Hôm nay là ngày 2 tháng 12.
Và dường như, thứ duy nhất thay đổi cũng chỉ là những con số trên tờ lịch mà thôi. Đối với tôi, ngày nào cũng như ngày nào, chỉ có thức dậy rồi làm việc, chẳng thêm cũng chẳng bớt. Cuộc sống thật chẳng có gì mới mẻ, cứ nhàm chán lặp đi lặp lại như một vòng lập vô tận vậy.
Hừm... Nói như thế thì nghe có vẻ tôi đang đòi hỏi quá nhiều nhỉ?
Thật ra, tôi biết mỗi người đều có một vòng lập của riêng mình. Nhưng cái vòng lập của người khác dường như luôn xen kẽ những buổi đi chơi cùng bạn bè, những buổi hẹn hò với người yêu, hay những ngày sum họp bên gia đình, họ hàng vào dịp Tết , nó là khoảng thời gian đông vui và thật ấm áp làm sao.
Ồ, tốt thật đấy!
Vậy còn tôi thì sao?
Tôi chẳng có bất cứ thứ gì trong số đó cả. Bạn bè, người thân... tất cả đều chẳng có. Thế giới của tôi lúc nào cũng cô độc và lạnh lẽo. Nó đúng nghĩa là “không thêm, không bớt”, giống như những gì tôi đã nói ở trên.
Tôi luôn như vậy, luôn một mình và im lặng, chẳng khác nào một món đồ vật vô tri vô giác, không đáng để người ta quan tâm hay chú ý đến. Từ khi còn rất nhỏ, tôi đã lờ mờ nhận ra sự “khác biệt” của bản thân. Có thể nói, tôi không giống với những người bình thường khác, mà những người bình thường thì chẳng ai lại muốn dính dáng gì đến một kẻ “khác biệt” như tôi cả.
Tôi làm việc tại một quán cà phê có tên là Cà phê Cú Đêm. Nhiệm vụ của tôi là bưng bê đồ uống, thanh toán cho khách, thỉnh thoảng thì quét dọn các kiểu. Nói chung, toàn là những công việc lặt vặt. Công việc này mang lại cho tôi một khoản thu nhập nho nhỏ để trang trải phần nào tiền học phí.
Ở đây không chỉ có mỗi mình tôi, tôi còn có vài người đồng nghiệp khác và hình như họ cũng trạc tuổi tôi, nhưng có vẻ chẳng ai ưa tôi cho lắm. Trong lúc làm việc, họ thường xuyên trêu đùa, trò chuyện với nhau. còn tôi thì hiển nhiên luôn bị ra rìa. Bản tính tôi vốn ít nói, lúc nào cũng chỉ lầm lũi chú tâm vào phần việc của mình.
Tôi vừa đưa cho khách một ly cà phê thì bỗng nhiên, một bà chị từ đâu ra xuất hiện, huých mạnh vào tay tôi một cái rồi buông lời trêu chọc đầy mỉa mai:
”Hừm, đừng có lúc nào cũng trơ cái mặt như đưa tang ra cho ai coi vậy. Tôi mà là chủ cái quán này thì đã đuổi cậu từ lâu rồi. Đi rửa cái bản mặt của cậu cho bớt xui xẻo đi, nhìn mà thấy ghét chết đi được!”
Ả ta hình như cũng là sinh viên đại học như tôi, và là người duy nhất ở đây tỏ thái độ ghét tôi ra mặt. Mỗi lần nghe ả buông lời kích đểu hay nói xấu sau lưng, tôi chẳng buồn bận tâm. Lần này cũng vậy, tôi chỉ hờ hững đáp lại một chữ “Vâng” cho qua chuyện, rồi lẳng lặng bước về phía nhà vệ sinh ở sâu trong góc quán. Đằng nào thì lúc này, tôi cũng muốn chuồn đi một lát để tìm kiếm chút sự bình yên.
Nhà vệ sinh được tôi dọn dẹp khá sạch sẽ. Tôi bật vòi nước, dòng nước chảy ào ào như thác đổ. Dội vài ngụm nước lạnh buốt lên mặt, làm tôi cảm thấy bản thân tỉnh táo hơn đôi chút và rồi tôi ngẩng đầu lên nhìn thấy chính mình trong gương.
Thú thật thì con ả kia nói cũng không sai. Bản thân tôi trông thật sự tàn tạ đến mức có thể khiến người khác giật mình. Làn da trắng bệch, nhợt nhạt. Mái tóc đen ngắn hơi dài quá mức cần thiết, lộn xộn và bù xù, chẳng được chải chuốt tử tế. Những lọn tóc mái rũ xuống trước trán, lòa xòa che khuất một phần đôi mắt, càng khiến gương mặt tôi trông thiếu sức sống.
Đôi mắt lúc nào cũng có vẻ u buồn như đang sắp khóc,quầng thâm nhàn nhạt dưới mắt cùng vẻ mặt lờ đờ chẳng khác nào một kẻ vừa trải qua mấy đêm mất ngủ liên tiếp.
Tôi mặc một chiếc áo len xám không tay bên ngoài là áo sơ mi cũ màu trắng, khoác thêm chiếc tạp dề của quán cà phê lên người. Vì thời tiết khá lạnh nên tôi mới mặc thêm áo để giữ ấm. Bộ đồ trông hơi luộm thuộm, cổ áo sơ mi lệch đi một chút, tạp dề cũng chẳng được buộc ngay ngắn cho lắm.
Nói đi cũng phải nói lại, tôi chẳng có gì nổi bật ngoài gương mặt trông còn có thể xem là dễ nhìn một chút. Đường nét không đến nỗi tệ, thậm chí nếu chịu khó chăm chút bản thân thì có lẽ cũng được coi là một người đẹp trai. Tiếc rằng tôi chẳng biết tận dụng nó cứ để mặc bản thân ngày một trở nên nhếch nhác, đến mức chút ưu điểm ít ỏi trời ban ấy cũng dần trở nên vô dụng.
Nhìn bộ dạng thảm hại của mình trong gương, cuối cùng vẫn phải thốt lên rằng nếu để đạo diễn của mấy bộ phim xác sống ngôn tình nhìn thấy tôi. Để vẽ lên một câu chuyện về chàng zombie và cô gái loài người hoàn hảo chắc chắn họ sẽ mời tôi làm nam chính mất. Đến lúc đó, họ cũng chẳng cần tốn công hóa trang làm gì, bởi ngay trước mắt đã có sẵn một con zombie hàng thật giá thật rồi.
Đột nhiên, tay tôi vô tình chạm phải thứ gì đó trong túi áo. Cảm nhận được một vật hình chữ nhật mỏng mỏng, theo bản năng tôi liền lấy ra xem thử.
Đó là một tấm ảnh đã cũ đến mức sờn rách ở các góc, bên trong là hình một người đàn ông trạc hai mươi tuổi. Ông mặc một chiếc áo vest lịch lãm. Sở hữu mái tóc đen nhánh, được vuốt keo gọn gàng và chỉn chu gương mặt phải nói là đẹp trai chẳng kém gì những nam ca sĩ đứng dưới ánh đèn sân khấu nhưng có vài nét na ná giống tôi.
Phải rồi, đó là cha tôi.
Đây là tấm ảnh duy nhất tôi có về ông, cũng chính là di ảnh được đặt trên bàn thờ. Trong ảnh, ông cười rất tươi, đôi mắt sáng ngời tràn đầy hy vọng.
Thế nhưng, trong ký ức ít ỏi của tôi, ông ấy lại chẳng hề giống với người đàn ông trong ảnh gì cả, cứ như thể đó là hai con người hoàn toàn khác nhau. Bởi từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ thấy cha hạnh phúc đến vậy, càng chưa từng được nhìn thấy ông cười với tôi như thế.
Hồi nhỏ, tôi sống cùng ông ấy trong một căn nhà trọ cũ kỹ, rách nát và bừa bộn. Cái nghèo đã đeo bám tôi từ thuở bé cho đến tận bây giờ. Nhưng ít ra, nơi đó vẫn rộng rãi và đầy đủ tiện nghi hơn căn phòng trọ hiện tại mà tôi đang ở.
Còn về lão già nhà tôi, ông ấy vốn sở hữu một gương mặt khá điển trai, đường nét rõ ràng nhưng không hề có mái tóc đen kiểu thư sinh như trong ảnh mà là một quả đầu trắng bốc nhìn như trẻ trâu đã thế còn xăm trổ đầy mình rồng bay phượng múa, tôi nghe mấy bà hàng xóm nhiều chuyện chỗ tôi gọi đấy là mấy thằng “đầu đường xó chợ “, không những thế bằng một cách thần kì nào đó mà cha tôi rất có danh tiếng một cách tai tiếng ở khu phố chỗ tôi người người nhà nhà đều biết đến. Ông ấy đi đến đâu là người khác phải sợ hãi chạy vội. Tôi thường ngồi trong nhà chờ ổng về. Mỗi lần nghe đám giang hồ quanh đó hốt hoảng la lên:
“Lão Cường tới kìa! Anh em, trốn mau!”
Là tôi biết, ông ấy đã về rồi. Nó như là một cái chuông báo thức miễn phí cho tôi vậy.
Căn nhà có một phòng ngủ, và tất nhiên, chỉ mình ông ấy được sử dụng. Hồi còn học cấp hai trở xuống, tôi chỉ có thể ngủ ở một góc phòng khách, trải một chiếc chăn mỏng ngay trước cửa ra vào. Chỗ ngủ của tôi chẳng khác nào ổ nằm của một con chó nhỏ canh nhà, chỉ cần có người bước qua là có thể bị đánh thức bất cứ lúc nào.
Tôi chỉ nhớ rằng, khi còn nhỏ, cha thường xuyên dẫn phụ nữ về nhà vào mỗi tối. Kỳ lạ ở chỗ, mỗi lần như vậy, người đi cùng ông đều là một gương mặt khác nhau. Họ đến rồi đi, đôi khi tôi còn chẳng kịp nhớ rõ dáng vẻ của người trước thì người sau đã xuất hiện. Tôi không biết ai trong số họ là mẹ mình.
Có một lần, vì tò mò, tôi đã thử níu lấy vạt váy của một trong những người phụ nữ vừa được ông dẫn về, ngước đầu nhìn bà ta rồi gọi:
“Mẹ ơi…”
Bà ta chỉ khựng lại một chút nhìn tôi một cái bằng ánh mắt khinh bỉ và chán ghét như kiểu nhìn thấy một kẻ ăn xin dơ bẩn. Sau đó, bà quay sang cha tôi, khẽ cau mày.
“Có thằng ranh con này ở đây, liệu có ổn không anh?”
“Kệ nó, nó thì biết gì.”
Thế rồi ông ấy dắt bà ta vào phòng ngủ khoá chặt cửa lại tôi không biết họ đã làm gì trong đó chỉ biết ngày hôm sau người phụ nữ đó đã rời đi từ lúc nào mà thay vào một người mới cứ thế mà tiếp tục.
Đó là sự “khác biệt” đầu tiên mà tôi nhận ra giữa mình và những đứa trẻ khác. Bạn bè cùng lớp thường nói rằng chúng nó chỉ có một người mẹ và một người cha, còn tôi lại có rất nhiều mẹ. Chỉ tiếc rằng, những bà mẹ ấy chẳng bao giờ ở được lâu họ còn không thèm nói chuyện với tôi nữa.
Tôi vốn là một đứa thấp bé hơn hẳn so với bạn bè đồng trang lứa. Cũng phải thôi, bởi tôi có được ăn uống đầy đủ bao giờ. Cha mặc kệ tôi, để tôi tự sinh tự diệt, chẳng buồn quan tâm hay chăm sóc. Ổng cứ đi suốt ngày, chẳng mấy khi về nhà. Chỉ đến khi ổng trở về thì tôi mới có cái ăn, mà cũng chẳng phải thứ gì tử tế, đôi khi chỉ là một ổ bánh mì hay vài món linh tinh nào đó được ông tiện tay vứt cho.
Có vẻ như cái hoàn cảnh khốn khổ ấy chẳng thể khiến tôi biết thân biết phận mà ngoan ngoãn hơn. Trái lại, tôi còn là một đứa cực kỳ lì lợm, rất lì là đằng khác.
Với vóc dáng thấp bé cùng cái bộ dạng nghèo khổ chẳng khác nào ăn xin, tôi luôn là đối tượng bị bắt nạt ở trường, từ cấp này sang cấp khác. Bởi vậy, những tháng ngày ngồi trên ghế nhà trường của tôi chẳng mấy khi được yên bình. Nhưng tôi chưa bao giờ chịu ngoan ngoãn cúi đầu để mặc chúng nó muốn làm gì thì làm. Hễ có đứa nào kiếm chuyện, tôi liền đánh trả đến cùng, thậm chí còn ăn vạ cho bằng được. Dù có phải chịu hậu quả thế nào, tôi cũng nhất quyết không chịu nhận sai.
Mỗi lần đánh nhau xong may thì không có gì xui thì bị giám thị nhìn thấy hoặc đứa kia chơi bẩn đi mách lẻo, tôi lại bị lôi lên phòng giám thị xử lý. Nhưng với tôi, đó chẳng khác nào một cuộc thi xem ai khóc to hơn, và tất nhiên tôi luôn là người chiến thắng. Mấy đứa ranh con ngày ấy làm sao mà khôn bằng tôi được. Trong khi tụi nó bị hỏi tội chỉ biết ngơ ngác đứng hình, thì tôi đã kịp bật chế độ "diễn viên", khóc lóc bù lu bù loa với bộ dạng không thể tội nghiệp hơn cộng với mấy vết thương lớn nhỏ do bị cha đánh. Nhìn tôi lúc đó càng trông giống nạn nhân hơn.
Thầy cô không ít lần đã đau đầu với tôi nhưng họ đều cho qua hoà giải, thằng kia có ấm ức không chịu đến mấy thì cũng phải chịu thôi vì lý do đó sau bao nhiêu trận đánh nhau mà tôi vẫn giữ được hạnh kiểm tốt yên ổn lên lớp.
Đừng thấy thân hình nhỏ bé của tôi mà coi thường. Tuy không có sức khỏe bằng chúng nó, nhưng tôi lại sở hữu một “kỹ năng” mà bản thân tâm đắc nhất, thứ đã giúp tôi giành chiến thắng trong không ít trận đánh nhau. Đó chính là kỹ năng túm tóc đối thủ.
Nghe thì có vẻ buồn cười, nhưng nó hiệu quả lắm đấy! Chỉ cần vòng ra phía sau, túm chặt tóc đối phương rồi giật liên tục vài cái, nhất quyết không buông dù có bị đánh thế nào đi chăng nữa. Đến khi đau quá, đối phương kiểu gì cũng phải mở miệng xin tha.
Tất nhiên, “ kỹ năng” này vẫn có điểm yếu. Khả năng phòng thủ của nó không cao, hơn nữa chỉ phát huy tác dụng tốt nhất khi đánh tay đôi. Chứ nếu phải đối đầu với năm, sáu thằng cùng lúc thì tôi cũng đâu có mọc thêm mấy cánh tay để túm đầu từng đứa một.
Trong trường hợp đó, tôi chỉ còn cách nhắm thẳng vào thằng đầu đàn. Dù biết kiểu gì mình cũng bị đám đàn em của nó đấm đá túi bụi, tôi vẫn nhất quyết không buông tay. Bởi vì chúng nó càng cố kéo tôi ra thì càng vô tình giật mạnh tóc thằng đại ca của mình.
Ở xóm tôi có một thằng chuyên bắt nạt bạn bè. Đám trẻ trạc tuổi tôi ngày ấy đứa nào cũng sợ nó, hễ có đồ ăn ngon là phải ngoan ngoãn giao hết ra, nếu không muốn bị ăn đòn. Nó có biệt danh là Lý Béo, bởi thân hình mập mạp, núc ních chẳng khác nào con heo. Ai cũng gọi nó như thế, và tôi cũng chẳng ngoại lệ.
Vì thường xuyên bị nó bắt nạt nên tôi vô cùng ghét cay ghét đắng cái thằng béo ú đó. Nó vốn bị lưu ban mấy năm do học dốt mà cái mặt của nó lúc nào cũng trông thật bố láo, coi trời bằng vung nhìn mà chỉ muốn đấm cho vài cái.
Có lần, đám trẻ trong xóm hẹn nhau chơi trò diễn kịch Tây Du Ký. Đến lúc phân vai, Lý Béo nhất quyết đòi đóng Tôn Ngộ Không. Nhìn cái điệu bộ vênh váo của nó, tôi ngứa mắt không chịu được, bèn buột miệng châm chọc:
“Mày tự nhìn lại cái thân mày đi! Tôn Ngộ Không nào mà mập ú như mày, đến lúc múa gậy chắc cũng chẳng nổi! Tao thấy chỉ có vai Trư Bát Giới là hợp nhất thôi.”
Vừa dứt lời, cả đám đã ôm bụng cười hô hố. Mặt Lý Béo đỏ bừng vì tức giận và xấu hổ, đôi mắt trợn trừng nhìn tôi.
“Mày chán sống rồi đúng không? Dám xúc phạm tao à? Mày bảo ai là Trư Bát Giới hả?! Nhìn cái thân gầy như que củi của mày đi! Hôm nay tao không đánh mày tàn phế thì tao không mang họ Lý!”
Nghe vậy, tôi vừa tức vừa ấm ức, lập tức cãi lại:
“Tao nào có được ăn uống đầy đủ như chúng mày! Mày giỏi thì qua nhà tao mà ở, đổi cha mẹ mày cho tao đi!”
Nhà nó có sạp thịt lợn khá lớn, gia cảnh cũng thuộc hàng khá giả. Cha mẹ lại chiều chuộng hết mực, muốn gì cũng mua cho. Nói thật, tôi ghen tị với nó lắm. Cùng là trẻ con trong xóm, vậy mà nó chẳng phải lo gì sướng như vua.
“Chắc tại mày không ngoan nên cha mày mới chẳng thương mày đấy! Mẹ mày thì cũng bỏ đi rồi, đúng là đáng đời mà!”
Câu nói ấy như chọc thẳng vào chỗ đau nhất trong lòng. Tôi tức đến đỏ cả mắt, gần như là hét toáng lên:
“Tao có muốn thế đâu! Mày thì biết cái gì chứ?!”
Nói xong, hai đứa đã lao vào choảng nhau từ lúc nào chẳng hay. Vẫn như mọi khi, tôi nhanh chóng vòng ra sau lưng nó, vồ lấy mấy cọng tóc ít ỏi trên đầu rồi ra sức giật mạnh. Tuy chẳng có bao nhiêu tóc để túm, tôi vẫn nắm được một nhúm, kéo đến mức cứ như sắp lột cả da đầu nó xuống.
Nó còn chưa kịp ra đòn, tôi đã khiến nó đau đến mức la oai oái.
“Ối mẹ ơi, đau quá! Đại ca tha em! Em không dám nữa đâu, em xin lỗi mà!”
Nghe nó van xin, tôi mới hài lòng buông tay. Nó lập tức bật dậy, co giò chạy mất, nhưng vẫn không quên ngoái đầu lại hét với tôi:
“Mày đợi đấy! Tao về méc mẹ!”
“Thằng hèn!”
Tôi chửi thầm, phủi mấy cọng tóc còn dính trên tay rồi nở một nụ cười của kẻ chiến thắng.
Con bạn thường chơi cùng tôi kéo tay áo tôi, vừa nhìn theo bóng nó vừa hỏi:
“Mày gan thật đấy! Không sợ nó về méc rồi mày chết à?”
“Hứ, méc thì làm được gì chứ? Thằng cha tao còn chẳng thèm quan tâm đến mấy chuyện này, ai làm gì được tao?”
Tôi đáp bằng giọng điệu đầy ngông cuồng. Con bé chỉ cười hề hề, sau đó như chợt nhớ ra chuyện gì, nó hào hứng nói:
“À, mà này! Mày biết tối nay ở chợ có lễ hội không? Nghe nói có Tôn Ngộ Không biểu diễn ảo thuật, còn có cả văn nghệ nữa. Khoảng bảy giờ tối ấy! Hôm nay tao được mẹ dẫn đi đấy.”
“Có Tôn Ngộ Không biểu diễn ảo thuật á? Vậy tao cũng đi!”
Tôi lập tức sáng mắt lên. Trước đây, không ít lần tôi trốn vào thư viện để tránh những trận đòn của cha, rồi tiện thể lôi mấy cuốn truyện tranh Tây Du Ký ra đọc. Cũng từ đó, tôi đặc biệt yêu thích Tôn Ngộ Không, con khỉ tinh nghịch với đủ thứ phép thuật thần kỳ ấy.
“Không được, mày không thể tự đi đâu!” Con bé vội vàng lắc đầu. “Chúng ta còn là trẻ con, phải có người lớn dẫn đi. Nếu không, mày sẽ bị bắt cóc đấy! Người ta còn mổ bụng lấy nội tạng đem bán nữa cơ! Mẹ tao bảo thế, mày có muốn bị như vậy không?”
Nói đến đây, nó còn hoảng hốt xua tay như thể chuyện ấy có thể xảy ra ngay trước mắt.
Tôi nghe xong cũng bất giác rùng mình. Nghĩ đến cảnh bị người ta mổ bụng rồi đem nội tạng đi bán, tôi lập tức thấy sợ chết khiếp.
Im lặng một lúc, tôi đành miễn cưỡng lên tiếng:
“Nếu vậy thì… tao kêu thằng cha nhà tao dẫn đi là được chứ gì.”
Nói vậy thôi chứ muốn xin lão đưa đi chơi đúng là chuyện khó hơn lên trời mà. Thậm chí, tôi còn chẳng biết hôm nay lão có ở nhà hay không nữa. Dù vậy, tôi vẫn vội vã chạy về, trong lòng ôm chút hy vọng mong manh rằng cha đang ở nhà.
Và may mắn thay, ông ấy thật sự có nhà. Nhìn thấy bóng dáng lão tựa lưng trước cửa, miệng ngậm điếu thuốc, tôi lập tức nhen nhóm thêm một tia hy vọng. Tôi vội chạy đến, háo hức gọi:
“Cha ơi, hôm nay có lễ hội…”
“Không, tao bận.”
Tôi còn chưa kịp nói hết câu, lão đã thẳng thừng từ chối. Thế nhưng, tôi vẫn không chịu bỏ cuộc. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng tôi quyết định nằm lăn ra đất, vừa khóc vừa giở trò ăn vạ.
“Huhu… mấy đứa trong lớp ai cũng được cha mẹ nó dẫn đi hết mà! Con cũng muốn xem Tôn Ngộ Không ngoài đời trông như thế nào… Cha dẫn con đi lần này thôi, con xin cha đấy!”
Và một tiếng choang chói tai, đầu tôi tự nhiên đau nhói. Một dòng chất lỏng ấm nóng từ từ chảy xuống, men theo thái dương rồi lăn dài trên má. Lão đã cầm nguyên chai rượu đập thẳng vào đầu tôi.
Cơn đau khiến tôi chết lặng. Tôi ngồi bất động mất mấy giây, đầu óc trống rỗng, cả người ngây ra như một pho tượng. Mọi chuyện xảy ra quá đột ngột, đến mức tôi còn chưa kịp hiểu chuyện gì vừa xảy ra.
Còn lão, sau khi ra tay, thậm chí chẳng buồn nhìn tôi lấy một lần. Ông ta thản nhiên bỏ đi, mặc kệ tôi ngồi co ro trên nền đất lạnh, một mình ôm lấy cái đầu sưng vù, máu vẫn không ngừng chảy xuống.
Khoảng một lúc sau tôi mới hoàn hồn lại được cơn đau ập đến dữ dội khiến nước mắt tôi cứ thế mà trào ra lần này tôi đã khóc thật, khóc vì đau chẳng phải vì ăn vạ hay diễn kịch gì hết, tôi cứ lăn đi lăn lại trên nền đất chẳng phải vì cho ai coi cả là vì đau mà thôi…..
Nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường, lúc này đã là hai giờ hai mươi tư phút sáng. Cha đi lâu thật. Từ lúc bị ổng đánh đến giờ, tôi vẫn chưa thấy ổng trở về. Cái bụng đói cồn cào khiến tôi chẳng tài nào chợp mắt nổi. Như tôi đã nói, chỉ khi ổng về nhà, tôi mới có cái ăn. Hôm nay tôi chỉ mới ăn mỗi bữa sáng, đói đến mức không chịu nổi, đành phải ra ngoài ngồi trước cửa, nghịch mấy cục đá để giết thời gian, vừa chơi vừa chờ ổng về.
Cuối cùng, ổng cũng trở về, trên tay còn xách thêm một chai rượu mới. Dù vừa bị ổng đánh cho một trận, nhưng lúc này tôi đã sắp chết đói đến mức chẳng còn tâm trí đâu mà giận dỗi. Vừa thấy ổng, tôi lập tức nhào tới, chẳng khác nào một con chó con mừng rỡ chạy ra đón chủ.
“Cha, con đói rồi. Cha có đem gì về ăn không?”
Tôi ngước lên hỏi, nhưng ổng chỉ hờ hững đáp:
“Không có. Nhưng tao cũng chưa ăn gì, để tao dẫn mày ra chợ.”
Nói xong, ổng nắm lấy bàn tay nhỏ bé của tôi rồi dắt đi. Ổng dẫn tôi đến khu chợ gần nhà nhất, dù vẫn phải đi một quãng đường khá dài. Đây cũng chính là khu chợ mà con bạn tôi đã nhắc đến.
Đúng thật, tôi đã thành công trong việc khiến ổng đưa mình đi, nhưng tiếc là đã quá muộn rồi. Nhóm văn nghệ đã giải tán từ bao giờ, Tôn Ngộ Không chắc cũng đã về nhà ngủ mất. Chẳng còn gì để xem nữa, chỉ còn lại những gian hàng bày bán đủ thứ trên trời dưới đất.
Mặc dù đã muộn, khu chợ đêm vẫn đông đúc, tấp nập người qua lại. Hai bên đường là những sạp hàng san sát nhau, được trang trí bằng những chiếc lồng đèn đỏ rực rỡ. Khu chợ chủ yếu bán đồ ăn vặt, nào là những xiên kẹo hồ lô bóng loáng được treo trước quầy, nào là thịt xiên nướng, chân gà cay nghi ngút khói. Mùi thơm hấp dẫn lan tỏa khắp nơi, khiến cái bụng vốn đã đói meo của tôi càng thêm cồn cào. Tôi thèm đến mức chỉ biết nuốt nước miếng, mong ổng mau chóng mua thứ gì đó cho mình ăn.
Đi được một lúc, ổng dừng chân trước một sạp hàng bán bánh bông lan. Sau khi mua hai chiếc, ổng đưa cho tôi một cái. Chiếc bánh chỉ lớn bằng nắm tay người trưởng thành, vẫn còn âm ấm khi tôi cầm lấy. Hơi nóng truyền qua lòng bàn tay bé nhỏ, mang đến cho tôi cảm giác ấm áp lạ thường.
Đến tận bây giờ, tôi vẫn còn nhớ rõ hương vị thơm mềm, thoang thoảng mùi sữa của chiếc bánh ấy. Đó là món ngon nhất mà tôi từng được ăn. Bỗng nhiên, tôi cảm thấy hình như ổng cũng không tệ đến thế.
Thế nhưng, chẳng hiểu sao khi cắn đến miếng thứ hai, hốc mắt tôi lại cay xè. Nếu cha không ở đây, có lẽ tôi đã bật khóc mất rồi. Nhưng tôi chẳng hiểu nổi tại sao mình lại muốn khóc. Tôi đâu có bị ổng đánh nữa, vậy thì tại sao chứ? Tôi tự thấy bản thân ngày đó thật khó hiểu.
Tôi vừa đi vừa nhấm nháp chiếc bánh, bàn tay bé xíu nằm gọn trong lòng bàn tay to lớn của cha. Giữa dòng người đông đúc, hai thân hình một lớn một nhỏ cứ thế nắm tay nhau, chậm rãi bước về phía trước.