Thiện cảm trong văn học không phải lúc nào cũng bắt đầu từ con số không.
Một người đọc một tác phẩm mới luôn mang theo những gì họ đã đọc trước đó. Họ đã từng gặp những nhân vật tương tự, những tình huống tương tự, những cách giải thích tương tự, những quy tắc của thế giới tương tự. Vì vậy, khi gặp một nhân vật mới, người đọc không chỉ đánh giá nhân vật ấy bằng những gì tác phẩm đang cung cấp, mà còn bằng vốn kinh nghiệm đã tích lũy từ những tác phẩm trước.
Đặc biệt, điều này thể hiện rất rõ ở những tác phẩm cùng thể loại.
1. Người đọc không đọc một tác phẩm trong trạng thái trống rỗng
Người đọc càng đọc nhiều, trong đầu họ càng hình thành một hệ thống những điều đã biết về văn học.
Một người đọc nhiều truyện trinh thám sẽ có những hiểu biết nhất định về cách một vụ án thường được xây dựng.
Người đọc nhiều truyện kiếm hiệp sẽ biết những kiểu nhân vật, môn phái, võ công, ân oán thường xuất hiện.
Người đọc nhiều truyện khoa học viễn tưởng sẽ có những hình dung nhất định về tàu vũ trụ, người máy, nền văn minh ngoài Trái Đất.
Những hiểu biết ấy không nhất thiết được người đọc học thành lý thuyết.
Phần lớn chúng được tích lũy một cách tự nhiên qua quá trình đọc.
Vì vậy, một tác phẩm mới bước vào một hệ thống đã có sẵn trong đầu người đọc.
2. Thiện cảm cũng được tích lũy như vậy
Giả sử một người đọc đã đọc một trăm truyện cùng thể loại.
Trong một trăm truyện ấy, họ nhiều lần gặp một kiểu nhân vật có một đặc điểm nhất định. Đặc điểm ấy dần trở thành một phần trong hình dung của họ về thể loại.
Đến tác phẩm thứ một trăm linh một, tác giả không cần giải thích toàn bộ từ đầu.
Người đọc đã có sẵn kinh nghiệm.
Đây là lý do một nhân vật có thể nhanh chóng tạo thiện cảm mà không cần tác giả xây dựng lại tất cả những nguyên nhân từ con số không.
Người đọc đã từng yêu thích những kiểu nhân vật tương tự.
Họ mang thiện cảm đó sang tác phẩm mới.
Có thể gọi đây là:
> Thiện cảm tích lũy.
Thiện cảm của một tác phẩm vì thế không hoàn toàn chỉ thuộc về riêng tác phẩm ấy. Nó có thể được thừa hưởng từ những gì người đọc đã từng tiếp nhận trước đó.
3. Cùng thể loại thì sự tích lũy càng mạnh
Thể loại càng có nhiều quy ước chung, sự tích lũy càng rõ.
Một người đã đọc rất nhiều truyện xuyên không sẽ hình thành những dự đoán nhất định về xuyên không.
Một người đọc nhiều truyện học đường sẽ hình thành những dự đoán về học đường.
Một người đọc nhiều truyện trinh thám sẽ hình thành những dự đoán về trinh thám.
Những dự đoán này tạo thành một loại kho dữ liệu trong đầu người đọc.
Tác phẩm mới không cần nói hết mọi thứ vì người đọc có khả năng tự bổ sung.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến người đọc lâu năm thường đọc một tác phẩm nhanh hơn người mới đọc thể loại đó.
Không phải vì tác giả viết ít thông tin hơn.
Mà vì người đọc đã có sẵn một phần thông tin trong đầu.
4. Người đọc tự lấp đầy những khoảng trống
Đây là một đặc điểm rất quan trọng.
Tác phẩm không nhất thiết phải nói ra toàn bộ thế giới của nó.
Nếu tác giả viết:
> Cậu ta rút thanh kiếm khỏi vỏ.
Người đọc đã biết thanh kiếm là gì.
Nếu viết:
> Giáo chủ bước vào đại điện.
Người đọc có thể tự hình dung rằng giáo chủ có một vị trí nhất định trong tổ chức.
Nếu viết:
> Cô phù thủy cưỡi chổi bay qua cửa sổ.
Người đọc đã có một lượng kinh nghiệm văn học nhất định để tự hoàn thành hình ảnh ấy.
Những thông tin chưa được nói ra được người đọc bổ sung bằng kinh nghiệm đã có.
Do đó, tác phẩm mới luôn được đọc cùng với những tác phẩm cũ nằm trong trí nhớ người đọc.
5. Nhưng sự tích lũy này cũng tạo ra một nguy cơ: bị lừa dối
Khi người đọc đã xây dựng một hệ thống hiểu biết từ nhiều tác phẩm, họ bắt đầu tin vào một số quy luật.
Nếu tác phẩm mới sử dụng hệ thống ấy rồi đột nhiên phủ nhận nó mà không có lý do thuyết phục, thiện cảm có thể biến mất.
Ví dụ:
Trong truyện X của tác giả Y, Doreamon được xác lập là nhân vật có thể lấy đồ công nghệ từ chiếc túi trước bụng.
Người đọc tiếp tục đọc nhiều tác phẩm khác và đã hình thành hình dung đó.
Sau đó trong truyện B của tác giả C, tác giả giới thiệu Ly Ly là một con người, nhưng lại nói Ly Ly có thể lấy đồ công nghệ từ chính chiếc túi trước bụng theo đúng cơ chế của Doreamon.
Nếu tác phẩm không đưa ra bất kỳ lý do nào cho sự khác biệt ấy, người đọc có thể cảm thấy bị lừa.
Không phải vì Ly Ly nhất thiết là một nhân vật xấu.
Mà vì tác phẩm đã sử dụng niềm tin được tích lũy từ những tác phẩm trước, rồi phá vỡ nó.
Đây là điểm rất quan trọng:
> Thiện cảm có thể mất không phải vì tác phẩm mới làm điều xấu, mà vì nó phản bội những gì người đọc đã tin tưởng.
6. Ngược lại, sự khác biệt không mâu thuẫn có thể làm thiện cảm tăng lên
Không phải mọi sự khác biệt đều là phản bội.
Giả sử truyện B của tác giả C vẫn có Doreamon, nhưng lần này tác giả cho biết Doreamon có một gia đình, nuôi vợ con và có màu xanh lá.
Những thông tin này khác với những gì người đọc từng biết.
Nhưng nếu chúng không phủ nhận một thông tin đã được xác lập, người đọc có thể tiếp nhận chúng như những thông tin mới.
Thậm chí, sự bổ sung ấy còn có thể làm thiện cảm tăng lên.
Người đọc có cảm giác:
> Hóa ra nhân vật này còn có một mặt khác mà trước đây mình chưa biết.
Đây là sự khác biệt giữa:
Bổ sung thông tin
và
phủ nhận thông tin.
Bổ sung có thể mở rộng hình tượng.
Phủ nhận không có căn cứ có thể phá hủy hình tượng.
7. Thiện cảm vì thế có tính liên tác phẩm
Một người đọc không chỉ có quan hệ với từng tác phẩm riêng biệt.
Các tác phẩm mà họ từng đọc tác động lẫn nhau trong trí nhớ của họ.
Tác phẩm sau được đặt cạnh tác phẩm trước.
Nhân vật này được so sánh với nhân vật kia.
Cách xây dựng thế giới này được đối chiếu với cách xây dựng thế giới khác.
Một tác giả mới có thể vô tình hoặc cố ý kế thừa thiện cảm mà những tác phẩm trước đã tạo ra.
Nhưng họ cũng có thể phá hủy thiện cảm đó nếu sử dụng những quy ước mà người đọc đã tin tưởng rồi tùy tiện thay đổi chúng.
Vì vậy:
> Thiện cảm của người đọc đối với một tác phẩm là kết quả của cả lịch sử đọc, không chỉ của vài trăm trang tác phẩm đang nằm trước mắt.
8. Đây cũng là một cơ chế hình thành công thức thể loại
Khi hàng trăm, hàng nghìn tác phẩm cùng thể loại liên tục đưa ra những đặc điểm tương tự, người đọc bắt đầu nhận ra chúng.
Một tác phẩm đưa ra một quy tắc.
Tác phẩm thứ hai sử dụng lại.
Tác phẩm thứ ba biến đổi nó.
Tác phẩm thứ tư bổ sung một trường hợp khác.
Qua quá trình đó, trong đầu người đọc hình thành một mô hình của thể loại.
Mô hình ấy không nhất thiết do một tác giả duy nhất tạo ra.
Nó có thể được hình thành từ sự tích góp của rất nhiều tác phẩm.
Đến một lúc nào đó, người đọc không còn cần tác giả giải thích nữa.
Họ tự hiểu.
Đây chính là một phần của cái có thể gọi là công thức thể loại.
Công thức không nhất thiết bắt đầu bằng việc một nhà văn ngồi xuống và viết ra:
> Thể loại này phải có A + B + C.
Nó có thể hình thành ngược lại:
> Tác phẩm A có A.
> Tác phẩm B có A + B.
> Tác phẩm C có A + B + C.
> Người đọc tiếp xúc với tất cả những tác phẩm ấy.
> Dần dần, A + B + C trở thành điều họ mặc nhiên chờ đợi.
9. Người đọc càng có vốn đọc, tác giả càng phải đối mặt với “ký ức thể loại”
Đây là lý do một chi tiết tưởng như vô nghĩa đối với người mới đọc lại có thể trở thành vấn đề rất lớn đối với người đọc lâu năm.
Người mới chưa có gì để đối chiếu.
Người đọc lâu năm thì có cả một kho tác phẩm trong đầu.
Họ nhớ:
nhân vật này đã từng làm gì;
loại thế giới này thường vận hành thế nào;
một tình huống tương tự từng được giải quyết ra sao;
một tác giả khác từng xây dựng nhân vật như thế nào;
những quy tắc nào thường được giữ;
những quy tắc nào thường bị phá.
Vì vậy, vốn đọc vừa giúp người đọc dễ tiếp nhận tác phẩm, vừa khiến họ khó bị thuyết phục bởi những thứ thiếu nhất quán.
Đó cũng là lý do một tác giả càng muốn viết cho người đọc lâu năm của một thể loại, càng phải hiểu những gì người đọc đã tích lũy trước khi bước vào tác phẩm của mình.
Kết luận
Thiện cảm trong văn học không phải một cảm xúc được tạo ra hoàn toàn từ con số không trong từng tác phẩm.
Nó có thể được tích lũy qua nhiều lần đọc.
Tác phẩm trước tạo kinh nghiệm.
Kinh nghiệm tạo kỳ vọng.
Kỳ vọng tạo thiện cảm hoặc ác cảm.
Tác phẩm sau kế thừa, bổ sung hoặc phá vỡ kỳ vọng ấy.
Và khi hàng loạt tác phẩm cùng thể loại liên tục tác động qua lại trong trí nhớ người đọc, chúng dần tạo nên một hệ thống quy ước mà người đọc có thể tự hiểu và tự bổ sung ngay cả khi tác phẩm không nói ra.
Đó là một trong những nền tảng để công thức thể loại hình thành trong cả người viết lẫn người đọc.