Sau khi từ biệt Tào Tháo tại huyện Đốn Khâu, Tào Hiển Minh tiếp tục ruổi ngựa hướng về phía tây bắc. Một người một ngựa thong dong vượt qua muôn trùng đèo dốc, vừa ngắm nhìn non sông hùng vĩ, vừa ghé vào chốn thôn dã để quan sát phong tục tập quán và đời sống thứ dân.
Thấm thoắt, Hiển Minh đã đặt chân đến địa phận quận Hà Đông — vùng đất cổ kính nằm bên bờ bắc dòng Hoàng Hà cuộn sóng.
Một buổi chiều tà, khi đang men theo con đường mòn dưới chân núi gần huyện Giải, Hiển Minh chợt nghe thấy tiếng hò hét cùng bước chân dồn dập từ phía xa. Hắn lập tức ghìm cương thần mã Tuyết Hải, nép mình sau gò đá quan sát.
Phía trước, một toán quan sai nha môn chừng tám tên, tay lăm lăm hoàn thủ đao và giáo sắt, đang ráo riết đuổi bắt một bóng người đơn độc. Kẻ đang bị truy đuổi là một tráng hán thân hình cao lớn vượt trội, khoác bộ áo vải thô màu lục đã sờn rách vì gió bụi, chân quấn xà cạp gọn gàng. Dù đang lâm vào cảnh cùng đường, tráng hán ấy vẫn thoăn thoắt lách qua các bụi rậm rồi lẩn biến vào khu rừng trúc rậm rạp dưới thung lũng.
Toán quan binh đuổi đến bìa rừng thì trời đã sẩm tối. Địa hình hiểm trở khiến bọn chúng không dám liều lĩnh xông vào, đành dựng lều trại tạm ngay chân núi để chốt chặn.
Thấy sự việc có uẩn khúc, Hiển Minh buộc Tuyết Hải vào lùm cây kín đáo, rồi nương theo bóng đêm áp sát khu trại của đám sai dịch để thám thính.
Bên đống lửa bập bùng, tám tên nha sai vừa gặm lương khô vừa chửi rủa:
— Mẹ kiếp! Tên họ Quan này dai như trâu mộng! Trốn nã suốt hơn một năm trời, vừa để lộ mặt ở huyện Giải là lại lẩn biến vào rừng sâu!
Một tên nha sai khác nhổ toẹt một bãi nước bọt, tiếp lời:
— Tên Quan Vũ đó năm ngoái mới mười tám tuổi mà đã to gan dám vung đao chém chết lão Lã cường hào. Lão họ Lã kia dù có ức hiếp dân cướp nước thật, nhưng lão là thân thích của Huyện thừa đại nhân! Nha môn treo thưởng cả trăm quan tiền, lần này bắt được hắn nhất định phải giải về lột da!
— Hắn bị thương ở chân rồi, sáng mai chúng ta bịt kín hai đầu hẻm núi, hắn có mọc cánh cũng khó thoát!
Nấp sau thân cây cổ thụ, Hiển Minh nghe rõ từng lời. Ánh mắt hắn khẽ sáng lên, trong lòng dâng trào niềm thán phục:
"Quan Vũ! Tự Vân Trường!"
Người thanh niên mười chín tuổi đang trốn chạy kia chính là vị danh tướng cái thế mai sau! Một đấng trượng phu dám vung đao trừ ác tặc bảo vệ dân nghèo, thà chịu cảnh bôn ba phiêu bạt chứ nhất quyết không cúi đầu trước cường quyền.
Hiển Minh thầm nhủ: "Một bậc dũng hiệp trung nghĩa như vậy, há có thể để bỏ mạng trong tay đám sai dịch vụ lợi này?"
Hắn quan sát kỹ địa thế. Con đường duy nhất dẫn vào chỗ ẩn nấp của Quan Vũ đi qua một hẻm đá hẹp, phía trên có gò đất cao phủ đầy cây bụi, chính là vị trí đắc địa nhất để khống chế toàn bộ hẻm núi.
Sáng sớm hôm sau, khi màn sương mù còn bao phủ sườn non, toán nha dịch tám tên bắt đầu rút đao, hò hét xông vào hẻm đá truy lùng.
Quan Vũ từ trong lùm cây bị dồn ép phải lùi dần về vách đá cụt, tay nắm chặt thanh đoản đao đã sứt mẻ, đôi mắt phượng quắc lên tia nhìn sắc lạnh, sẵn sàng tử chiến một mất một còn.
Đúng lúc bọn nha dịch chuẩn bị ùa lên bao vây, từ trên đỉnh đồi cao, Hiển Minh đã vào vị trí. Hắn đặt chiếc nỏ Hán chắc chắn lên vai, mắt ngắm qua thước vọng sơn, ngón tay bình thản gạt nhẹ lẫy đồng.
Vút! Phập!
Một mũi tên sắt xé toạc màn sương, cắm phập vào bả vai tên nha sai đi đầu, khiến hắn rú lên đau đớn rồi ngã quỵ xuống đất.
Chưa kịp để bọn chúng hoàn hồn, tiếng lẫy nỏ lại liên tiếp vang lên:
Phập! Phập! Phập!
Từng mũi tên chuẩn xác bắn văng thanh đao trên tay một tên khác, cắm xuyên đùi tên thứ ba và găm thẳng vào thân cây sát đầu tên dẫn đoàn. Uy lực dũng mãnh từ trên cao dội xuống kết hợp sương mù che khuất khiến cả toán nha sai kinh hồn bạt vía:
— Có mai phục trên núi! Mau rút lui!
Nghĩ rằng có cả toán hảo hán che chở cho Quan Vũ, đám sai dịch khiếp đảm dìu nhau tháo chạy thục mạng ra khỏi hẻm núi.
Quan Vũ đứng dưới vách đá ngơ ngác nhìn lên gò đồi mù sương, không thấy bóng người đâu. Biết nguy hiểm tạm qua, Quan Vũ lập tức lùi về khoảng đất trống rợp bóng trúc xanh dưới vách núi để băng bó vết thương.
Hiển Minh không lộ diện ngay. Hắn thong thả quay lại dắt ngựa Tuyết Hải, ghé quán trọ dưới chân núi mua một bầu rượu nồng cùng bọc thịt khô thơm phức. Lần theo dấu vết bẻ cành tinh vi, Hiển Minh bước vào rừng trúc, tìm đến chỗ Quan Vũ đang ngồi nghỉ.
Thấy bóng người bước tới, Quan Vũ lập tức siết chặt chuôi đao mẻ, ánh mắt đầy vẻ cảnh giác.
Thế nhưng, người bước tới là một thanh niên trạc hai mươi mốt tuổi, phong thái đĩnh đạc, áo bào thanh nhã, tay xách bọc lương khô cùng bầu rượu thơm, trên môi nở nụ cười hòa nhã:
— Vị huynh đài, vết thương ở chân đã đỡ chưa?
Quan Vũ nhíu mày, trầm giọng hỏi:
— Các hạ là ai? Sao lại tìm đến nơi hoang vắng này?
Hiển Minh đặt bầu rượu và gói thịt xuống một phiến đá phẳng giữa rừng trúc, chắp tay nói:
— Tại hạ là Tào Đình Vũ, tự Hiển Minh, người đất Tiêu Huyện. Sáng nay thấy bọn quan sai ức hiếp hảo hán, nên mạo muội dùng nỏ trợ lực trên gò đồi. Nay mang chút rượu thịt tới thăm hỏi, mong Vân Trường huynh chớ ngại!
Nghe nhắc đến chuyện phát nỏ giải vây cùng tên tự của mình, Quan Vũ buông lỏng tay đao, nỗi cảnh giác tan biến, thay bằng sự cảm kích vô ngần. Nhìn cốt cách đĩnh đạc và ánh mắt chân thành của Hiển Minh, Quan Vũ vội bước tới chắp tay đáp lễ:
— Hóa ra ân công chính là vị tráng sĩ phát nỏ lúc sáng! Quan mỗ thô lỗ chưa kịp tạ ơn, xin đa tạ Tào huynh đã cứu mạng!
Hiển Minh bước lại gần đỡ lấy tay Quan Vũ:
— Huynh vì dân trừ bạo, là đấng trượng phu, hà tất phải gọi ân công cho xa cách! Mau ngồi xuống đây, chúng ta cùng uống chén rượu ấm cho giãn gân cốt!
Dưới bóng trúc xanh ngát xào xạc trong gió chiều, hai người ngồi đối diện nhau trên phiến đá lớn. Hiển Minh mở nắp bầu rượu, mùi rượu nồng tỏa hương ngây ngất. Họ cùng xé thịt khô, chuyền tay nhau uống từng ngụm lớn sảng khoái.
Hiển Minh quan sát kỹ Quan Vũ. Dù mới mười chín tuổi nhưng tráng hán đã sở hữu thân hình vạm vỡ uy phong, mặt đỏ như gấc, đôi mày ngọa tằm sắc bén, mắt phượng uy nghiêm, hàm râu rậm rạp toát lên khí phách phi phàm của bậc vạn người khôn địch.
Uống cạn một hớp rượu, Quan Vũ thở dài một tiếng, cất giọng đầy uất ức:
— Bọn cường hào cậy thế quan nha bức hại dân lành, cướp đất cướp nước. Quan mỗ vung đao chém chết lão họ Lã để trừ hại cho chòm xóm, chẳng ngờ lại chịu cảnh trốn chạy tha hương, mẹ già ở quê không ai phụng dưỡng, tấm thân này thật hổ thẹn vô cùng!
Hiển Minh nhìn thẳng vào mắt Quan Vũ, điềm đạm nói:
— Huynh vì nghĩa vung đao, tấm lòng ấy đáng quý vô cùng! Nhưng Vân Trường huynh thử nghĩ xem, huynh chém chết một lão Lã ở huyện Giải, liệu thiên hạ này có bớt đi những kẻ ác bá khác không?
Quan Vũ giật mình, ngơ ngác nhìn Hiển Minh:
— Ý của Tào huynh là...
Hiển Minh vỗ nhẹ lên vai Quan Vũ, giọng trầm ấm nhưng đanh thép:
— Huynh có một lưỡi đao, giết một kẻ ác thì bản thân lại mang tội trốn nã, mẹ già chịu khổ, thân trai phải ẩn dật trong rừng sâu. Tấm thân mang sức vạn người của huynh chẳng lẽ chỉ để chôn vùi trong những cuộc trốn chạy này sao? Kẻ trượng phu muốn trừ gian diệt bạo thực sự, phải làm nên đại nghiệp, dẹp yên loạn thế, mang lại thái bình cho muôn dân! Lưỡi đao của huynh phải vung lên vì việc lớn, chứ không thể lãng phí ở chốn rừng hoang này!
Từng lời của Hiển Minh mộc mạc, hào sảng mà đánh trúng tâm can. Chàng tráng sĩ mười chín tuổi như bừng tỉnh, lồng ngực phập phồng xúc động. Suốt hơn một năm bôn ba gió bụi, hắn chỉ gặp những kẻ quan lại tham tàn hoặc phường hèn hạ, chưa từng có ai nhìn thấu tấm lòng và chỉ cho hắn một chí hướng trượng phu cao đẹp đến thế!
Quan Vũ đứng phắt dậy, vòng tay cúi đầu thật sâu:
— Lời Tào huynh như sấm rền thức tỉnh kẻ thô lỗ này! Huynh cứu mạng ta, lại chỉ cho ta thấy chí lớn của bậc nam nhi, Quan mỗ xin khắc cốt ghi tâm!
Hiển Minh cũng đứng dậy, nắm chặt đôi bàn tay dày dặn của Quan Vũ, chân thành nói:
— Ta lớn hơn huynh hai tuổi. Nếu Vân Trường không chê Tào mỗ vụng về, hôm nay dưới rặng trúc này, hai ta hãy cùng kết làm huynh đệ sinh tử! Từ nay có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia, cùng nhau mưu cầu đại nghiệp giúp đời!
Quan Vũ mắt đỏ hoe, hào sảng đáp:
— Được Đại ca đoái hoài, Quan Vũ này dẫu thịt nát xương tan cũng nguyện theo huynh đến cùng!
Dưới rặng trúc rì rào và ánh chiều tà rực rỡ chốn Hà Đông, hai thanh niên rót chén rượu đầy, quỳ xuống vái lạy trời đất. Tào Hiển Minh sinh năm Bính Thân (156 CN) làm Đại ca, Quan Vân Trường sinh năm Mậu Tuất (158 CN) làm Nhị đệ. Lời thề đồng tâm vang vọng giữa rừng trúc hoang vu, mở ra mối liên kết sắt son giữa vị mưu sĩ tài ba và mãnh tướng cái thế.
Sau khi đứng dậy, Hiển Minh bước lại ngựa Tuyết Hải, tháo thanh hoàn thủ bảo đao bằng thép tốt buộc bên yên ngựa trao tận tay Quan Vũ:
— Nhị đệ, thanh đoản đao của đệ đã mẻ, thanh bảo đao này ta tặng đệ để tùy thân! Còn về án mạng ở huyện Giải, gia tộc họ Tào ta chốn quan trường có quen biết sâu rộng. Ta sẽ lập tức gửi thư và bạc về nhờ gia đình thu xếp nơi huyện nha, bãi nại công văn truy nã cho đệ. Từ nay, đệ có thể ngẩng cao đầu mà đi lại dưới ánh mặt trời!
Quan Vũ đón lấy thanh đao tốt, tuốt vỏ nghe một tiếng keng lanh lảnh, trong lòng dâng trào cảm kích, cúi đầu tạ ơn Đại ca.
Từ ngày hôm ấy, bên cạnh bóng dáng nho nhã của Tào Hiển Minh trên lưng ngựa Tuyết Hải, đã có thêm một vị tráng hán oai phong lẫm liệt khoác áo lục sẫm, tay cầm bảo đao, trở thành người hộ vệ và cánh tay đắc lực trung thành nhất cùng hắn bôn tẩu dặm dài.