🏠 Trang chủ
🗂️ Danh sách chi tiết 🏷️ Danh sách tags 🏅 Danh sách Danh AI Truyện SE Truyện BE Truyện OE Truyện HE Chữa lành Nhẹ nhàng Thơ Tản văn Truyện ngắn Lyrics Sảng văn Thiếu nhi Thiếu niên Đời thường Lịch sử Trinh thám Kinh dị Hệ thống Giao thông Space Opera Apocalypse Steampunk Cyberpunk Trí tuệ nhân tạo Y học Vô tính Chế tạo Boy work Đồng nhân Fan Fiction Tây phương huyễn tưởng Xuyên nhanh Dị giới Sinh tồn Tương lai Light Novel Quân sự Khoa học viễn tưởng Xiềng xích Hắc bang Quyền mưu Tinh tế Chủng điền Tiện thụ Tra công ABO Nữ tôn Cường thụ Nhược công Chủ thụ Chủ công Sủng Hỗ công Bách hợp Đam mỹ Gương vỡ lại lành Gương vỡ không lành Sư đồ luyến Chính kịch Chênh lệch tuổi tác Cường cường Thanh mai trúc mã Thế thân Thiên kim Tình cảm gia đình Nhân thú Cận đại Vả mặt Nữ phụ Cung đấu Ngược Kinh doanh Tổng tài Hoàng cung Nữ cường Báo thù Điền văn Cưới trước yêu sau Tình cảm Gia đấu Cổ đại Showbiz Ngọt sủng Hào môn Thanh xuân vườn trường Đô thị Ngôn tình Thần thoại Ma pháp Thần tiên yêu ma Vô hạn lưu Xuyên sách Dị năng Mạt thế Harem Trọng sinh Xuyên không Huyền huyễn Võ hiệp Tiên hiệp Dystopia Hài đen Hài hước Ngũ triền cái Thất kiết sử Vai phụ logic Thất tình Lục dục Khai Thác AI
🔎 Tìm kiếm ⬇️ Tải app Android
📝 Đăng truyện 🔑 Đăng nhập bằng Google

Ch.4

~32 phút đọc · 6275 từ · · ⚠️ Báo cáo

Tư phòng giáo chủ Phục Cốt Tông nằm trên tầng cao nhất của đại điện. Từ chỗ cửa sổ mạn Đông, Thẩm Nguỵ Chân có thể thấy trọn bức tường cắm mảnh sành cùng ngọn cây vông đồng nhô lên khỏi mép tường.

Tiếng kẻng đã vang được chừng hai chục nhịp. Dưới sân, đuốc bắt đầu sáng lên từng cụm. Trên đỉnh tường có hai cái bóng chồng lên nhau thành một khối lệch, cái trên rũ xuống vai cái dưới như một bao gạo. Khối hình ấy chới với giữa hai mảnh sành trong một nhịp thở rồi khuất dạng sau phía bên kia bờ tường.

Lão Thẩm đứng yên tại chỗ như pho tượng, dù cho một trong tứ đại hộ pháp vẫn đang liên tục bẩm báo tình hình trong ngày. Nghe xong, ngón út bọc hộ giáp mạ vàng gõ lên bậu cửa đúng một nhịp. Tên hộ pháp cúi đầu lui ra, và chưa tới ba mươi nhịp thở sau thì tiếng kẻng im bặt. Những cụm đuốc dưới sân bất động một lúc rồi cũng lần lượt tản về các dãy nhà.

Chính lão đã cho rút người canh nhà đá từ buổi sáng ngay sau khi nghe báo thằng nhãi thuỷ thủ đi vào trại bằng cổng trước. Nếu nó đã chọn hướng đó để nghe ngóng, tối đến ắt lẻn vào lấy nốt đồ.

Trên bàn, kẹp dưới chân nến là tờ bẩm mà đám thuộc hạ gom góp suốt sáu tháng. Lão Thẩm đã đọc bốn lần và đều dừng ở cùng một chỗ. Trình Húc Đông, chừng hai mươi tuổi, làm phu khuân vác rồi làm thuỷ thủ ở cảng Đông Hải. Lần ngược về quãng nó lên tám lên chín thì dấu vết đứt hẳn. Không bến nào còn nhớ ra nó trước ngưỡng tuổi ấy, và không ai biết kẻ nào đã đưa nó vào đất liền.

Mấy tháng nay lão đã nghiên cứu bộ pháp của thằng nhãi theo cái cách lão vẫn đọc một bản chép hỏng. Câu mở là chữ thật, nét nào ra nét ấy, đúng là Thương Hải Điệp Ba Công. Từ câu thứ hai trở đi lại do một nét khác chép đè lên, sai tới mức không kẻ nào trên đời lại đem ra dạy người theo lối đó. Lão đã nói câu ấy trên đài cao sáu tháng trước, tới nay vẫn không sai ý nào.

Giang hồ có lời đồn rằng bản gốc của pho ấy đang nằm trong tay Địch Ngạo Thiên. Nhưng với Thẩm Nguỵ Chân, lời đồn rốt cục cũng chỉ dừng ở mức lời đồn. Đến chuyện kẻ mang cái tên ấy còn sống hay đã chết cũng tam sao thất bản. Điều duy nhất lão biết chắc về hắn là một thói quen. Đoạt được pho nào, họ Địch kia cũng chỉ giữ lấy phần sát chiêu, còn phần nền thì hắn vứt.

Cả đời Thẩm Nguỵ Chân đã dịch và bán cho thiên hạ gần hết những gì mà bậc tiền thân đánh mất, duy chỉ có võ học chính tông của Đông Hải là thiếu mất một pho. Chỉ Địch Ngạo Thiên mới có khả năng đó, hắn tới trước lấy nó đi mà không rao bán. 

Nào ngờ, đúng cái phần mà Địch Ngạo Thiên không thèm sở hữu lại đang chảy trong người thằng nhãi thuỷ thủ. Họ Địch không ăn thì nhả, việc này thì khớp, duy có một điểm mà họ Thẩm chưa luận ra. Lão không tin vào chữ "dạy". Giang hồ nghe được rằng kẻ ấy chiết sát chiêu cho riêng mình dùng, chứ chưa từng nghe hắn truyền cho ai nửa câu. Chẳng có lí nào mà dấu tay hắn lại nằm trên một đứa khuân vác ở bến.

Trước đây, lão đã từng xếp thằng nhãi thuỷ thủ vào ngăn gián điệp, bởi một con dao tháo lưỡi thì chỉ có thể là thứ người ta cố ý để cùn hòng qua mặt lão. Sáu tháng trời lão vẫn để yên cho nó ngồi uống rượu bên đống lửa trại của tông môn, xem xem nó tính giở trò gì. Nhưng sau đêm nay, cái ngăn ấy đã không khớp nữa. Thằng nhãi đạp tung cửa nhà đá, hất đổ vại trùng, vác đứa nhỏ lên vai rồi chạy. Cuốn dị bản đang mở trên nền thì nó bỏ lại. Suốt quãng từ cửa nhà đá ra tới chân tường, nó cũng không để lộ thêm chiêu nào ngoài cái gốc lão đã thấy. Nếu quả thực nó vào trộm sách, không đời nào nó chịu bỏ qua. Còn chuyện một đứa bốc vác tự nghĩ ra nổi phần còn lại của một pho tuyệt học, lão gạt đi mà chẳng buồn bận tâm.

Với Thẩm lão, một bản chép còn chỗ chưa đọc ra thì chưa nên đem đốt. Lão đã tính sẵn mới để nó đi. Kẻ giăng lưới rồi cũng phải tới xem mồi của mình trôi về đâu.

Vại trùng đổ đi thì lão có tiếc, và lão đã khắc ghi cả vốn lẫn lời. Riêng đứa đồ đệ thì lão chừa nó ra. Từ cái đêm nó quỳ ngoài đại điện tới sáng, lão đã nói với nó một câu để nó tự bước vào lò. 

Thép tôi già lửa thì giòn. Với lão, một lưỡi kiếm đã nứt thì không thể trưng trên giá. Còn nếu đem uốn lại, nó vẫn còn dùng làm một cái lưỡi câu được.

Thẩm Ngụy Chân rút cuốn sổ bìa da trong tay áo, lão lật tới trang đã viết hồi đầu mùa mưa và ghi thêm hai dòng vào bên dưới. Lão gấp sổ khi ghi xong, rồi khép cánh cửa sổ hướng Đông và thổi tắt nến.


Hai tiếng gõ ở cửa sổ phía Đông. Ba tiếng ở cửa sổ phía Nam. Rồi cái chốt lỏng kêu lạch cạch khi bị lay thử.

Diệp Mộ Phong nằm nghiêng trên chiếu, mặt quay vào vách còn đầu vẫn tiếp tục đếm. Từ lúc trời hửng sáng tới giờ, Húc Đông liên tục đi bốn lượt theo đúng trình tự ấy.

Mộ Phong chưa từng đặt chân tới cái xóm này, nhưng cậu biết chính xác mình đang nằm ở đâu. Căn phòng trọ có hai cửa sổ, một cửa ra vào và một bức vách liền ở phía Tây. Sau lưng nó là con dốc mà đêm qua gã kia đã vác cậu chạy xuống, còn ở đầu dốc là vách núi của tổng đàn. Võ trường đại hội còn nằm xa hơn về hướng ấy, sau gốc hoè cụt ngọn và một vạt rừng thông. Xuôi theo hướng ngược lại, nếu đi bộ chừng non một canh giờ thì tới bến.

Cậu cũng biết lẽ ra giờ này mình chẳng thể nào còn nằm ở đây.

Kẻng báo động của tông môn có lệ của nó. Sáu mươi nhịp thở để tứ hộ pháp có mặt ở sân lớn. Thêm một trăm hai mươi nhịp để chia người ra bốn cổng. Con dốc phía Đông chỉ có một lối mòn, nếu hai người vác nhau đi chắc chắn sẽ để lại dấu chân sâu gấp rưỡi lúc thường. Mộ Phong bắt đầu đếm từ lúc mảnh sành trên đỉnh tường cứa qua ống quần gã kia. Cậu chỉ đánh rơi con số có hai quãng, mỗi quãng ước chừng ba trăm nhịp, cả hai đã được tính bù vào. Muộn nhất tới nhịp thứ ba nghìn thì bó đuốc đầu tiên sẽ hiện ra ở đầu xóm. Cậu đã đếm qua nhịp ấy lúc gà còn chưa gáy. Giờ nắng đã lên tới nửa bức vách, nếu đúng theo mọi dự tính của Mộ Phong thì người của tông môn lẽ ra đã phải tới từ lâu.

Tám năm nay, chưa có thứ gì thuộc về tông môn lọt ra khỏi cổng mà sư phụ không cho người đi lấy lại. Một cây thương gãy cán cũng có sổ ghi. Vậy nên chỉ có một cách hiểu. Sư phụ đã biết cậu vấp ở chữ nào, đã biết cái vại vỡ ra sao, và Người thấy chẳng còn gì đáng lấy.

Cái áo đang phủ trên người cậu là áo ngoài của Húc Đông. Vải thô, rộng gấp rưỡi vai cậu, sợi nào cũng ngấm mùi muối và mùi cá phơi dưới nắng. Sáu tháng trước cậu từng chê gã này tanh mùi biển. Giờ cái mùi ấy quấn quanh cổ thì cậu chịu được, còn mồ hôi của chính cậu lại đang toả ra thứ xú khí khó tả.

Mộ Phong cố gắng giấu hai cánh tay trong ống tay áo. Phần vì cái thứ sẫm màu kia, phần vì nhiệt độ. Từ lúc có lại nhận thức, cậu đã cảm nhận hai luồng khí lúc thì âm hàn cực điểm, khi lại chí dương bỏng rát. Cứ thế chúng đả loạn hai cánh tay rồi lan sang cả thân trên không theo một quy tắc khí vận nào.

Ở khung cửa sổ nhỏ, Húc Đông đứng lại lâu hơn mấy lượt trước. Gã hếch mũi lên như người đi biển ngửi gió, một tay đưa ra sau xoa gáy. Cả buổi gã cứ xoa gáy như phải gió.

Gã rời cửa sổ để ngồi xổm xuống lại chỗ chiếu. Bát cháo gã mua từ sớm vẫn nằm nguyên cạnh gối, mặt cháo đã đóng váng. Húc Đông ngó cái bát hồi lâu, mặt gã thoáng vẻ đăm chiêu hiếm thấy. Rồi gã với tới cánh tay giấu trong ống tay áo mà Mộ Phong đang co ro bên trong.

"Đưa tay đây ta xem mạch."

Mộ Phong giật phắt cánh tay ra khỏi bàn tay vừa chạm vào da thịt mình, và nỗ lực đó khiến cả vai cậu co rút lại một trận. Cậu cắn răng chịu hết, không kêu một tiếng, và cũng không quay đầu.

"Ê. Nhóc con."

Im lặng.

"Ta hỏi ngươi có thấy buốt ở sống lưng không."

Vẫn chỉ có im lặng đáp lời gã.

"Được." Gã nói. "Cháo không chịu ăn, mạch không cho bắt. Ngươi không cho coi thì thôi, đêm qua ta coi đủ rồi."

Mộ Phong nhắm mắt. Giọng gã kia to dần theo từng câu, cái giọng oang oang ngoài bến cá chẳng buồn kiêng dè vách mỏng.

"Ta đi biển từ hồi chưa cao bằng cái mái chèo, ta thấy đủ loại người ngu rồi. Ta thấy kẻ đánh bạc thua sạch còn cầm cả thuyền. Ta thấy kẻ uống rượu tới mù mắt nhảy ra khỏi bến cảng. Nhưng chưa kẻ nào ngu tới mức ngồi xếp bằng cho một vại giòi gặm nhấm mình từ trong ra, mà lại còn ngồi cho thẳng lưng, đọc cho đúng bài, sợ sai một chữ thì nó gặm không đều." Tiếng gã nhích lên một bậc. "Ngươi biết ta nhìn thấy cái gì qua khe cửa không? Một đứa bé đang bị ăn thịt mà còn lo phục vụ cho tử tế. Con chó bị đá còn biết chạy. Ngươi thì bò lại xin đá tiếp, mà còn quỳ ngoài sân cả đêm để xin cho bằng được cái quyền đó."

Có một chữ trong câu ấy rơi trúng vào chỗ đã nứt sẵn từ sáu tháng trước, trên một sàn lôi đài bằng hắc diệu thạch. Mộ Phong ngồi bật dậy. Động tác ấy làm mắt cậu tối đi mất mấy nhịp, và cậu phải chống một tay xuống chiếu mới giữ được lưng thẳng. Mỗi lần cử động giật cục như vậy, một cơn đau buốt óc lại cố gắng choán lấy thần trí cậu.

"Ngươi cứu ta làm gì."

"Cái gì?"

"Ngươi cứu ta." Giọng cậu khàn, hụt hơi ở cuối câu. "Giỏi lắm. Thế bây giờ ai chắn cho bọn nhỏ?"

Húc Đông không đáp, và cậu cũng chẳng chờ gã đáp.

"Thằng đứng đầu hàng bên phải mới có đôi hài ta mua hôm phiên chợ mồng ba. Nó còn để dành, chưa dám đi. Thằng đứng ngay sau nó có một vết kiếm trên cẳng tay, ta băng cho từ nửa tháng trước, tới giờ chưa lên da non. Rồi còn thằng sún răng, thằng cao nhất đám, rồi con bé buộc tóc bằng dây gai nữa—"

Cậu phải ngừng lại lấy hơi. "Hôm tuyển người, lão quản sự vác cái cân móc ra giữa sân khu Tây. A Đồng nặng chưa tới sáu chục cân nên nó được ở lại. Hồi ta mới mang bánh vào, cổ tay nó ta nắm bằng hai ngón còn thừa. Ngươi có biết thêm mấy phiên chợ nữa thì nó đủ cân không? Còn ta tính xong rồi."

Húc Đông hơi nhíu mày, lúc gã toan nói gì đó thì cổ họng tự khựng lại. Mộ Phong chẳng chờ mà tiếp tục.

"Có ta ngồi trong đó thì bọn nó không phải vào. Ta đã nói với ngươi rồi. Ngươi nghe xong thì ngậm miệng, rồi đêm xuống ngươi trèo tường. Ngươi đập vỡ cái vại rồi vác ta qua tường rất oai. Ngươi về được tới đây là tự thấy mình giỏi rồi phải không? Nhưng ngươi có bao giờ ngồi tính xem sau lưng ngươi còn lại cái gì không? Ngươi chưa tính cái gì trong đời ngươi cả. Thích thì làm, chán thì đi, gió thổi đằng nào thì trôi đằng ấy, rồi ngươi gọi đó là phóng khoáng."

"Nhóc con—"

"Đừng gọi ta là nhóc con." Mộ Phong hét lên. "Tám năm! Ngươi có hiểu tám năm là bao lâu không? Ta luôn hiểu rằng ta không phải kỳ tài. Một đứa không có tư chất thì chỉ còn mỗi một đường là nhích từng phân một, không được sai một bước nào, không được nghỉ một ngày nào, và đi như thế đủ lâu thì mới mong có cơ hội tới đích!"

Cậu thở dốc, ngực phập phồng, mấy vệt sẫm dưới da giật lên theo từng nhịp.

"Rồi Trình Húc Đông nhà ngươi xuất hiện. Ngươi chẳng học võ của ai. Ngươi chẳng nợ ai một trang sách nào. Cứ thế ngươi né hết năm mươi bảy chiêu của tám năm đời ta mà hơi thở còn chẳng đổi." Bàn tay chống trên chiếu của cậu co lại. "Năm mươi bảy. Hôm ấy ta đánh rơi mất con số, về sau phải đánh lại cả trận trong đầu suốt sáu tháng nay mới đếm ra."

Ở đâu đó trong phòng có một tiếng sột soạt đều đều như tiếng vải bị siết vặn. Mộ Phong nghe thấy mà không để tâm.

"Đó giờ ta mới lỡ nhịp có hai lần. Một lần giữa lôi đài, trước mặt hơn ngàn người. Một lần trong nhà đá. Cả hai lần, lúc mở mắt ra ta đều thấy đúng cái bản mặt nhà ngươi."

Cậu ngừng lời, đến khi nói tiếp thì giọng đã nhỏ hẳn đi.

"Cá là nhà ngươi không biết sau đại hội hôm ấy ta đã ngồi ở bìa rừng mất bao lâu. Bởi với ngươi hôm đó hẳn là một ngày vui, có rượu uống, có thằng nhóc mặt lạnh để trêu. Ngươi tới trại ta, hát hò uống rượu cùng đám giáo chúng rồi bạ đâu ngủ đấy. Với ngươi thì cái chỗ đó là một quán trọ vui vẻ. Với ta thì đó là tất cả những gì ta có."

Mộ Phong cười nhạt một tiếng, rồi tiếp tục gằn từng câu như đứt hơi.

"Ngươi hỏi ta làm thế vì bọn nhỏ hay vì muốn sư phụ nhìn ta thêm một cái. Ta lại có sẵn câu trả lời từ cái đêm ngươi kể chuyện lão chủ gánh xiếc cơ. Đêm ấy ta đã không xuống kiếm mà về quỳ trước mặt sư phụ để nói dối rồi giao rượu cho ngươi đem bán." Hai vai cậu bắt đầu run. "Tám năm nhận ba cái gật đầu mỗi tháng, rồi sướng phát điên vì ba chữ. Chỉ ba chữ đó mà đêm ấy ta quên cả đếm nhịp thở trước lúc ngủ. Ta là cái thứ như vậy đấy."

Tới chữ cuối thì hơi trong ngực cậu đã cạn. Có thứ gì đó trong người cậu động theo cơn giận, chạy ngược từ đan điền lên hai bả vai mà chẳng đợi ai dẫn. Một mùi ngòn ngọt, ngai ngái bốc lên từ chính lớp da dưới cái áo được cho mượn, giống mùi hương trầm đốt trong đền để lẫn với thứ gì đã ôi. Mộ Phong cúi xuống thì thấy những đường gân trên mu bàn tay mình đang sẫm lại, chậm như mực loang trên giấy bản.

Khi cả thế giới chỉ còn lại một màn sao chi chít trước mắt, cậu nằm vật xuống chiếu. Từ khi bị ngắt lời tới cuối, Húc Đông không đáp một câu nào.

Chỉ tới lúc đã nằm xuống, khi tai thôi ù, Mộ Phong mới nhận ra cái tiếng sột soạt kia là tiếng vạt áo bị siết trong một nắm tay, nó bắt đầu từ khi cậu hét lên.

Cậu chờ một câu chửi. Cậu đã dọn sẵn trong đầu một chỗ để đón nó.

Tấm ván sàn kêu lên dưới sức nặng của một người đứng dậy. Tiếng chân đi về phía cửa, tới tiếng then gỗ rút ra rồi tới tiếng bản lề. Cánh cửa khép lại sau lưng gã mà gã không dặn lại một câu.

Mộ Phong nằm nghe tiếng chân xa dần trên lối đất ngoài hiên cho tới lúc nó hoà lẫn vào những tiếng động khác của xóm. Một con gà mái cục tác. Ai đó giã gạo ở nhà bên. Cái chốt lỏng ở cửa sổ phía Đông tự kêu lạch cạch hai tiếng khi có gió, và trong một thoáng cậu đã chống tay nhổm dậy. Chẳng có ai gõ cả. Cậu nằm lại xuống và bắt đầu đếm từ một.

Sư phụ không cho người đuổi. Gã thuỷ thủ thì vừa đi khỏi mà không dặn đi đâu. Mộ Phong chẳng biết sắp xếp hai sự việc kia vào những ngăn kéo trong đầu ra sao. Tuy nhiên có điều này thì cậu tin chắc, rằng gã kia lúc về thể nào cũng hỏi. Có kẻ nào thấy một cảnh như đêm qua mà lại nhịn được không hỏi. Mộ Phong lấy từng câu ra đặt theo thứ tự một người bình thường sẽ động tới, rồi gắn vào mỗi mục một câu trả lời đã gọt sẵn.

Thứ nhất, nó tên là gì.

Thứ hai, ai trao nó cho cậu.

Thứ ba, cậu đã luyện tới đâu.

Thứ tư, cái vại dùng để làm gì.

Thứ năm, sáng hôm quỳ xong thì sư phụ đã nói gì.

Năm câu, năm ngăn, câu nào cũng đủ ngắn để gã kia khỏi chen ngang. Cậu đọc thầm lại cả hàng hai lượt để đảm bảo là không ngăn nào lệch.

Sắp xếp trả lời ổn thoả, trong phòng vẫn chỉ có mình Mộ Phong với con số do cậu tự nhẩm đếm trong đầu.

Cậu nhìn lên xà nhà một lúc rồi chống tay ngồi dậy xếp bằng, hai bàn tay úp lên đầu gối. Cuốn sách ghi khẩu quyết đã bị bỏ lại trên nền nhà đá. Nhưng cậu chẳng cần tới nó, bởi từng chữ đã nằm sẵn trong đầu cậu theo đúng thứ tự trang. Đêm qua cậu chỉ vấp có một chữ, chẳng đáng gì. Cậu đã gần làm được rồi, và lần này sẽ chẳng có ai đạp cửa.

Câu đầu tiên được đọc lên, khí tức trong đan điền Mộ Phong lập tức nhúc nhích. Tới câu thứ hai thì hai bả vai nóng bừng như có ai áp than hồng vào rồi lập tức lạnh buốt như trúng độc hàn băng, những đường gân bắt đầu sẫm ngược từ cổ tay lên. Cậu vẫn miễn cưỡng giữ tiếng đọc đều. Tới câu thứ ba, thứ trong người đã chạy trước tiếng đọc một quãng, cơn đau quặn lên từ dưới xương sườn khiến cậu gập người xuống, trán chạm chiếu.

Cậu nằm co ở tư thế ấy cho tới khi hơi thở bình thường trở lại, còn con số đang đếm thì đã rơi mất. Mộ Phong đành quay về số một, tiếng lẩm nhẩm xen lẫn tiếng rên hừ hừ.


Lán trọ của tàu nằm sau dãy kho muối, cách cầu tàu mạn Bắc một quãng ném đá. Húc Đông tới đó bằng lối sau men theo hàng sào phơi lưới.

Dọc đường gã đã nghĩ sẵn một câu, rất ngắn thôi, chắc chắn có chữ "nghỉ". Gã định nói ra như mọi bận khất tiền rượu. Ba đứa kia gọi gã là Đông ca từ chuyến đầu tiên chung tàu, còn gã chỉ quen gọi chúng bằng một tiếng "ê". Cứ "ê" với "xin nghỉ", gã tính thế là đủ.

Còn cách gốc bàng chừng hai chục bước thì gã nghe tiếng quát sang sảng của lão thuyền phó. "Tù và thổi hai lượt rồi! Tàu nhổ neo trước con nước chiều. Chủ tàu đã nói là không neo thêm đêm nào ở cái bến này nữa!"

Húc Đông đứng lại sau một tấm lưới đang phơi. Qua mắt lưới, gã thấy ba bóng lưng quen thuộc. Tên sẹo đứng giữa, hai tay chống nạnh. Gã gầy ngồi xổm trên mép chiếu, còn gã có vết bớt trên vai thì ôm một cuộn chão trong lòng. Lão thuyền phó đứng đối diện cả ba, mặt đỏ tới mang tai.

"Đông ca chưa về." Tên sẹo mở miệng, giọng gằn từng chữ. "Đợi thêm một con nước nữa thì chết ai."

"Thì chết ta đây này! Hôm kia ngoài cầu tàu có thằng phu đang vác hàng thì quẳng bao xuống, đứng giữa chợ mà xé áo. Gân cổ gân tay nó đen như chão tẩm nhựa. Nó bẻ gãy tay hai người rồi mới chịu ngã." Lão thuyền phó giơ ba ngón tay lên. "Tháng này là đứa thứ ba rồi. Từ giờ đứa nào bước lên ván cầu, phu hay khách cũng thế, đều phải xắn tay áo lên tới khuỷu cho ta coi. Tàu này không chở gân đen."

Húc Đông nhíu mày, đoạn gã cúi nhìn cẳng tay mình. Trên đó chỉ có vết sẹo và vết cháy nắng. Gã ngoái lại con đường vừa đi tới một cái rồi mới quay mặt lên.

"Thì có ai đòi chở đâu." Gã gầy càu nhàu. "Bọn ta chỉ đòi đợi. Hắn chưa bỏ chuyến nào, lão biết thừa. Đêm qua hắn không về ngủ, sáng nay cũng chẳng thấy mặt, chắc là có chuyện."

"Chuyện gì thì cũng là chuyện của nó. Sáng nay cả chợ kháo nhau trại trên núi nửa đêm đánh kẻng. Ta chẳng cần biết có dính tới nó hay không. Tàu này còn chở hàng cho nửa số môn phái vẫn mua sách của Phục Cốt Tông. Đứa nào dây vào chỗ đó thì đừng vác mặt lên boong của ta." Lão hạ giọng xuống làm cho âm thanh phát ra còn khó nghe hơn tiếng quát. "Tiền công chuyến này của nó ta đang giữ. Tù và lượt ba mà không thấy mặt thì coi như nó tự bỏ, phần ấy sung vào quỹ tàu."

"Thế lão cứ trừ luôn vào phần ta mà đợi." Gã có vết bớt nói, mắt vẫn nhìn cuộn chão.

"Phần ta nữa." Tên sẹo tiếp lời.

Gã gầy trố mắt ngước lên nhìn hai đứa kia, mặt nhăn như vừa cắn phải hạt lạc thối, nhưng rồi cũng thở hắt ra. "Ừ thì phần ta nữa. Lão ngủ ngáy đuổi cả cá đi, bọn ta có trừ công lão ngày nào đâu."

Dưới gốc bàng, manh chiếu vẫn trải ở chỗ cũ. Vò rượu nếp đặt giữa chiếu, quanh nó có bốn cái bát sành, ba cái đã cạn. Cái thứ tư được rót đầy tới miệng và đặt ở mép chiếu phía ngoài, chỗ một người từ đường cái đi vào sẽ ngồi xuống trước tiên.

Húc Đông nhìn cái bát ấy. Bàn tay gã đã giơ lên từ lúc nào, đúng cái thế vẫn dùng để vẫy mỗi lần thấy mặt người quen từ xa. Miệng gã cũng đã mở sẵn cho một tiếng “ê”. Nhưng họng gã thì nghẹn cứng như vướng hạt lạc nuốt vội.

“Ba đứa bay muốn ở lại bến cùng nó thì cứ ở.” Lão thuyền phó đảo đôi mắt như lợn luộc qua bên, tiếng nói sôi sùng sục trong cổ họng. “Thiếu mấy đứa kéo buồm như tụi bay thì tàu vẫn ra khơi được. Để sang mùa sau xem còn chủ tàu nào nhận đám bay.”

Lần này không đứa nào đáp lời ngay. Hai bàn tay chống nạnh của tên sẹo rời khỏi hông.

Húc Đông hạ tay xuống trước khi có đứa nào kịp đáp. Gã ngậm miệng lại rồi lùi một bước, lệch đi chừng nửa gang tay, vừa đủ để tấm lưới che kín lấy gã. Gã quay ngược lại lối sau dãy kho muối, chân đặt xuống nhẹ như lúc buông mình khỏi bức tường cắm đầy mảnh sành.

Gã đi được dăm bước thì giọng tên sẹo vọng tới sau lưng. Giọng ấy nhỏ hơn lúc nãy và chẳng còn gằn chữ nào. “Đông ca tự lo được. Lên thôi tụi bay.”

Bàn tay Húc Đông tìm về đúng chỗ vạt áo đã nhàu từ sáng rồi siết lại. Kể cả khi tiếng tù và thổi lượt thứ ba, gã vẫn đi thẳng mà không ngoảnh đầu. 


 Cánh cửa phòng trọ vang lên tiếng cọt kẹt khi đã chiều muộn. Mộ Phong đang đếm tới bốn nghìn một trăm mười hai thì bỏ ngang.

Húc Đông lách vào, gã quay lưng cài then rồi lấy chân gạt cái ghế đẩu chèn xuống dưới chân cửa. Kẹp dưới nách gã là một cái vò. Gã đặt nó xuống giữa sàn rồi đi một vòng. Hai tiếng gõ ở cửa sổ phía Đông. Ba tiếng ở cửa sổ phía Nam. Cái chốt lỏng kêu lạch cạch.

Mộ Phong ngồi dậy nhìn cái vò trước khi nhìn gã thuỷ thủ. Vò sành mộc, da nung chưa đều lửa, miệng nút bằng lá chuối khô buộc lạt. Trên thân nó chẳng có triện, cũng chẳng có sáp. Mùi men nếp đã lọt vào phòng từ lúc còn ở ngoài hiên. Sáu tháng nay cậu đã thuộc giá từng loại rượu đi qua tay hai đứa, từ vò Tuần Châu mười lăm lạng cho tới thứ rượu gạo hai tiền một bát ở chợ phiên. Chính xác thì loại Húc Đông mang về thường được đám phu thuyền uống cho ấm bụng trước lúc ra khơi. Mộ Phong còn nhớ rõ, chưa lần nào gã thuỷ thủ này mang thứ rượu nào dưới ba lạng tới trại Phục Cốt Tông.

Mộ Phong cố gắng phân loại thứ rượu này, nhưng chẳng ngăn nào vừa. Chớp mắt một cái mệt mỏi, Mộ Phong chợt để ý vạt áo trong của gã nhàu lại một chỗ to bằng nắm tay. Những nếp nhàu ấy sâu tới mức cả buổi đi đường cũng chưa làm chúng phẳng ra.

Mắt đảo lại về vò rượu, Mộ Phong bắt đầu đối chiếu quãng đường. Hàng rượu gần nhất nằm ở đầu xóm, sáng nay tiếng rao của nó vọng vào tới tận chiếu. Đi ra đó rồi quay về, kể cả đứng mặc cả chỉ tốn chừng ba trăm nhịp thở. Còn Húc Đông đi quá bốn nghìn bảy trăm, chưa tính quãng con số bị đánh rơi.

Húc Đông ngồi xuống sàn, rút nút lá chuối. Gã chẳng buồn tìm chén. Trong phòng chỉ có mỗi cái bát cháo ban sáng. Gã bưng lên húp một hơi hết chỗ cháo nguội, tráng bát bằng một ngụm rượu, rót đầy rồi đẩy sang phía chiếu chỗ Mộ Phong.

"Uống."

Mộ Phong trầm ngâm một hồi mới cầm lấy bát. Rượu nếp cay và gắt ở cuối lưỡi, hương vị nồng nặc ấy kém xa thứ đệ nhất tửu đã làm cậu đỏ mặt trong gian khách điếm lợp tranh nửa năm về trước. Hôm ấy gã này đập tay lên bàn đòi đấu tửu lượng, còn hôm nay gã chỉ rót rượu.

Cậu uống hết rồi đẩy cái bát về. Húc Đông đón bát rót cho mình, ngửa cổ uống một mạch rồi lại rót sang. Cái bát đi qua đi lại giữa hai người trên mặt ván, cả căn phòng trọ chỉ còn độc tiếng đáy bát chạm gỗ.

Năm câu trả lời vẫn nằm nguyên trong đầu Mộ Phong, ngăn nào ở yên ngăn ấy.

Câu thứ nhất là một cái tên ba chữ.

Câu thứ hai nói rằng bản chép do chính tay sư phụ trao, và người bảo trong số những bản tông môn dịch được thì đây là bản đủ nhất.

Câu thứ ba nói rằng cậu mới đi được già nửa số vòng dẫn khí.

Câu thứ tư nói rằng cái vại là việc của bước sau. Phải dẫn trọn đủ số vòng không lệch thì mới tới lượt giở tấm vải đỏ, và thứ ở trong vại chưa hề chạm vào người cậu.

Câu thứ năm ngắn nhất. Sáng hôm ấy, sau một đêm để cậu quỳ ngoài thềm, sư phụ cho gọi vào và nói năm chữ. Thép tốt không sợ lửa. Cậu đã cất năm chữ ấy theo đúng cái cách từng cất ba chữ lần trước.

Cậu kiên nhẫn đợi gã kia hỏi. Hết bát thứ ba, rồi tới bát thứ năm. Húc Đông kể chuyện con ngỗng nhà chủ trọ vừa đuổi gã một quãng ngoài ngõ, rồi kể giá chả nướng ở xóm này đắt gấp rưỡi ngoài chợ. Gã chẳng buồn nhắc tới nhà đá, hoàn toàn tảng lờ những gì đã nghe sáng nay.

Năm câu trả lời cứ nằm đó giống như thanh kiếm đã tuốt khỏi vỏ trên một lôi đài chẳng có ai bước lên.

Mộ Phong cũng có hai câu muốn hỏi. Ngươi đi đâu mà lâu thế. Và vì sao lại là rượu nếp. Nhưng cả hai câu đều mắc lại trong cái bát sành truyền qua truyền lại giữa hai người.

Vò rượu vơi quá nửa thì ngoài cửa sổ đã nhá nhem. Húc Đông rót thêm một bát, lần này gã dúi hẳn nó vào tay Mộ Phong.

"Uống nốt đi cho dễ ngủ. Thứ này chẳng ngon lành gì, được cái tu một hơi là ngủ được." Gã lau miệng bằng mu bàn tay. "Mai ta với ngươi đi tìm thầy thuốc."

Mộ Phong ngước lên, cái giọng kẻ cả của gã vẫn không ngớt.

"Quanh đây thì khỏi tìm. Ngoài bến dạo này cũng có mấy đứa gân đen như ngươi, ta nghe người ta nói ở hàng rượu. Tháng này ba đứa rồi. Thầy lang trong vùng thấy gân đen là đóng cửa. Không coi cho thì đi chỗ khác. Đi tới khi nào có người chữa được thì thôi."

Gã nói câu cuối chắc như đinh đóng cột, hơn hẳn bất kỳ thứ gì gã từng bàn tới trước đây.

Mộ Phong ngồi im với bát rượu trong tay. Ngoài bến cũng có mấy đứa gân đen. Cái ngăn thứ hai trong đầu cậu xê đi một chút. Bản đủ nhất thì do sư phụ trao, được cất giữ cẩn thận trong tông. Vậy những kẻ ngoài bến đang luyện theo bản nào, và ai đã bán nó cho họ? Phục Cốt Tông sống bằng nghề gì, Mộ Phong biết rất rõ. Cậu luống cuống đẩy cái ngăn ấy về chỗ cũ, ấn cho nó khít lại, rồi ghi thêm chữ "bến" vào cạnh nhãn trên ngăn tủ mà không dám quay lại nhìn.

Cậu uống cạn bát rượu. Hơi men đã bắt đầu nới lỏng cái trình tự trong đầu hệt như lần trước, và miệng cậu bật ra câu hỏi mà bản thân định kìm lại.

"Sao ngươi không hỏi?"

Húc Đông đang ngửa cổ dốc mấy giọt cuối trong vò thì mắt liếc về phía thằng nhóc mặt lạnh. "Hỏi gì?"

"Thứ trong người ta. Ngươi thấy hết rồi mà từ sáng tới giờ ngươi không hỏi câu nào."

Gã thuỷ thủ đặt vò xuống, lông mày nhướng lên cao gần chạm đường chân tóc.

"Nó tên là Long Thần Công."

Đó là lần đầu tiên ba chữ ấy rời khỏi miệng Mộ Phong kể từ ngày cậu quỳ nhận bản chép. Cậu đã để dành nó cho câu hỏi thứ nhất, rốt cuộc lại tự mình nói ra khi chẳng ai hỏi.

Húc Đông gãi cái cằm lởm chởm râu, mặt gã nhăn lại ra chiều ngán ngẩm.

"Nó tên gì thì nó cũng đang gặm ngươi thôi." Gã nói. "Ta chỉ cần biết cách gỡ nó ra, chứ biết tên làm quái gì."

Khi Húc Đông dứt lời, Mộ Phong đã mở miệng định cãi. Nhưng lục mãi vẫn chẳng ra câu nào cãi cho ra hồn nên cậu lại ngả lưng xuống chiếu, kéo cái áo mượn lên tới cằm. 


Dù có ở hoàn cảnh nào, cứ đặt được lưng xuống là Húc Đông ngủ ngay. Gã ngả ra ván sàn, một tay gối đầu, tay kia còn đặt trên miệng vò, mười nhịp thở sau là ngáy.

Với Mộ Phong thì tình hình không khả quan lắm. Cậu nằm ngửa còn mắt mở thao láo, miệng lẩm nhẩm đếm theo cái tiếng ngáy rống kia. Tới tiếng thứ hai trăm mười ba thì tiếng ngáy ngừng.

Yên lặng được một lúc thì gã kia bắt đầu lẩm bẩm. Thoạt đầu Mộ Phong chỉ nghe ra nhịp. Cứ bốn tiếng lại ngừng một nhịp, rồi vòng lại bốn tiếng. Chúng dài ngắn đều đặn, cứ lên rồi xuống thành một chu kỳ. Nếu phải có một đối chiếu, Mộ Phong tin rằng nó nghe giống nhịp nước vỗ vào mạn một con thuyền đang neo.

Đó giờ chỉ nhớ khẩu quyết nghe như tiếng con sóng thôi. Húc Đông từ nửa năm trước đã mô tả Lôm Côm Quyền của gã như vậy, khi đó mồm gã còn nhồm nhoàm đầy đậu rang.

Những mẩu thông tin rời rạc chợt bám lấy nhau, gợi lên trong tâm trí Mộ Phong như bao mảnh tàn thư khác trong Phục Cốt Tông. Cậu nằm im nghe thêm một lượt nữa. Kinh nghiệm tám năm nghiên cứu giấy mực đã dạy cậu mổ xẻ những câu từ tưởng chừng chỉ là đống bùng nhùng khó hiểu. Tới lượt lẩm bẩm thứ hai của Húc Đông, nhịp sóng vỡ ra và từng chữ lần lượt nổi lên lấp đầy các khoảng trống.

Thủy vô thường hình, kình vô định thế.

Năng tải năng phúc, huyễn ảo mạc trắc.

Sơ bộ hình thức và cấu trúc, Mộ Phong đoán đó là cổ văn. Câu bốn chữ đối nhau từng cặp, lối hành văn của những tiền nhân vĩ đại. Ý tứ ẩn tàng sau từng chữ đơn lẻ và cả trong tổng thể lời lẽ. Sự ảo diệu này, Mộ Phong không dám chắc mình có thực sự thấm nhuần được không.

Thủy cư hạ vị, dĩ thoái vi tiến.

Tiếng sột soạt vang lên, là gót chân trái của Húc Đông tự lùi lệch chừng nửa gang tay ra sau.

Mộ Phong nhỏm dậy, mắt chòng chọc dán vào cái cử động ban nãy. Thứ mà cậu dốc sức lục lọi sáu tháng trời, thứ cử động quái đản đã né sạch năm mươi bảy chiêu trên lôi đài hôm ấy, rốt cục lại nằm ngay trong cổ họng gã thuỷ thủ ngủ say như chết này. Mà thậm chí gã cũng chỉ nhớ là nó nghe như tiếng sóng chứ bẻ đôi một chữ ra cũng không hiểu nghĩa.

Nhất ba tài động, vạn lãng tương tùy.

Kình tòng địa khởi, chưởng thế quyết đê.

Cửu...

Mộ Phong tưởng mình bị ù tai nên nheo mắt, cố gắng dỏng lên nghe thêm. Nhưng kỳ thực thì Húc Đông đã thôi nói mớ được hai chục giây, gã chép miệng một cái nghe như tiếng sống kiếm chém vào cột đá rồi trở mình sang mé phải. Tiếng ngáy đều đều lại vang lên, khoả lấp không gian tĩnh mịch của màn đêm.

Hết cách, Mộ Phong thở dài một hơi. Đôi vai gồng cứng được thả lỏng, nhưng đầu óc cậu lại hoạt động nhanh gấp hai. Vừa rồi là năm câu và một chữ. Cậu xếp chúng theo thứ tự rồi đọc thầm lại từ đầu, dừng lại tại chữ "Cửu". Cậu quay về câu mở đọc lại lần nữa, lần này chậm hơn và vẫn phải dừng đúng chỗ. Mộ Phong hiểu, dù có dựng gã dậy thì cũng chẳng có cách nào đảm bảo moi ra cho bằng hết chỗ chữ nghĩa còn lại, nên cậu tự lẩm nhẩm những gì đã gom nhặt được hòng học thuộc lòng.

Ngoài cửa sổ phía Đông, cái chốt lỏng kêu lạch cạch trong gió. Cậu nhóc chớm tới mười sáu tuổi cứ lẩm nhẩm như vậy tới khi mi mắt sập hẳn xuống và tiếng ngáy đều đặn bên cạnh ru cho tâm trí cậu ta mê man. Cũng chẳng dễ chịu gì, bởi cậu ta vốn chỉ coi tiếng ngáy ấy như thứ ồn ào thừa thãi, chẳng ngờ vì nó mà cậu ta lịm đi được.

💬 Bình luận (0)

📚 Truyện tương tự