, và không một tướng nào dám xin dừng.
Huyền Vũ đến nơi lúc trời xế chiều. Ông không vào doanh, không dùng bữa, đi thẳng lên lầu cổng nhìn về phía Tam Phân.
Xa xa, sau lớp sương trên sông, một vòng lũy đất đã ôm kín cái gò ở giữa doi, tháp canh đứng ở các góc, khói bếp dân mới về cuộn lên lẫn với khói doanh. Ông nhìn từng chỗ rất lâu, nhìn lũy còn mới, đất chưa kịp khô, nhìn cái thế ba mặt vây quanh một dải đất nhỏ nằm sát bờ nước.
Rồi ông bật cười.
Tiếng cười khẽ, chỉ đủ cho các tướng đứng sau nghe thấy, và tắt dần trong khi ánh mắt ông lạnh hẳn đi.
"Thanh Long muốn ở lại Tam Phân." Ông nói. "Được. Ta cho hắn ở lại."
Ông quay người. "Cộng Công."
"Có thần."
"Ngươi dẫn hai mươi vạn quân, không cần vào Huyền Quy Môn, rẽ thẳng đến Quy Xà Tượng. Thiên Môn Quan, bằng mọi giá phải lấy được. Không lấy được thì đừng về gặp ta."
"Thần tuân lệnh."
"Hai mươi vạn còn lại theo ta, hợp với quân đóng sẵn ở đây, chia làm năm cánh. Bốn cánh, mỗi cánh ba vạn, vây bốn hướng Tam Phân. Không cần đánh vội, chỉ cần không một con kiến nào chui ra lọt vào." Ông nhìn sang một viên tướng. "Hùm Ngư, toàn bộ số quân còn lại giao cho ngươi. Mai phục trên đường từ Thái Bình Độ xuống Tam Phân. Viện quân của Thanh Long mà đến, chặn lại cho ta, một người cũng không được lọt qua."
"Thần rõ."
Trống lệnh vang lên từ lầu cổng. Dưới chân ải, đoàn quân tách làm hai: một đạo rẽ lên phía Bắc về Quy Xà Tượng, một đạo xuống phía Tam Phân, hai dải bụi cuộn lên cùng một lúc rồi xa nhau dần.
Sáng hôm ấy, lính gác trên tháp canh thấy bụi bốc lên ở cả bốn phía chân trời cùng một lúc. Bụi lắng xuống thì cờ Quy Xà hiện ra, đen kịt, từng dải nối nhau chạy dài, bít kín mọi lối ra vào Tam Phân. Mỗi hướng một doanh, dựng ngoài tầm tên, giữa các doanh là những hàng máy bắn đá và Xung Thành Xa còn mới nguyên, bánh gỗ hằn sâu trong bùn ven sông. Ba vạn quân trên lũy nhìn ra, thấy địch đông gấp bốn lần mình. Họ nhìn về phía Bắc, nơi viện quân lẽ ra phải xuất hiện, và chỉ thấy một khoảng trời trống.
Nỗi sợ lan trên đỉnh lũy không bằng tiếng la hét mà bằng những thứ nhỏ hơn. Một người lính trẻ buông ngọn giáo, phải cúi nhặt hai lần mới nắm chắc. Có kẻ ngồi sụp xuống chân tháp, hỏi nhỏ bao giờ quân Đế Đô tới. Phía sau lưng họ, từ những mái nhà mới dựng lại, tiếng trẻ con khóc vọng ra, và nhiều người quay đầu nhìn về phía ấy rồi không quay lại nhìn quân địch nữa.
Chung Quỳ leo lên đỉnh lũy, đứng giữa họ. Gió sông thổi bạc cả chòm râu ông. Ông đưa mắt nhìn qua từng gương mặt, rồi cất giọng, không lớn, nhưng đủ để hàng quân gần nhất nghe rõ và truyền ra những hàng sau.
"Lão phu đã bảy mươi tuổi, còn không sợ chết, lẽ nào các ngươi lại sợ?
Kẻ nào sợ chết, có thể rời đi. Giữ lại chỉ là gánh nặng cho ba quân.
Nhưng các ngươi hãy nhớ cho kỹ! Một khi lũy này sụp xuống, làng mạc phía sau sẽ chìm trong biển lửa, vợ con ly tán, dân chúng không còn chốn dung thân.
Các ngươi nhẫn tâm để điều đó xảy ra sao?"
"GIẾT!"
"GIẾT!"
"GIẾT!"
Tiếng hô chưa dứt thì một khối đá khổng lồ đã bay lên khỏi hàng máy bắn, vạch một đường cong đen trên nền trời rồi giáng vào chân lũy.
ẦM!
Đất vàng bắn tung như nước. Đá thứ hai, thứ ba rơi theo, mỗi tiếng nổ làm mặt lũy rung lên dưới chân lính. Rồi Xung Thành Xa lăn tới, thân gỗ bọc da sống, đầu xe bịt sắt, mười mấy người đẩy phía sau tấm mộc che. Nó húc vào đúng chỗ tường đã nứt. Lần thứ nhất, lần thứ hai, đến lần thứ ba thì cả một đoạn lũy sụp xuống, đất đá trượt ra thành dốc, để lộ một khoảng trống đủ cho hàng chục người song hàng.
Quân Huyền Vũ gào lên, tràn vào như nước vỡ đê.
Lính Tam Phân không lùi. Hàng giáo đầu tiên đâm ra, nhiều người ngã xuống, người phía sau bước qua xác họ lấp vào chỗ trống. Có kẻ vác cả tấm cửa gỗ chặn vào miệng lỗ, có kẻ ôm chum dầu nóng đổ xuống dốc rồi ném đuốc theo, lửa bùng lên nuốt cả một tốp lính đang leo. Cung thủ trên đỉnh lũy bắn không kịp nhắm, tên rơi xuống đầu đồng đội ở phía dưới cũng chẳng ai tránh nổi. Máu hòa với bùn thành một thứ đặc quánh dưới ủng, nhiều người trượt chân mà vẫn không buông binh khí.
Chung Quỳ rút đao, bước xuống dốc lũy. Ông không chạy, chỉ đi thẳng về phía chỗ vỡ, và những người lính nhìn thấy ông thì dồn lại phía sau lưng ông, từng lớp một. Lưỡi đao của lão tướng bổ xuống chiếc mũ sắt đầu tiên vượt qua khoảng trống, và lớp thứ hai của Huyền Vũ đã đạp lên xác đồng đội mà vào.
Đợt này vỡ thì đợt khác tới. Mặt trời đi qua đỉnh đầu, rồi nghiêng dần về phía Tây, mà tiếng trống Huyền Vũ không hề thưa đi. Một tháp canh gỗ ở góc Đông bị tên lửa bén vào, cháy đến khi cột đổ sập xuống ngoài lũy, đè lên cả một toán quân đang kéo thang. Đoạn tường vỡ được lấp lại bằng những gì còn có thể kéo tới: xe lương, phiến cửa, bao đất, rồi cả xác người, và quân hai bên giẫm trên chúng mà giết nhau. Có đội đã thay phiên đến lần thứ ba, người lính trẻ làm rơi ngọn giáo buổi sáng giờ cầm một cây đao gãy mà vẫn đứng ở hàng đầu.
Đến khi trời tối hẳn, đuốc hai bên được thắp lên, soi một vệt đỏ dọc theo chân lũy. Mặt dốc loang lổ không còn nhìn ra màu đất. Tiếng binh khí vẫn chưa dứt. Chung Quỳ đứng ở chỗ vỡ, đao chống xuống đất làm điểm tựa, vai áo thấm máu không biết của mình hay của ai, mắt vẫn nhìn thẳng ra phía bóng tối nơi cờ Quy Xà đang dồn lại.
Quá nửa đêm, viên phó tướng lách qua đám lính khiêng thương binh, chạy đến chỗ ông đứng. Giáp hắn rách một bên vai, mặt đen khói.
"Tướng quân! Quân ta mất gần ba phần, chỗ vỡ không bịt nổi nữa. Cứ thế này đến sáng thì ba vạn người bị diệt sạch. Xin tướng quân rút..."
"Rút?" Chung Quỳ không quay đầu. "Thà chết tại đây, không lùi nửa bước. Lũy này phải giữ bằng được. Ngươi sợ thì cút."
Phó tướng đứng sững, mặt cắt không còn giọt máu. Rồi hắn nghiến răng, siết cán đao quay lại chỗ vỡ.
Chung Quỳ vẫn nhìn vào bóng tối. Ông biết hắn nói đúng. Từ lúc khối đá đầu tiên rơi xuống, ông đã đếm được mỗi đợt mất bao nhiêu người, kho còn bao nhiêu tên, và đất đầm kỹ đến đâu cũng không chống nổi bốn mặt cùng đánh vào. Lời ông vừa quát là để cho những người xung quanh nghe thấy.
"Truyền đội trưởng khinh kỵ," ông nói với tên lính truyền lệnh. "Dẫn một trăm người giỏi nhất, ngựa khỏe nhất, đến cổng Bắc."
Khi ông tới nơi, một trăm kỵ binh đã lên yên, hơi ngựa phả trắng trong đêm lạnh. Ông tháo lệnh bài đeo ở thắt lưng, đặt vào tay viên đội trưởng.
"Mang cái này về Đế Đô. Nói Tam Phân bị vây bốn mặt, thành còn đứng, nhưng không đứng được lâu."
Viên đội trưởng nắm chặt lệnh bài, cúi đầu. "Thần sẽ đến nơi."
"Đừng nhìn lại phía sau."
Cánh cổng Bắc mở hé, vừa đủ cho hai ngựa song hàng. Cung thủ trên lũy dồn cả mũi tên còn lại thành một đợt, rít qua đầu đoàn kỵ rồi cắm xuống phía doanh Huyền Vũ. Một trăm con ngựa lao ra cùng lúc, vó đập vang trên nền đất ướt, mũi giáo chúc xuống như một mũi tên khổng lồ đâm thẳng vào hàng đuốc phía Bắc. Tiếng la hét nổi lên bên kia, rồi tiếng binh khí, rồi bóng ngựa nhỏ dần giữa những đốm lửa chập chờn cho đến khi ánh đuốc nuốt hết.
Cánh cổng khép lại sau lưng họ.