CHAPTER TWO: Hậu Phương
Phần 18: Trang Bị Mới
Chỉ thị nâng cấp trang bị bộ binh, ban đầu chỉ giới hạn ở mặt nạ phòng độc và một mẫu áo giáp cá nhân đơn giản, nhanh chóng phình to thành một chương trình toàn diện sau khi Herrick đọc báo cáo thương vong chi tiết hơn từ mặt trận, phần lớn cái chết của bộ binh không đến từ đạn pháo trực tiếp, mà từ mảnh văng, từ những phát bắn tỉa trúng mặt và cổ, từ những vết thương ở bụng và háng mà không một tấm giáp ngực đơn thuần nào che chắn được.
"Ba mươi bảy phần trăm thương vong đến từ mảnh văng pháo tầm gần," Herrick đọc từ tập hồ sơ dày cộp trong buổi họp giao nhiệm vụ mở rộng, giọng ông đều đều nhưng mỗi con số đều nặng như đá. "Hai mươi hai phần trăm từ hỏa lực bắn tỉa, phần lớn trúng vùng đầu và cổ vì đó là phần duy nhất binh sĩ buộc phải để hở khi quan sát qua công sự. Mười bốn phần trăm là vết thương vùng bụng dưới và đùi trên, thường dẫn đến tử vong do mất máu trước khi kịp đưa về tuyến sau."
"Chúng ta không chỉ thiết kế một tấm giáp," Herrick nói, gấp tập hồ sơ lại. "Chúng ta thiết kế lại toàn bộ những gì một người lính khoác lên người từ đầu đến chân, và cả những gì một tay súng bắn tỉa cần để sống sót một mình giữa vùng đất không người."
Bộ giáp thân
Hans phụ trách phần khung tổng thể. Cậu chia cơ thể người lính thành từng vùng theo mức độ ưu tiên bảo vệ, dựa trên chính thống kê thương vong Herrick cung cấp, ngực và bụng trên là vùng ưu tiên cao nhất, tiếp theo là vùng bẹn và đùi trên, nơi mảnh văng thấp thường gây ra những vết thương chí mạng nhưng ít được chú ý trong các thiết kế cũ.
"Chúng ta không thể bọc thép toàn thân," cậu giải thích với Volger, "trọng lượng sẽ giết chết sự linh hoạt của người lính trước khi bất kỳ viên đạn nào kịp làm điều đó. Vậy nên phải phân lớp, một tấm giáp cứng ở ngực và bụng trên, nơi tổn thương nội tạng gây tử vong nhanh nhất, còn phần bẹn và đùi dùng lớp vải dệt nhiều tầng lồng các mảnh thép nhỏ, đủ để chặn mảnh văng tốc độ thấp mà không cản trở bước chân."
Bộ quân phục hoàn chỉnh gồm một áo khoác ngoài màu xám lục ngụy trang, bên trong lót yếm giáp ngực tháo rời được để dễ bảo dưỡng, và một tấm chắn bẹn có khớp gập cho phép ngồi, bò, hay chạy mà không bị cấn.
Mũ sắt và mặt nạ
Phần mũ và mặt nạ là nơi Hans dành nhiều đêm nhất. Mẫu mũ sắt mới có vành rộng hơn hẳn kiểu cũ, che được cả gáy lẫn hai bên thái dương, nhưng chính chiếc mặt nạ mới mới là thứ khiến cả tổ tranh luận gay gắt nhất.
"Ý tưởng đến từ báo cáo về vết thương mặt và hàm," Hans nói, trải bản vẽ lên bàn. "Chúng ta cần một tấm chắn bảo vệ phần mặt dưới và cổ, nhưng không được cản tầm nhìn hay khả năng nghe lệnh."
Cậu thiết kế một tấm thép mỏng, dập cong theo đường nét khuôn mặt, chỉ che từ sống mũi xuống cằm và hai bên má, để hở hoàn toàn vùng mắt và trán. Thép được cán mỏng bằng một kỹ thuật xử lý nhiệt đặc biệt mà Volger học được từ chính công thức luyện kim thu được từ xác xe tăng địch, giữ được độ cứng chống mảnh văng trong khi trọng lượng chỉ bằng một phần ba so với thử nghiệm đầu tiên.
"Nó giống hệt một khái niệm tôi từng đọc trong tài liệu tình báo về vật liệu tổng hợp của địch," Kriger nhận xét khi xem qua bản vẽ, "một loại vải dệt sợi nhân tạo cực bền họ dùng để lót mũ chỉ huy cấp cao, đủ nhẹ để mang cả ngày mà vẫn chặn được mảnh văng tốc độ trung bình. Chúng ta không có công nghệ ấy, nhưng nguyên lý phân tán lực trên một diện rộng thay vì một điểm cứng duy nhất thì hoàn toàn có thể áp dụng bằng thép dập định hình đúng cách."
Sau ba lần chỉnh sửa, mẫu mặt nạ cuối cùng được đặt tên nội bộ là Gesichtsschild, tấm chắn mặt nhẹ, rẻ, và đủ đơn giản để sản xuất song song với mũ sắt tại cùng một dây chuyền dập thép.
Buổi thử nghiệm diễn ra tại bãi bắn sau khuôn viên Bộ, nơi một hình nộm đeo đầy đủ mũ sắt và mặt nạ mới được đặt cách năm mươi mét, bắn thử bằng chính loại đạn mảnh văng tiêu chuẩn mô phỏng sát thương pháo tầm gần. Hans đứng trong hầm quan sát, tim cậu thắt lại theo đúng thói quen cũ mỗi khi chứng kiến một cuộc thử nghiệm sinh tử, dù lần này chỉ là một hình nộm bằng gỗ và vải bố nhồi cát.
Sau ba đợt bắn, tấm mặt nạ vẫn giữ nguyên hình dạng, chỉ để lại vài vết lõm nông trên bề mặt. Volger, đứng cạnh cậu, thở phào. "Nếu đó là một người lính thật, cậu ta vẫn còn nguyên hàm và cổ để ăn bữa tối hôm nay."
"Còn nếu là một phát bắn tỉa trực diện thì sao?" một kỹ sư khác trong nhóm hỏi.
"Không tấm thép mỏng nào chặn được đạn súng trường bắn thẳng ở cự ly gần," Hans thừa nhận. "Đây không phải áo giáp bất khả xâm phạm. Đây là một lớp đệm cuối cùng, giúp biến một cú trúng đạn chí mạng thành một vết thương có thể sống sót, trong những trường hợp góc bắn không hoàn toàn vuông góc, điều xảy ra thường xuyên hơn người ta tưởng khi đạn bay qua khoảng cách xa."
Trang bị cho lính bắn tỉa
Volger nhận phần khó nhằn nhất, một bộ trang bị hoàn chỉnh cho các tay súng bắn tỉa và trinh sát, những người phải hoạt động đơn độc, đôi khi nhiều ngày liền giữa vùng đất không người mà không có bất kỳ sự yểm trợ nào.
"Họ không cần giáp nặng," Volger nói. "Họ cần thứ hoàn toàn ngược lại không bị phát hiện."
Gã thiết kế một bộ áo trùm kín từ đầu đến chân, được may từ nhiều lớp vải vụn nhuộm màu đất và cỏ khô đính chồng lên nhau, tạo thành một lớp ngụy trang phá vỡ hoàn toàn đường viền cơ thể người khi nằm bất động, đủ để một người có thể nằm cách kẻ thù vài chục mét mà không bị phát hiện qua ống nhòm. Chiếc mũ trùm liền thân, chỉ chừa một khe hẹp cho mắt, khiến cả tổ đùa gọi nó là "áo người nhái", vì hình dáng nó gợi nhớ đến những sinh vật lưỡng cư ẩn mình dưới bùn.
Đi kèm bộ áo là một túi dụng cụ chuyên biệt, dây bẫy mảnh mỏng gần như vô hình dưới ánh sáng yếu, kíp nổ nhỏ có thể gài vào bất kỳ vật cản nào để tạo bẫy tự chế, và một hộp thuốc nổ dẻo đủ nhỏ để giấu trong lòng bàn tay nhưng đủ mạnh để phá hủy một đoạn hàng rào thép gai hoặc một cụm công sự nhẹ.
"Đây không phải vũ khí tấn công trực diện," Volger giải thích khi trình bày trước Herrick. "Đây là công cụ để một người lính đơn độc có thể định hình cả một khu vực chiến trường trước khi trận đánh chính thức bắt đầu, gài bẫy trên đường tiến quân dự kiến của địch, đánh dấu mục tiêu cho pháo binh, và biến mất trước khi bị phát hiện."
Herrick cầm bộ áo trùm lên, xoay nó dưới ánh đèn, ngón tay ông lướt qua từng lớp vải vụn đính chồng lên nhau. "Cậu học kỹ thuật ngụy trang này ở đâu? Đây không phải điều người ta dạy trong bất kỳ giáo trình quân sự chính quy nào."
"Từ chính đôi mắt của một người thợ đồng hồ, thưa Trưởng ban," Volger đáp, một nụ cười mỏng thoáng qua. "Cả đời tôi học cách nhìn ra những chi tiết nhỏ nhất phá vỡ sự hoàn hảo của một cơ chế. Ngụy trang cũng vậy, chỉ là ngược lại, học cách tạo ra đủ chi tiết nhỏ để phá vỡ sự hoàn hảo của một đường viền cơ thể, khiến mắt người quan sát trượt qua mà không dừng lại."
Bộ dụng cụ đặt bẫy đi kèm cũng được thiết kế theo cùng triết lý tối giản, mỗi món đồ đều có thể tháo rời thành các bộ phận nhỏ, giấu rải rác trong nhiều túi khác nhau trên người, để nếu người lính bị bắt hoặc bị khám xét sơ sài, không một món đồ đơn lẻ nào đủ để lộ rõ mục đích sử dụng của toàn bộ hệ thống.
"Tôi muốn một điều khoản đặc biệt đi kèm thiết kế này," Volger nói thêm, giọng gã bất chợt nghiêm túc hẳn lên. "Kíp nổ trong bộ dụng cụ phải có một cơ chế khóa an toàn kép, không thể kích hoạt do va chạm tình cờ. Tôi đã thấy đủ những gì thuốc nổ không kiểm soát được có thể làm với người mang nó, tôi không muốn thêm bất kỳ ai phải chết vì chính công cụ được thiết kế để bảo vệ họ."
Vũ khí cá nhân mới
Phần cuối cùng, và có lẽ gây tranh cãi nhiều nhất trong nội bộ Bộ Kỹ Thuật, là đề xuất thay thế toàn bộ dòng súng trường bắn phát một đang được trang bị đại trà.
"Binh sĩ của chúng ta vẫn đang chiến đấu bằng súng trường khóa nòng kéo tay, trong khi chúng ta đã biết địch đang thử nghiệm vũ khí bắn liên thanh cỡ nhỏ," Hans trình bày trước hội đồng thẩm định, giọng cậu kiên quyết hơn hẳn ngày đầu rụt rè trước Kessler. "Đây là một khoảng cách hỏa lực không thể chấp nhận được ở cự ly giao chiến trong chiến hào, nơi tốc độ bắn quan trọng hơn tầm xa."
Tổ của Hans đề xuất ba loại vũ khí song song. Một khẩu súng trường bán tự động, nạp đạn bằng khí thuốc súng trích ngược, cho phép bắn liên tiếp mà không cần kéo khóa nòng sau mỗi phát, dành cho bộ binh tuyến đầu cần cả tầm xa lẫn tốc độ bắn. Một khẩu tiểu liên nhỏ gọn, bắn đạn súng ngắn cỡ trung, giá thành cực rẻ nhờ phần lớn thân súng được dập từ thép tấm thay vì phay gia công tỉ mỉ, dành cho các đội xung kích cận chiến trong chiến hào hẹp. Và một khẩu súng máy hạng nhẹ mới, dùng dây đạn vải thay cho băng đạn hộp cứng, đủ nhẹ để một người lính có thể vác chạy giữa trận địa thay vì phải cố định trên giá ba chân như các mẫu cũ.
Một vị tướng già trong hội đồng thẩm định, người đã ngồi im lặng suốt phần lớn buổi trình bày, lên tiếng hoài nghi. "Súng trường bán tự động sẽ khiến binh sĩ bắn phí đạn dược, thiếu kỷ luật hỏa lực. Truyền thống của Đế quốc luôn coi trọng từng phát bắn chính xác, không phải bắn tràn lan."
"Truyền thống ấy được xây dựng cho một cuộc chiến khác, thưa tướng quân," Hans đáp, cố giữ giọng tôn trọng nhưng không lùi bước. "Trong không gian chiến hào hẹp, nơi khoảng cách giao chiến đôi khi chỉ vài mét, tốc độ phản ứng quan trọng hơn độ chính xác tuyệt đối ở tầm xa. Một binh sĩ bắn chậm một phát trong khi đối phương bắn được ba phát không phải là kỷ luật, đó là t-ự sát."
Vị tướng già im lặng một lúc, rồi khẽ gật đầu, không hoàn toàn bị thuyết phục nhưng không còn phản đối. Herrick, quan sát toàn bộ cuộc trao đổi, ghi chú lại điều gì đó vào sổ tay của mình với một vẻ hài lòng khó che giấu.
"Ba loại vũ khí này," Kriger tổng kết trong báo cáo cuối cùng, "không nhắm đến việc tạo ra thứ vũ khí hoàn hảo nhất từng có. Chúng nhắm đến việc lấp đầy đúng khoảng trống hỏa lực mà chúng ta đã bỏ trống quá lâu, bằng những thiết kế đủ đơn giản để hàng trăm nhà máy trên khắp Đế quốc có thể sản xuất cùng lúc, không chỉ vài xưởng chuyên biệt hiếm hoi."
Khi toàn bộ chương trình được phê duyệt, Herrick đứng trước một bàn trưng bày đầy đủ, bộ quân phục có giáp, mũ sắt và mặt nạ thép, bộ trang bị bắn tỉa, và ba khẩu súng mới nằm cạnh nhau, tất cả đều mang dấu ấn của ba con người từng là những kẻ vô danh nhất trong một phân xưởng bảo trì xa xôi.
"Tôi từng hỏi vì sao Bộ Tổng Tham mưu lại giao cho một tổ ba người phụ trách quá nhiều thứ cùng lúc," ông nói, giọng ông mang một sự nghiêm túc hiếm khi ông thể hiện ra ngoài. "Giờ tôi hiểu rồi. Không phải vì các cậu làm được nhiều việc nhất. Mà vì các cậu là những người duy nhất còn nhớ rằng đằng sau mỗi con số thương vong, luôn có một con người cụ thể đang cần một thứ gì đó để sống sót qua ngày mai."
Hans nhìn xuống bàn trưng bày, cảm giác vừa tự hào vừa nặng nề quen thuộc dâng lên trong lòng cậu. Cậu nghĩ đến Trung sĩ Reiss, đến những người lính vô danh sẽ khoác lên mình bộ giáp này, đội chiếc mũ này, cầm khẩu súng này ra chiến trường trong những tháng tới, và tự hỏi, như cậu vẫn luôn tự hỏi sau mỗi thiết kế mới, liệu lần này, những con số thương vong của tháng sau có nhỏ hơn một chút hay không.
Q2·Ch.17: Trang Bị Mới
📖 Quyển 2: Quyển 2