🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.5: Nón Lá Rẽ Góc Khuất, Rồng Đen Hiện Nguyên Hình

~30 phút đọc · 5920 từ · · ⚠️ Báo cáo

Người trong Phủ Tường Loan thường hay nửa đùa nửa thật nói với khách thập phương rằng ở chỗ họ nhiều hiệu thuốc hơn quán rượu. Ai có bệnh mà nghe vậy liền tin sái cổ, ba chân bốn cẳng khăn gói tới tìm thầy thuốc. Lời đó cũng không phải thiếu cơ sở, bởi hầu như nhà nào dọc phố cũng treo một quả hồ lô trước hiên, hồ lô càng to thì hiệu càng lớn, còn quán rượu thì lèo tèo dăm quán và chỉ mở về chiều muộn. Sáng ra, khách cứ đứng từ đầu ngõ là ngửi được mùi cam thảo, trần bì cùng đương quy sao vàng quyện vào nhau thơm lừng. Còn khi mặt trời lặn, mấy quán rượu mới rệu rã mở cửa, khách khứa cũng chỉ có vài vị đã nhẵn mặt chủ quán.

Đêm xuống, khi các nhà đã tắt đèn cài then, những nhân dạng vất vưởng không ai tiếp đón bắt đầu hiện ra. Trước đây thì không thế, chỉ có lác đác vài kẻ, người ta kháo nhau là đám ăn mày chết đói. Nhưng rồi những bóng hình co ro khúm núm cứ kéo tới ngày một đông hơn, giang hồ đồn là do đám người đó luyện phải thứ tà công từ vùng Tử Địa. Đám thầy lang trong phủ miệng thì nhận trị được bách bệnh mà hễ thấy ai gân đen là đuổi thẳng cổ.

Một bóng người đội chiếc nón lá lụp xụp chậm rãi lướt qua dãy người bệnh. Vành nón che khuất nửa khuôn mặt, tấm áo choàng sẫm màu phủ kín từ bờ vai thon đến tận gót chân. Người ấy cứ thế lướt giữa đám nhân dạng đang nằm la liệt trên những thềm đá, tà áo choàng uyển chuyển né qua mọi nếp áo bết mồ hôi, bước chân nhẹ tựa tiếng lá khô chạm nền đất. Cái nón tuần tự luân phiên đảo từ trái qua phải theo chuyển động cổ, như thể người đó đang lắng nghe.

Ánh trăng lướt qua vành nón làm lộ đôi mắt trong veo được bao trọn bởi hàng mi dày. Đôi mắt trong trẻo ấy tuần tự khép hờ sau mỗi bước chân. Nàng đang lắng nghe họ.

Từ nhỏ, nàng đã được dạy cách lắng nghe tiếng chân khí của người khác. Người khoẻ mạnh phát ra tiếng lưu chuyển như tiếng nước chảy róc rách. Còn những kẻ đang nằm vật vờ nơi đây, tiếng chân khí của họ cứ rền rĩ như ai đó bỏ quên ấm nước bên bếp lửa. Tiếng động nghe lục bục, thi thoảng cuộn trào dữ dội. Nàng tới đây được ít hôm, đêm nào cũng nghe thấy tiếng ấm nước như vậy.

Khi bước chân vẫn còn đang đi qua hàng người một cách vô định tới quá nửa canh hai, đôi tai nàng chợt bắt được một tiếng rít lớn hơn tất thảy. Vành nón lá quay phắt về phía con ngõ cụt khuất sau dãy nhà của đám thầy lang. Tiếng động ấy, nếu phải để đong đếm, nghe như cả chục chiếc ấm đang thi nhau trào bọt trên than hồng. Chưa kịp định thần thì một tiếng thét của phụ nữ cắt ngang dòng suy nghĩ, rồi đột ngột tắt ngấm. Bóng áo choàng tức tốc lướt tới hướng con ngõ.
Chừng ba chục bước thì căn nhà cuối ngõ hiện ra trước mắt, ngói lợp lá xác xơ, cánh cửa gỗ xộc xệch khép hờ. Nàng đẩy toang cửa bước vào. Ập vào mắt là một ngọn đèn dầu bị đánh đổ trên nền với cái bấc còn cháy leo lét, ánh sáng hắt lên bức vách những cái bóng dị hình dị dạng. Ngay giữa nhà là một gã đàn ông lộ thân trên, da thịt chằng chịt vết sẹo do đao kiếm, đích thị là một tên thảo khấu chuyên cướp của. Nhìn kĩ hơn, trên mặt lớp da thịt ấy là những đường gân đen ngoằn ngoèo và giật cục. Cả gian nhà sực lên thứ mùi là lạ, tựa hồ mùi trầm hương lẫn với thịt rữa.

Người đàn bà co rúm trong góc nhà, thị nép mình sát vào chân chum gạo. Tóc thị rũ rượi, một bên má sưng tấy, hai tay ôm khư khư lấy đầu. Gã đàn ông giơ chiếc đòn gánh lên quá đầu, đôi mắt gã đỏ ngầu. Nàng nghe rõ chân khí trong người gã đang bạo phát theo cơn cuồng nộ, nó cuộn trào từ đan điền rồi dồn lên hai cánh tay, đe doạ xé nát cỗ thân thể. Cơn bộc phát chân khí ép gã thảo khấu gầm lên như thú dữ.

Người đàn bà còn chưa kịp khóc lên tiếng nữa thì thân ảnh đội nón lá đã chuyển động. Nàng thu hẹp khoảng cách trong đúng một nhịp nhón gót, bàn tay đặt lên vị trí giữa hai bả vai tên đàn ông. Cú chạm tĩnh tại, êm ái như cách người ta vỗ về một đứa trẻ giật mình trong đêm.

Tiếng chân khí trong người gã kia đột ngột lắng xuống. Chiếc đòn gánh rớt từ tay xuống đất kêu lên một tiếng đánh cộp. Gã lảo đảo hai bước, rồi quỵ gối mà đổ ụp xuống manh chiếu ở giữa gian nhà. Hai mắt gã nhắm nghiền, hơi thở chậm lại và nặng nề như kẻ say chìm vào giấc ngủ vùi.

Thân ảnh thanh thoát quỳ xuống cạnh, hai ngón tay với tới chỗ cổ tay gã thảo khấu. Dù tai không còn bắt được thứ tạp âm như ấm nước rít nữa, luồng tà khí ấy vẫn còn âm ỉ đâu đó sâu trong các đường kinh mạch. Theo dự liệu, chỉ nội trong sớm mai là thứ tà mị này lại bừng lên.

Trên chiếc bàn khập khiễng kê sát vách có một chiếc bát sành, đáy bát hẵng còn đọng cặn nâu. Bên cạnh là gói giấy bản màu vàng đã mở tung, sợi chỉ đỏ buộc miệng bị giật đứt. Trên mặt giấy in một con dấu son hình quả hồ lô, giống hệt biểu tượng treo đầy trước những hiệu thuốc ngoài phố lớn. Nàng nhón chút bột cặn còn sót lại, đưa tay lên chấm nhẹ đầu lưỡi. Vị đắng gắt xộc tới trước, rồi một cơn tê rần lan nhanh từ đầu lưỡi xuống tận cuống họng. Nàng nhíu mày lập tức nhổ thuốc ra rồi lau sạch mép bằng ống tay áo.

Thứ bột này có tác dụng nung nóng chân khí, mà kinh mạch lúc sôi lúc rét như gã đàn ông kia nếu uống nó chẳng khác nào ném mồi lửa vào đống rơm khô. Dưới chân bàn còn vương vãi mấy tờ giấy chép tay nhàu nát, nét chữ xiêu vẹo, gạch xóa nham nhở. Chẳng cần đọc nàng cũng biết trên đó chép thứ tà công gì.

Người đàn bà trong góc nhà lúc này mới dám thở mạnh. Thị nhìn người chồng nằm bất động trên tấm chiếu, nhìn gói giấy trên bàn rồi mới ngước lên nhìn thân ảnh đội nón lá.

“Tôi — tôi mua của một gã… đứng chực sẵn ngoài cửa hiệu thuốc...” Giọng thị run rẩy. “Đúng cái hiệu ban chiều vừa đuổi nhà tôi đi. Gã bảo… uống ba thang là dứt bệnh. Nhà tôi mới sắc uống được một thang.”

Thân ảnh ấy không đáp, chỉ lặng lẽ gấp mảnh giấy lại theo nếp cũ rồi cất vào ống tay áo.

Người đàn bà lết lại gần chồng mình, thị vươn tay định chạm vào vai gã, nhưng đến giữa chừng thị lại rụt về như sợ phải bỏng. “Lúc hắn tỉnh lại... thì sao?”

Người kia vẫn không đáp. Trước giờ đã ra tay ru ngủ không biết bao nhiêu người nhưng chỉ là biện pháp nhất thời. Vành nón lá đung đưa qua lại, ra hiệu một cái lắc đầu.

Ánh mắt người đàn bà dao động, đôi mắt ầng ậc nước được chùi đi ngay khi một giọt trào ra.

Nén lấy tiếng thở dài, thị chậm rãi đứng dậy đi tới chum gạo, quỳ xuống rồi luồn sâu tay xuống tận đáy, lôi lên một bọc vải nhỏ. Đoạn, đôi bàn tay gầy guộc cẩn thận tháo từng nút thắt, để lộ ra mấy đồng bạc lẻ còn dính cám. Sau khi buộc chặt lại như cũ, thị mang gói tiền đặt cạnh đầu chồng, ngay sát tầm tay để gã vừa tỉnh dậy là vớ được ngay. Lo liệu cho chồng xong xuôi, người đàn bà ấy mới chịu trải một vuông vải thô ra nền đất, lặng lẽ gom vài tấm áo sờn buộc lại thành cái tay nải nhỏ.

Thị nhìn lại thân ảnh kia một cái rồi mới đi ra ngưỡng cửa, một tay siết chặt quai nải, tay kia che đi bên mặt đang sưng lên, chứ tuyệt nhiên không ngoảnh lại nhìn chồng. Tiếng chân thị xa dần ngoài ngõ, nhịp tim cũng trầm ổn dần theo từng quãng thị đi. Tới một lúc, chỉ còn lại tiếng màn đêm, tiếng tên thảo khấu thở và tiếng chiếc ấm nước đã nhỏ lửa mà vẫn còn lăn tăn.

Nàng ngồi nán lại thêm một nén nhang, chăm chú lắng nghe tà khí lăn tăn dưới lớp da thịt đen sạm. Nàng có thể ngồi đây đến sáng, đợi gã tỉnh dậy thì đặt tay xuống. Cứ thế, vòng luẩn quẩn ấy sẽ tiếp diễn cho đến khi một trong hai người gục ngã vì kiệt sức.

Tiếng một chiếc ấm nước khác vọng ra từ con ngõ kế bên đã cắt ngang dòng suy nghĩ của nàng. Thân ảnh ấy tần ngần một lúc rồi quyết định rời căn nhà gỗ, tay khép cánh cửa thật cẩn thận, miệng lẩm nhẩm một câu tụng niệm rồi nhanh chóng bước tiếp.


Lúc trời còn chưa sáng hẳn, Húc Đông đã kéo Mộ Phong ra sau dãy kho muối ngoài bến, nơi những chuyến xe bò chở muối vào đất liền thường rục rịch khởi hành từ lúc gà gáy đợt đầu.

Lão đánh xe là chỗ quen biết từ hồi Húc Đông còn cởi trần khuân vác ngoài cầu tàu. Lão chẳng đòi tiền xe, chỉ lấy cớ bắt gã bao hai chầu rượu rồi cho nợ lại đến chuyến sau. Trước khi đi, lão dặn kỹ xe này chỉ chở muối vào phủ quan, đừng để ai phát hiện đang chở đám “gân đen”.

Khi đợi lão già chuẩn bị xe, Húc Đông xé một bao muối rách thành mấy dải vải bố cứng quèo. Gã quấn chặt hai cẳng tay Mộ Phong từ cổ tay lên tận nếp gấp khuỷu, từng vòng bao được gã quấn chắc nịch. Thằng nhóc chìa tay ra cho quấn, mặt nó lạnh như băng, cũng chẳng hé răng nói lấy một tiếng. Sáng hôm qua mới chỉ đặt ngón tay lên da mà nó đã giật phắt tay lại như phải bỏng, nên hôm nay gã quấn vòng nào ra vòng đấy, cẩn thận như sợ làm kinh động một con thú đang bị thương.

Chuyến xe xóc nảy chở hai đứa đi đã được gần một ngày. Lần nào quay qua nhìn, Húc Đông cũng thấy Mộ Phong vẫn ngồi thu lu trên đống bao muối, nó tựa lưng vào thành xe, xếp ngay ngắn hai tay trên đùi, còn mắt cứ dán chặt xuống con đường đất bụi mù. Nhìn kỹ hơn, đôi môi nứt nẻ của nó cứ mấp máy không rõ tiếng mãi.

Thoạt đầu, Húc Đông tưởng nó đang lẩm nhẩm ôn lại khẩu quyết võ công. Gã cứ tưởng nó sẽ chết ngộp trong đống sách như đã từng nghĩ hôm còn nằm bên lửa trại. Nhưng khi nghe kĩ, gã mới nhận ra là tiếng đếm số. Đếm sỏi, đếm vết bánh xe hay đếm cái chết giẫm gì nữa, gã chịu. Chỉ biết mỗi khi xe xóc, môi nó sẽ khựng một nhịp rồi bắt đầu mấp máy trở lại từ con số một. Gã đã để ý cách đầu nó ngóc ra từng hướng cửa mà gã kiểm tra then cài lúc còn ở nhà trọ. Chẳng biết phải gọi là gì, nhưng gã ngờ ngợ đoán được rằng có lẽ cái thói quen tới ám ảnh ấy là cách thằng nhóc tự trấn an bản thân.

Ở đằng trước, Húc Đông thì ngồi vắt vẻo cạnh lão đánh xe, mồm gã lại liến thoắng kể chuyện. Chuyện bắt được con cá đuối to bằng cái chiếu, chuyện gã thuyền phó ngáy to đuổi hết cả cá khỏi tấm lưới giăng sẵn. Lão đánh xe cười khùng khục, bộ râu rung lên bần bật. Phía sau, thằng nhóc vẫn câm như hến.

Gió biển thổi thốc theo xe một quãng dài rồi mới chịu lặng, để lại trên môi gã vị biển mặn chát. Con tàu quen thuộc hẳn đã nhổ neo ra khơi từ con nước chiều qua. Gã liếm môi tặc lưỡi rồi kể tiếp chuyện con sứa độc.

"Này nhá, con sứa màu đỏ, đỏ au au nhìn như cái đĩa gốm đựng trái cây của đám nhà giàu ấy! Trông nó mọng nước núng nính là ta cắn phập một nhát. Ai dè cắn vào thì lưỡi tê rần mất ba ngày, nói chẳng ra hơi!” Gã khoa tay múa chân, bắt chước bộ dạng á khẩu. “Từ dạo ấy, cứ thứ gì cho vào mồm mà làm tê lưỡi thì ta nhổ toẹt ra trước đã, tên tuổi hỏi sau!”

Lão đánh xe cười đến chảy cả nước mắt, còn thằng nhóc phía sau vẫn dán mắt xuống đường. Húc Đông liếc nó một lần thật nhanh, gã chẹp miệng cái nữa rồi tiếp tục quay sang dạy lão đánh xe khúc hò kéo lưới lệch nhịp.


Cái tên phủ Tường Loan, Húc Đông từng nghe lỏm được ở quán rượu ngoài bến. Bữa đó, bà chủ quán nhắc đến đứa cháu bị gãy chân chữa ở phủ ấy về thì lại đi đứng bình thường. Bà tấm tắc khen, nói rằng nơi đó hiệu thuốc nhiều hơn quán nhậu, bệnh thần bệnh quỷ gì mang đến cũng có lang y bốc thuốc.

Lúc đó Húc Đông nghe xong chỉ cười khẩy. Gã chẳng tin người ta lại ham sống tới mức mở nhiều hiệu thuốc hơn quán rượu. Vậy mà giờ đây chính gã phải tự bấu víu vào chút hy vọng mong manh ấy.

Gần trưa, xe bò xóc nảy một hồi mới dừng phịch trước cổng phủ. Cổng gạch loang lổ rêu xanh, phía trên treo một tấm biển gỗ xỉn màu. Húc Đông ngửa cổ, nheo mắt đánh vần ba chữ đã tróc sơn. Đọc nhẩm trong đầu thêm một lượt cho chắc, gã mới lấy cùi chỏ huých vào thằng nhóc ở sau.

“Tới nơi rồi. Tường Loan.”

Mộ Phong chỉ gật đầu một cái. Từ lúc xe lăn qua cây cầu đá đầu phủ đến giờ, nó chưa một lần ngẩng mặt lên. Nén lại cái thở dài, gã gật đầu và cười nhe cả hai hàm răng với lão đánh xe bò rồi khẩn trương kéo thằng nhóc xuống xe.

Phố chính quả nhiên dày đặc hiệu thuốc. Trước hiên nhà nào cũng treo lủng lẳng một quả hồ lô sơn son. Một đứa kéo còn một đứa lê chân, cả hai xộc thẳng vào hiệu có quả hồ lô lớn bằng bắp đùi gã thuỷ thủ. Lão lang y râu tóc bạc phơ nghe kể bệnh, đầu gật gù ra vẻ thông thái, lão bảo Mộ Phong đưa tay ra bắt mạch. Húc Đông vừa tháo được hai vòng vải bố trên tay trái Mộ Phong để lộ một mảng da thịt xám xịt, lão lang đã đứng phắt dậy. Lão phủi tay bảo trong nhà còn bệnh nhân chờ, mời hai vị sang hiệu khác.

Hiệu thứ hai có quả hồ lô nhỏ hơn, cỡ cái bắp tay. Lão thầy thuốc ở đây thậm chí chẳng buồn đứng lên nhìn. Thấy hai cẳng tay Mộ Phong, lão nheo mắt, hạch hỏi quấn như thế để giấu bệnh gì. Còn chưa kịp bịa ra lý do, hai đứa học việc nhà lão đã đóng sập cánh cửa.

Đến hiệu thứ ba, đứa học việc thò lò mũi xanh đưa đầu ra, xua tay bảo thầy đi vắng. Húc Đông biết nó nói xạo, bởi gã nghe rõ mồn một tiếng ho húng hắng của một lão già phía sau bức rèm.
Quá buổi đó, hai đứa đành ngồi bệt xuống bậc đá trước cái hiệu vừa từ chối tiếp. Mộ Phong vẫn ngồi thẳng tắp, hai tay đặt ngay ngắn, mặt lạnh như tiền. Húc Đông lùng bùng một câu chửi thề nghe như tiếng nhằn xương cá, đoạn gã lại đứng dậy ngay.

"Đi, tầm này không ai tiếp thì kiếm chỗ ngả lưng, kiếm cái gì bỏ bụng đã." Húc Đông chẳng chờ mà cứ thế xuống từng bậc.

Được hai bước dưới đường, gã ngoái lại nhìn. Thằng nhóc vẫn còn ngồi thừ ra đó, mắt nó ngước lên như đang đếm mấy cọng rơm lợp mái.

"Ngẩn à?" Gã dậm chân cái bịch ra chiều bực bội. "Hay ngươi đói quá nên điếc luôn rồi?"

Mộ Phong thót mình như con mèo bị ai tóm gáy, nó chớp mắt mấy bận mới lồm cồm đứng dậy.


Chỗ bạc Húc Đông còn mang theo vẫn đủ xoay xở được mỗi bữa hai bát cháo và một căn trọ trong ít ngày. Gã chẳng đếm rõ, chỉ ước chừng như vậy. Nếu đi hết phủ thì chắc gã phải tính kế khác. Có khi ra làm phu cho quan binh ít ngày mới đủ trang trải.

Gã ôm đầu một lúc, lại day hai bên thái dương, rồi tới tự cốc vào trán mình. Chẳng có cái gì trôi chảy cả.
Thực ra là có một cái. Gã phóng tầm mắt ra chỗ ngưỡng cửa trọ, nơi thằng nhóc mặt lạnh đang tựa lưng vào. Hôm nay, nó chẳng mắng mỏ hay cãi cùn câu nào, đưa gì cũng ăn, đặt đâu ngồi đấy. Ừ thì đùa nó không cười, nhưng chí ít nó không phá.

"Này." Gã cất tiếng gọi, chân đã dậy đi tới manh chiếu trải giữa gian. "Mệt thì nghỉ đi nhé. Ta không cõng ngươi đâu."
Chẳng đợi nó đáp, gã đặt lưng ra chiếu, mắt nhắm nghiền. Hôm nay lang thang vậy mệt lắm rồi. Một lúc sau thì gã lim dim, tiếng ngáy đều đều vọng vào mấy bức vách mỏng.


Mộ Phong ngồi ở bậu cửa, tai nghe thấy hết nhưng không đáp lời. Mắt cậu đảo quanh khuôn viên trước mặt, cố gắng ghi nhớ lấy mọi chi tiết có thể. Cậu nhìn ra xa hơn, nơi vầng trăng sáng tỏ rọi xuống tán cây. Bóng tán lá hắt xuống mặt đất cứ uốn éo không ra hình thù gì. Mộ Phong nhìn chằm chằm cái bóng cây đó. Được một lúc thì cái bóng chuyển động, cậu nghĩ là do gió, nhưng tự gạt đi. Chẳng có gì khác lung lay, không thể là gió.

Vậy là cái gì?

Mộ Phong chột dạ, cậu ngồi thẳng dậy mà cột sống lạnh buốt còn hai cánh tay tê rần. Cái bóng trên mặt đất đằng xa tự nó vặn xoắn thành một hình thù rất quen thuộc. Mộ Phong biết, bởi tháng nào trình tiến độ cậu cũng tự hào quỳ dưới cái biểu tượng thêu trên ngực áo sư phụ. Là hình con hắc long uy nghi ấy.

Mộ Phong ước mình có một vò rượu ở đây, rượu gì cũng được, chỉ cần đủ làm đầu óc cậu lỏng ra như mọi bận. Nhưng từ lúc bị lôi ra khỏi trại thì cậu chính thức chẳng còn gì trên người hết. Không có kiếm, quần áo cái còn cái mất, lại chẳng có tiền. Một giọt mồ hôi lạnh lăn từ chân tóc xuống lông mi làm cậu chớp mắt một cái. Con rồng dưới tán cây cũng tự nhoè đi thành hình thù một đứa bé trông như A Đồng. Chớp mắt cái nữa, nó mới trao trả lại cho cậu một khoảng tầm nhìn chỉ đủ hai chục bước chân trước mặt.

Hai vai cậu chùng xuống, hơi thở khó nhọc khò khè nơi miệng và mũi. Mộ Phong ngả hẳn một bên sang cái khung cửa, ngực cậu phập phồng từng hơi ngắn.

Một cơn gió thực sự thổi đến. Nó không mát lạnh mà cứ nóng ẩm mùi biển. Nó tạt qua mặt Mộ Phong, đủ mạnh để khẽ vén phần tóc mái bết mồ hôi tới cứng lại qua nửa phân. Rồi không rõ tự lúc nào, Mộ Phong thiếp đi ngay trong tư thế ấy.


Ba ngày sau đó, hai đứa kiên trì gõ cửa thêm vài lão lang khác. Đến trưa ngày thứ tư thì Mộ Phong thôi không đếm nữa, bởi đếm số lần bị từ chối chẳng giải quyết được điều gì. Con số duy nhất cậu còn giữ là số phiên chợ. Hôm còn trong nhà đá, cậu đã tính ra A Đồng còn ba phiên nữa là đủ sáu chục cân, và trong mấy ngày lê la giữa các hiệu thuốc đã trôi qua một phiên. Phải khỏi bệnh thì cậu mới quay về nhà đá ngồi thay nó được.

Cậu lại ngồi ở bậc thềm trước căn trọ, hai tay lúc này đã không còn cột chặt trong lớp vải bố nhưng vẫn được cậu giấu trong ống áo, mắt cậu trầm tư nhìn dòng người qua lại ngoài ngõ. Húc Đông thì đang ở trong phòng ngủ bù, bởi hai đêm liền gã đã thức tới gần sáng để chườm khăn lạnh lên trán cậu mỗi lần cơn sốt kéo tới.

Bỗng có một gã bán thuốc rong dừng lại trước mặt cậu. Đó là một gã trạc ba mươi tuổi, mặt mũi nhẵn nhụi, mặc áo dài vải lương phẳng phiu, tay xách chiếc tráp gỗ nhỏ. Gã nở nụ cười đã được tập luyện thuần thục trước khi lên tiếng.
"Tiểu huynh đệ giấu gân trong ống tay áo thế thôi, chứ chẳng giấu được lâu đâu." Gã nói, tông giọng lơ lớ kiểu thương nhân Bắc Sa. "Ba ngày nữa nó lên tới cổ, bảy ngày nữa lên tới thái dương. Tới độ đó thì thần trí có muốn giữ cũng không được nữa đâu."

Mộ Phong rụt tay sâu hơn vào ống áo. "Ngươi là ai?"

"Tại hạ họ Đỗ, đi thuốc dạo ở cái vùng này hơn chục năm."

Gã đặt chiếc tráp xuống bậc thềm, tay gã thuần thục kéo ngăn thứ tư. Bên trong đó là hàng chục gói giấy bản màu vàng được xếp ngay ngắn. Gói nào cũng gấp góc vuông vức, buộc chỉ đỏ tươm tất, trên mặt đóng triện son hình quả hồ lô. "Tiểu huynh đệ không phải người đầu tiên tại hạ gặp. Nửa năm nay riêng ở phủ này đã có tám người, người ít thì gân tay đổi màu, người nhiều thì da bong từng mảng. Ai cũng nói mình luyện một pho công phu có chữ rồng trong tên mà thành ra như vậy."

"Ngươi biết cái đó." Mộ Phong ngồi thẳng người lên, mặt trắng bệch.

"Tại hạ biết nó phá kinh mạch theo lối nào." Gã họ Đỗ mở gói giấy, Mộ Phong liền nhìn thấy một nắm rễ cây khô màu nâu sẫm được cắt lát mỏng và xếp đều tăm tắp, mặt lát nào cũng phủ một lớp bột mịn. "Nó đi từ đốc mạch xuống, rẽ hai nhánh ở bả vai, rồi vòng ngược lên qua thủ thái âm. Đúng không?"

Mộ Phong nín thở. Cái lộ trình đó lẽ ra chỉ người của Phục Cốt Tông mới thuộc, tại sao tên này lại biết? Cái ngăn kéo có chữ "bến" trong đầu cậu khẽ xê ra một chút, và cậu vội ấn nó vào. Bản năng của một đại đệ tử trỗi dậy, cậu với tay xuống hông toan tuốt kiếm khỏi bao, rồi chợt khựng lại vì chỗ đó trống không.

Gã bán thuốc họ Đỗ vẫn không ngơi miệng, thứ giọng dẻo quẹo của gã nói như thôi miên. "Cái này là căn Quy Nguyên thảo, mọc trên vách đá phía Tây Lĩnh, mỗi năm chỉ hái được vào tiết sương giáng. Tính hàn, vị đắng, quy vào can kinh và tâm kinh. Cổ phương gọi nó là thuốc kéo về gốc. Thứ gì đi sai đường thì nó kéo về đúng đường. Sắc ba bát còn một, uống lúc nóng. Bệnh thường thì một thang là đủ, còn gân đã lên tới khuỷu như tiểu huynh đệ thì phải ba thang, ngày một thang."

Mộ Phong lườm cái gói giấy, liếc tới đôi mắt hí của gã họ Đỗ, rồi chằm chặp ghim vào đống rễ cây cong queo trong cái gói nọ. Mùi thảo mộc ngai ngái đắng ngắt dần choán lấy khứu giác của cậu. Ba thang trong ba ngày, thêm gần hai ngày đường về tổng đàn, vẫn còn kịp trước khi A Đồng đủ cân. Được một khắc thì ánh mắt cậu đã không còn vẻ hằn học ban nãy nữa, nó dời chỗ gói giấy và quay lại phía cái túi bạc của Húc Đông trên mặt bàn gỗ.

Mấy bữa nay gã chẳng buồn cất tiền đi nữa mà cứ thế để cả lên bàn. Mộ Phong hít thở mấy hơi rồi quay lại, mắt ánh lên một tia còn sậm hơn cả những đường gân nổi đầy hai tay.

"Giá bao nhiêu."

“Ba lạng một thang.”


Tiếng bạc lách cách va vào nhau làm Húc Đông choàng tỉnh, nhưng gã vẫn chậm chân. Thằng cha xách tráp gỗ đã vội vàng nhét cái gì đó vào cạp quần rồi ôm tráp chạy biến, còn Mộ Phong thì đã cầm sẵn trên tay ba gói giấy bản vàng nhỏ.
Gã thuỷ thủ gầm lên một tiếng như đứa nào mới giật mất lưới cá, gã toan đuổi theo thằng cha mắt hí vừa rồi nhưng không kịp, bởi tên đó đã biến mất sau đám bụi vẩn lên tới hơn một trượng. Còn Mộ Phong khi này đã lết chân lại cái bàn gỗ mà ngồi phịch xuống.

Tức mình, Húc Đông quay ngoắt lại, tay phải bấu chặt vào cánh cửa gỗ. Gã đứng chắn ngay giữa, tóc còn bù xù vì mới dậy, mắt nhìn mấy gói giấy bản trên bàn còn mặt nhăn hơn quả táo khô như mới ngửi thấy cơm thiu.

"Vứt đi."

Gã chỉ ngón tay vào mấy cái gói trên mặt bàn. "Ta hỏi ngươi cái này. Tên đó đứng ở đâu lúc gọi ngươi?"

"Ngoài bậc thềm." Mộ Phong trả lời tỉnh bơ.

"Nó có rao không? Có bày hàng ra không? Có chèo kéo cái bà đi qua trước ngươi không?"

"Không."

"Vậy nó đứng ngoài ngõ cả buổi để chờ đúng một mình ngươi." Húc Đông bước tới, chống hai tay lên mặt bàn. "Mà ngươi thì cả tuần nay có đi được tới đâu ngoài mấy cái hiệu thuốc chết giẫm kia. Nghĩa là nó biết trước ngươi ở đây, hoặc có đứa mách. Cái loại đứng chực sẵn rồi làm bộ tình cờ thì ta thấy nhiều rồi, bởi bến nào chúng nó cũng đứng."

"Hắn đọc đúng lộ trình kinh mạch." Mộ Phong nói. "Từng khúc một. Không sai một chỗ nào."

"Thì sao?"

"Phải biết thì hắn mới đọc được." Giọng Mộ Phong bắt đầu căng lên. "Ngươi có hiểu cái đó nghĩa là gì không? Là hắn đã gặp người mắc chứng này và đã chữa cho họ. Nghĩa là ngoài kia có hẳn một phương thuốc chính thống được lấy từ Tây Lĩnh chứ không phải từ cái xó xỉnh ngẫu nhiên nào."

"Cái thứ ấy chạy ngay dưới da ngươi, ta đứng ngoài khe cửa còn nhìn ra." Húc Đông gằn giọng. "Hoặc là nó biết vì chính nó bán cái mớ ấy cho đám gân đen."

Mộ Phong khựng lại một nhịp, rồi hai chân cậu đứng bật dậy.

"Là ngươi muốn ta không khỏi." Cậu nói gằn từng chữ, giọng cậu đanh lại. "Người cần ta cứ lay lắt như vậy mãi."

Khoảnh khắc cậu dứt lời, cả gian phòng bỗng im phắc.

"Ngươi nói cái gì?" Gã thuỷ thủ gầm gừ qua kẽ răng, đôi mắt tối sầm lại.

"Ta nói ngươi muốn ta không khỏi." Mộ Phong bước tới, mặt tái đi, hai cánh tay giấu trong ống áo run lên. "Ngươi tính cả rồi phải không? Ta khỏi thì ta không cần ngươi chườm khăn hay dìu qua ngõ. Ta khỏi thì ngươi mất cái thú vui cứu vớt một thằng nhóc mặt lạnh. Ngươi thích thế lắm đúng không, được làm người tử tế, được vác ta qua tường, được kể cho cả bến nghe? Nên hễ có đứa nào đưa ra được một đường sống thì ngươi lại đứng chắn cửa mà bảo vứt đi."

Bàn tay Húc Đông đang nắm lấy cánh cửa từ từ siết chặt hơn, mặt gỗ mọt kêu răng rắc dưới lòng bàn tay gã.

"Hai hôm nay ta thức tới canh tư." Gã nói, từng chữ như nghẹn lại nơi yết hầu.

"Ta có xin ngươi đâu."

Sâu trong lòng, Mộ Phong biết rõ những lời mình vừa nói cay độc đến mức vô lý. Cậu nhớ Húc Đông đã vác mình qua bức tường cắm đầy mảnh sành. Cậu nhớ gã đi biệt bốn nghìn bảy trăm nhịp thở để mang về một vò rượu nếp, trong khi hàng rượu đầu xóm đi về chỉ mất ba trăm nhịp. Cậu nhớ nếp nhàu to bằng nắm tay trên vạt áo gã, cái nếp hằn lại từ lúc cậu hét vào mặt gã mà gã không quát lại lấy một câu. Cậu biết từng ân tình ấy nằm ở ngăn kéo nào.

Nhưng cậu vẫn tàn nhẫn đóng sập tất cả lại, phóng ánh mắt sắc như dao găm vào mặt gã thủy thủ. Tầm nhìn của cậu tuyệt nhiên tránh chiếc túi bạc vẫn đang mở miệng trên bàn.

Húc Đông nghệt mặt ra. Gã đứng nhìn Mộ Phong một lúc lâu, rồi gã cúi gằm xuống gật gù mấy cái. Đoạn, gã xoay người bước một chân qua ngưỡng cửa.

"Được." Gã nói mà không quay đầu, túi bạc vẫn để mở miệng trên bàn. "Cứ uống đi."

Mộ Phong cay đắng tự thuyết phục bản thân rằng hành động ấy chỉ là một biểu hiện của thói cẩu thả mà đám thủy thủ thường mắc phải. Cậu đứng bất động nhìn bóng lưng Húc Đông khuất dần khỏi tầm nhìn, lắng nghe tiếng bước chân gã xa dần qua khoảng sân đất, đi ngang giếng khơi rồi khuất sau cổng trọ.


Nửa canh giờ sau, Mộ Phong đi kiếm bếp. Khu bếp chung của dãy trọ nằm sát bên giếng nước ở góc sân. Bà chủ trọ đang lúi húi vo gạo, thấy thằng nhóc mặt mũi lầm lì đến hỏi mượn bếp thì chỉ tay vào chiếc siêu đất và đống củi tàn.

Cậu múc nước bằng chính chiếc bát sành định dùng để uống thuốc. Cậu đong cẩn thận ba bát, không tràn một giọt, cũng chẳng thiếu một phân. Sau đó, cậu dùng móng tay cạo hai vạch trắng lên thành siêu: một vạch đánh dấu mực nước còn hai bát, vạch kia là mức một bát.

Xong xuôi, cậu ngồi xổm trước bếp, mắt không rời miệng siêu lấy một nhịp thở.

Nước trong siêu sôi lục bục. Hơi nước bốc lên mang theo thứ mùi hăng hắc, ngai ngái. Mực nước từ từ hạ xuống, ngang qua vạch thứ nhất rồi cạn dần đến vạch thứ hai. Thỉnh thoảng, bà chủ trọ lại ngước nhìn cậu như nhìn kẻ mộng du. Mộ Phong thì không để tâm tới ánh nhìn ấy, cậu chỉ tập trung vào việc tái thiết trật tự trong người mình.

Thuốc sắc xong, trong siêu còn đúng một bát nước đặc quánh, màu nâu sẫm như trà để qua đêm. Cậu bưng bát thuốc về phòng, ngồi xếp bằng ngay ngắn trên chõng tre, miệng thổi phù phù cho bớt nóng. Ngụm đầu tiên đắng ngắt, tới mức cổ họng cậu co rút lại. Đến ngụm thứ hai, một cơn tê rần bắt đầu lan nhanh từ đầu lưỡi.

Giọng nói cợt nhả của gã thủy thủ trên xe bò bốn ngày trước chợt vọng về trong đầu cậu. Chuyện con sứa độc... chuyện cái lưỡi tê mất ba ngày... chuyện cắn thứ gì tê lưỡi thì nhổ ra.

Mộ Phong nhắm mắt, ngửa cổ uống cạn phần thuốc còn lại rồi đặt bát xuống mép chiếu.

Hơi ấm ập đến trước tiên. Nó lan từ đan điền lên lồng ngực, rồi men theo kinh mạch chảy từ hai bả vai xuống hai cánh tay giấu trong ống áo. Lần đầu tiên sau chuỗi ngày địa ngục, hai bàn tay cậu ấm lên đồng đều. Cái lạnh buốt tận xương nơi cổ tay chầm chậm rút đi như thủy triều xuống.

Mộ Phong khẽ nhíu mày, bởi gã họ Đỗ bảo rằng thuốc có tính hàn mà nó lại ấm nóng đến vậy. Nhưng trước nay cậu chưa thử qua thuốc gì từ Tây Lĩnh, biết đâu… đường nó đi lại khác thì sao? Vừa nghĩ xong thì hơi ấm tràn qua nếp khuỷu tay, vượt lên bả vai rồi dồn ứ nơi cổ. Nó nóng dần, trước khi bất ngờ biến thành cơn bỏng rát kinh hoàng. Cùng lúc ấy, cái lạnh thấu xương vừa bị đẩy lùi bỗng quật ngược trở lại từ mười đầu ngón tay, chạy ngược chiều với luồng nhiệt đang dâng lên.

Hai luồng tà khí cực hàn và cực nhiệt lao vào nhau với tốc độ kinh hồn, đâm sầm ngay giữa lồng ngực Mộ Phong. Cậu cắn bật máu môi mà cố tiếp tục đếm, nhưng những nhịp thở cứ thế chồng chéo lên nhau không theo thứ tự nào. Mộ Phong hoảng loạn quay về con số một, nhưng cậu để vuột mất nó vào hư không. Nhịp tim cậu đập loạn xạ trong lồng ngực, ầm ĩ và đinh tai nhức óc như có kẻ đang vung chày nện xuống cối đá.

Cậu gầm lên, bật ngồi dậy.

Tà khí trong người đã đứt cương hoàn toàn. Nó hung hãn cày nát kinh mạch hệt như đêm trong nhà đá. Chỉ khác rằng, lần này sẽ chẳng có ai chờ sẵn mà đạp cửa xông vào nữa.

Cậu lảo đảo, tay vung trúng cái chân bàn gỗ ọp ẹp bên cạnh, đánh vỡ nó bằng chưởng lực vô thức. Túi bạc văng ra xa, những nén bạc vụn lăn tung tóe khắp nền đất. Bức vách trước mặt nứt toác một đường đáng sợ, chạy từ chân tường lên tận xà nhà. Mộ Phong thậm chí không biết mình vừa xuất chưởng bằng tay nào, bởi tâm trí cậu đã hoàn toàn chìm vào bóng tối cuồng loạn.

💬 Bình luận (0)

📚 Truyện tương tự