Đà Nẵng tháng mưa năm 1985.
Mùa mưa chưa dứt hẳn, để lại những vũng nước đọng loang lổ trên con đường đất đỏ rợp bóng phi lao dọc ven sông Hàn. Thành phố lúc này không ồn ào, chẳng có những ánh đèn neon rực rỡ hay tiếng còi xe inh ỏi của tương lai. Mọi thứ trôi đi trong một vẻ trầm mặc, nghèo khó nhưng đượm tình người. Khói bếp từ những mái nhà tranh, nhà ngói âm dương lác đác ven sông quyện với mùi mặn mòi của gió biển thổi ngược vào, tạo nên một thứ mùi rất đặc trưng mùi của sự sinh tồn sau bão giông, mùi của hòa bình vừa chớm nở nhưng vẫn còn vương vấn nét gầy guộc.
Trước hiên nhà cấp bốn quét vôi xanh đã ngả màu bong tróc, Vũ ngồi trên chiếc ghế đẩu tre thấp tè, cặm cụi gọt một khúc gỗ xoan nhỏ để làm con chuồn chuồn tre cho con gái.
Đôi bàn tay anh to bản, chai sần, những đường gân xanh nổi lên chằng chịt, từng móng tay cáu bẩn vì nhựa gỗ. Đó là đôi bàn tay đã từng tháo lắp băng đạn trong những đêm mưa rừng trường sơn, đã từng mò mẫm dò mìn qua những bãi cỏ tranh sắc lẹm. Nhưng lúc này, nó lại đang nhẫn nại, tỉ mỉ đến từng mi-li-mét để gọt mỏng đôi cánh mỏng tang.
Ba ơi, được chưa ba? Sắp bay được chưa?
Bé Anh Thư năm nay tròn tám tuổi, tóc buộc hai chỏm trái đào bằng sợi dây thun đỏ phai màu, đang ngồi xổm bên cạnh. Con bé chống hai tay lên cằm, đôi mắt đen láy mở to nhìn chăm chú vào con chuồn chuồn trong tay ba. Cái mũi nhỏ cứ hít hà cái mùi thơm của gỗ tươi.
Sắp rồi. Vũ cười, khóe mắt hằn lên những vết chân chim sớm do sương gió chiến trường để lại. Giọng anh trầm ấm, khàn khàn đặc trưng của những người từng trải qua khói súng: Phải gọt cho đều hai bên cánh, không là nó ngã nhào xuống đất, không bay nổi đâu con ạ.
Từ trong gian bếp nhỏ sát vách, tiếng củi lép bép cháy hòa lẫn với tiếng âm thanh quen thuộc của chiếc muỗng nhôm khua vào nồi. Ngọc Ánh bước ra, tay cầm chiếc khăn quấn vội lau vết nhọ nồi bên má. Chị bước sang tuổi ba mươi sáu, cái tuổi mà đáng lẽ ra con gái phải mặn mà, phơi phới, nhưng những năm tháng hoạt động giao liên miệt mài dọc tuyến lửa Quảng Nam - Đà Nẵng trước đây đã sớm vắt kiệt đi một phần thanh xuân của chị.
Ánh mắt chị sâu thẳm, bước chân hơi khập khiễng nhẹ bên chân trái di chứng của một trận càn mà chị từng nuốt giấu vào trong, chưa bao giờ kể lể với chồng. Chị mặc bộ áo bà ba vải thô đã sờn vai, đứng dựa cửa nhìn hai cha con, khóe môi mỉm cười dịu dàng.
Anh cứ cưng chiều nó quá đấy. Ánh cất giọng, chất giọng xứ Quảng trọ trẹ, ấm áp như nước sông Hàn mùa lụt bồi lắng phù sa. Cái tay thì to như cái búa, mà cứ hở ra là ngồi đẽo mấy thứ linh tinh này. Chiều nay tính ăn chi chưa, hay lại đợi tôi xách giợ đi chợ gầm cầu mua mớ tép đồng về kho mặn?
Ăn chi mà chẳng được, miễn là ở nhà với vợ với con. Vũ ngẩng đầu lên, nheo mắt nhìn vợ dưới ánh chiều tà đang ngả màu cam đục.
Một câu nói rất đời thường, chẳng có chút hoa mỹ nào, nhưng lại khiến lòng người chùng xuống. Ngọc Ánh lườm yêu chồng một cái, cái lườm của người phụ nữ đã cùng nếm trải qua ranh giới sinh tử, hiểu thấu tâm can đối phương mà không cần phải thốt ra nhiều lời. Thời chiến, họ gặp nhau ở những điểm hẹn giao liên bí mật, đôi khi chỉ kịp trao nhau gói mì tôm khô, một ánh mắt nhìn nhau qua vách lá rồi ai lại đi đường nấy với sứ mệnh sinh tử trên vai. Ngày đất nước thống nhất, họ về chung một nhà dưới mái tranh nghèo này, mang theo những vết thương chi chít cả thể xác lẫn tâm hồn. Nhưng chính sự mộc mạc, bình yên hiện tại là liều thuốc duy nhất khâu vá lại tất cả.
Gớm, cái miệng khéo nịnh. Ánh bật cười, bước ra hiên ngồi xổm xuống cạnh con gái, tay vén mảng tóc mai lòa xòa trước trán Anh Thư: Thư nè, con đừng có bắt ba làm đồ chơi hoài, để cho ba nghỉ ngơi. Đi lấy cho ba ly nước chè xanh đi con.
Dạ, để con đi múc!
Bé Anh Thư lanh chanh đứng phắt dậy, lăng xăng chạy vào trong nhà. Tiếng dép nhựa lẹt đẹt trên nền đất nện nghe vui tai trong không gian chiều tà yên ả.
Vũ đặt con chuồn chuồn tre xuống đùi, vươn vai một cái. Tiếng xương khớp kêu lạo xạo. Anh nhìn quanh khoảng sân nhỏ: hàng râm bụt trước ngõ đang trổ hoa đỏ thắm, luống rau muống sau nhà mọc xanh rì nhờ trận mưa hồi trưa, và xa xa, dòng sông Hàn phẳng lặng đang lững lờ trôi những chiếc thuyền nan cuộn mình theo con nước lớn. Mọi thứ thật chậm rãi, thực tế đến mức đôi khi Vũ tự véo vào đùi mình để xác định đây không phải là một giấc mơ. Đã bao nhiêu lần ở chiến trường, trong những đêm phục kích lạnh cắt da cắt thịt ở vùng biên giới hay những ngày tháng triền miên trong hầm hào ngập nước, anh tưởng mình sẽ mãi mãi nằm lại đất mẹ, chẳng bao giờ được ngồi đây ngửi mùi khói bếp, nhìn vợ con quây quần.
Ánh đưa tay chạm nhẹ vào mu bàn tay Vũ, nơi có một vết sẹo dài lồi lên trắng bệch. Chị không nói gì, chỉ miết nhẹ ngón tay qua vết sẹo ấy như một cách sẻ chia vô ngôn.
Lại đau chân à? Vũ khẽ hỏi, khi thấy ánh mắt vợ thoáng chùng xuống.
Không. Ánh lắc đầu, ngẩng lên nhìn chồng, ánh mắt đong đầy nỗi niềm: Em chỉ đang nghĩ, giá như thời gian cứ đứng lại mãi ở khoảnh khắc này thôi thì hay biết mấy. Sáng ra anh ở nhà, em đi làm ở hợp tác xã, chiều về ba cha con lại ngồi đây ngắm sông. Bình yên quá, nhiều lúc em cứ sợ... sợ nó không thật.
Ngốc thế. Vũ cười trầm, đưa tay ôm lấy bờ vai gầy của vợ, kéo sát vào lòng mình. Mùi mồ hôi mặn mòi quyện với mùi bồ kết trên tóc Ánh xộc vào mũi anh, rất thực: Anh đây chứ đâu. Chân đạp đất, đầu đội trời thế này cơ mà. Ai cướp được cái bình yên này của chúng mình nữa.
Đúng lúc đó, bé Anh Thư bưng ra một chiếc ca nhựa đựng đầy nước chè xanh chát ngắt, đá lạo xạo bên trong:
Ba uống nước đi nè! Mẹ nữa này!
Giỏi quá nhỉ. Vũ nhận lấy ca nước, xoa đầu con gái cười lớn.
Buổi chiều Đà Nẵng trôi qua như thế, êm đềm như một khúc ca cũ kỹ phát ra từ chiếc đài bán dẫn rè rè cách đó mấy nhà.
Nhưng rồi, khi ánh hoàng hôn cuối cùng chìm hẳn xuống sau dãy núi Hải Vân xa xa, để lại bầu trời một màu xám đục của chạc tối, một thứ âm thanh rất lạ bỗng vang lên.
Nó bắt đầu từ phía bờ sông Hàn. Không phải tiếng sóng vỗ lách tách mạn thuyền quen thuộc, cũng không phải tiếng dế kêu rả rích. Đó là một thứ âm thanh trầm đục, vang lên từ dưới sâu lòng đất giống như tiếng của những khối kim loại khổng lồ đang cọ xát vào nhau dưới áp lực hàng ngàn tấn.
Vũ đang cúi đầu thổi nhẹ vào cánh con chuồn chuồn tre thì khựng lại. Cánh tay anh cứng đờ giữa không trung.
Anh sao thế? Ngọc Ánh nhận thấy sự bất thường, quay sang hỏi.
Vũ không trả lời ngay. Anh chậm rãi ngẩng đầu lên, đôi mắt nheo lại nhìn đăm đăm ra phía bờ sông. Trong một tích tắc ngắn ngủi, không gian trước mắt anh bỗng chao đảo nhẹ. Âm thanh tiếng cười của con gái bên tai bỗng bị bóp nghẹt, thay vào đó là một tiếng hú dài, chói tai, lạnh ngắ tiếng còi báo động phòng không từ một thời điểm nào đó trong ký ức sâu thẳm mà anh tưởng đã chôn vùi.
Và trên vách tường vôi xanh cũ kỹ, cái bóng của bé Anh Thư đang đưa tay cầm ly nước bỗng vươn dài ra một cách kì lạ, méo mó, tua tủa những hình thù như rễ cây khô khốc quằn quại trong gió.
Ba ơi? Ba làm sao thế ạ? Tiếng con bé vang lên, kéo Vũ giật nảy mình.
Vũ chớp mắt thật mạnh, lắc đầu nguây nguẩy. Cảnh tượng trên vách tường biến mất. Con gái vẫn đứng đó, nghiêng đầu nhìn anh bằng đôi mắt trong veo, lo lắng. Rừng phi lao ngoài ngõ vẫn xào xạc thổi lá bay.
À... không. Ba không sao. Chắc lúc nãy cúi lâu quá nên hơi hoa mắt thôi con. – Vũ gượng cười, xoa nhẹ má con gái để che giấu sự hoảng loạn vừa dâng lên trong lồng ngực.
Nhưng bàn tay anh lúc chạm vào má con bé, chẳng hiểu sao lại lạnh ngắt đến kỳ lạ.