6 giờ sáng, ngày 12 tháng 12 năm 1999. Julius Dent thức dậy trên chiếc giường lớn. Những bức tường quanh căn phòng của cậu là vô số những tấm poster, chúng thuộc về những tựa game nổi tiếng, từ Titan Gear: Solid, Super Marido đến Warcrack.
Ngồi dậy, cậu thanh niên 18 tuổi vươn vai một cái, bất chợt, anh dừng lại. Dù nằm phòng có máy sưởi nhưng Julius vẫn cảm nhận được hôm nay có vẻ lạnh hơn mọi hôm. Xuống khỏi giường, anh bước đến cửa sổ - nơi phát ra tiếng gió rít.
Roạt
Hai tấm rèm xám lớn mở ra, cảnh vật của thị trấn đã bị bao phủ bởi màu trắng xóa. Phía sau lớp kính, một cơn bão tuyết đang oanh tạc thị trấn này:
“Tuyệt thật đấy, ngày chủ nhật mà lại bị giam lỏng như thế này.”
Xuống nhà, Julius vào bếp, thuần thục lấy từ trên chạn một chiếc bát nhỏ. Anh đánh hai quả trứng, thả chúng xuống lòng chảo nóng. Bữa sáng của anh gồm có hai lát bánh mì nước, hai quả trứng, bốn miếng ba chỉ, một miếng lạp xưởng cùng chút rau muống luộc. Có vẻ hơi nhiều cho một ngày lười biếng, nhưng Julius vẫn ăn hết chúng mà chẳng suy nghĩ phức tạp. Từ xưa đã vậy, Julius vốn không phải kiểu sẽ hành động mà suy nghĩ quá nhiều. Lên kế hoạch tỉ mỉ cho một chuyến đi chơi hay là nghĩ xem mình sẽ ăn gì tối nay và sáng mai có lẽ với anh đều không quá quan trọng. Phần vì Julius vốn như vậy, phần vì anh cho rằng suy nghĩ quá nhiều sẽ ngăn mình bước tiếp.
Sau khi lấy chút đồ ăn vặt, cậu thanh niên ngồi xuống chiếc sofa quen thuộc ngoài phòng khách. Chiếc sofa đã gắn liền với cậu bé Julius, với Anna, Agnes và Alice.
Bíp
“Vào ngày hôm qua 11 tháng 12, cảnh sát đã bắt được thủ phạm của vụ phóng hỏa ở chung cư Destine khiến 5000 người thương vong. Trong đó bao gồm hai kẻ đều mang tên Chars Edgar...”
Hình ảnh của một người đàn ông da đen không béo không gầy xuất hiện trên màn hình tv, trên mặt gã này có một vết bớt lớn kéo dài từ cổ lên tới hết con mắt trái, mái tóc xám tựa như một lớp tro phủ lên, đôi mắt dữ tợn găm thẳng vào kẻ đang nhìn phía sau màn hình.
Julius nằm dài, đôi mắt màu xanh nhìn về phía bức ảnh truy nã, không rời dù chỉ nửa bước. Như muốn khắc sâu hình ảnh của gã phóng hỏa đốt nhà kia vào tâm trí. Nhưng bất ngờ, kênh tin tức lập tức bị chuyển sang kênh thiếu nhi. Julius hơi giật mình, ngớ người, anh đảo mắt kiểm tra xung quanh xem điều khiển ở đâu. À nó đây rồi, chiếc điều khiển đen dài của cái Smart TV đang nằm im trên chiếc bàn tròn nhỏ ở ngay cạnh chiếc sofa mà Julius đang ngồi:
“Hả? Cái, cái gì?” – Julius giật mình, tự hỏi:
“Nếu chiếc điều khiển tv đang ở đây thì lúc nãy ai đã chuyển kênh?”
“Chắc là hàng xóm thôi.” – Julius nói, anh cầm lấy chiếc điều khiển, ngón tay đưa vào nút mũi tên và bấm nút.”
Chương trình tv hôm nay có một show về thể thao, có vẻ khá thú vị khi nó nói về chèo thuyền kayak. Tiếng sau, chẳng biết từ bao giờ, dưới tấm chăn bông, Julius đã ngủ thiếp đi. Tivi đã chuyển sang phim truyền hình, bên ngoài, tiếng gió đã dịu lại nhưng bầu trời lẫn cảnh vật xung quanh đều bị màu trắng bao phủ.
Màn hình, chính xác hơn là không gian ở ngay phía trước chiếc tv lớn bắt đầu xảy ra hiện tượng lạ. Không khí quanh nó bị bóp méo, như thể trạm xăng vào những ngày nắng nóng.
Bụp......
Một âm thanh trầm, nặng vang lên, như thể tiếng sấm nhưng đục ngầu, chậm chạp. Một khe nứt xuất hiện ở ngay trước chiếc tv. Nó dài khoảng một mét rưỡi, các cạnh sắc nhọn lấp lánh như được ghép từ hàng trăm mảnh gương mỏng manh nối vào nhau một cách siêu thực. Chúng xoay chậm rãi, phát ra ánh sáng nhàn nhạt hắt lên trần nhà, sàn gỗ và cả lên khuôn mặt Julius những tia phản chiếu kỳ quái, mơ hồ. Khe nứt dần trở nên trong hơn, trong đến độ phản chiếu căn phòng khách. Chiếc sofa nằm đối diện, chiếc gối ở bên trái, cái đèn chùm ở trên, và phòng bếp ở phía sau. Tất cả chúng đều là cảnh thân thuộc với Julius. Chỉ duy thứ nhất thứ khác biệt là chẳng có hình ảnh của anh ở đó, chiếc sofa trống trơn. Thay vào đó, ở phía sau chiếc ghế bọc nhung đỏ là bóng dáng của một người phụ nữ. Tay cầm cây chổi, người hơi cúi xuống, có vẻ như đang quét nhà.
Julius lờ mờ tỉnh dậy. Tv đã tắt từ khi nào, chiếc chăn ấm vẫn ở trên người. Anh ngồi dậy, khẽ dụi mắt, cái đầu theo phản xạ kéo qua bên tay trái, nơi chiếc bàn nhỏ chứa điều khiển. Nhưng điều kì lạ là chiếc bàn đã đi đâu mất. Anh tròn mắt, lập tức đứng dậy, Julius ngó nghiêng xung quanh, cố tìm chiếc bàn. Nhưng chợt, một mùi hương quen thuộc thoang thoảng bay ra – mùi nước hoa oải hương pha lẫn chút hương gừng mà mẹ cậu hay dùng vào mùa đông lập tức khiến Julius dừng việc tìm kiếm.
Julius nuốt nước bọt. Cậu nhìn xung quanh, Tim cậu đập nhanh, thình thịch như muốn vỡ ra khỏi lồng ngực. Và rồi khi Julius quay người lại, một bóng người đã ở đó, một người phụ nữ trung tuổi, bà đứng yên lặn, đôi mắt màu hổ phách chạm mắt với Julius. Bà mang chiếc váy xanh nhạt dài tay – chiếc váy đã gắn liền với kí ức tuổi thơ của Julius. Chiếc váy hay xuất hiện mỗi khi cậu đi chơi về. Tóc bà búi thấp sau gáy, vài sợi tóc bạc lấp lánh dưới ánh sáng dịu dàng từ khe nứt. Đôi mắt người phụ nữ long lanh, chứa đựng sự dịu dàng, ngạc nhiên và một chút lo lắng mà Julius đã thuộc nằm lòng từ thuở bé thơ.
Đó chính là bà Lan, mẹ cậu. Người đã mất từ nửa năm trước. Người phụ nữ mà Julius đã đứng nhìn quan tài chìm xuống lòng đất. Người mà cậu đã luôn khiến Julius phải khóc mỗi khi nhớ về, nay lại đứng ngay trước mắt cậu như thể một thứ phép màu.
Bà nhìn thẳng vào Julius. Đôi mắt không giấu nổi sự bất ngờ, hai mắt người mẹ chảy xuống hai dòng lệ dài, giống như Julius lúc này vậy:
“Julius... Con...”
Giọng bà vang lên rõ ràng, ấm áp
Thế giới xung quanh Julius dường như ngừng quay. Đôi tay cậu run lên không kiểm soát, trái tim đập thình thịch như muốn nhảy khỏi lồng ngực. Nước mắt trào ra không báo trước, nóng hổi, chảy dài trên má và nhỏ xuống sàn:
“Mẹ…?”
Cậu thì thầm, giọng vỡ òa. Rồi không còn kìm nén được nữa, Julius lao tới như một đứa trẻ. Cậu ôm chầm lấy mẹ thật chặt, siết đến mức như muốn hòa tan bà vào trong cơ thể mình. Tiếng khóc nức nở bật ra từ đáy họng, không thành lời, chỉ toàn những âm thanh đau đớn, hạnh phúc, day dứt và hy vọng xen lẫn. Vai cậu run lên từng hồi. Mùi hương lavender quen thuộc, hơi ấm của cơ thể bà, nhịp tim đập nhẹ nhàng dưới lớp váy – tất cả đều thật đến mức không thể tin nổi.
“Mẹ ơi… mẹ… con xin lỗi… con xin lỗi nhiều lắm… Con đã về rồi đây… Con ở đây mà mẹ… Đừng đi nữa… xin mẹ đừng đi nữa…”
Bà Lan khẽ giật mình vì sức ôm mạnh mẽ bất ngờ, nhưng rồi bà cũng vòng tay lại, vuốt nhẹ lưng cậu bằng những ngón tay run run như ngày xưa.
Họ đứng như vậy rất lâu, thời gian khi ấy dường như ngừng lại, khoảnh khắc như đóng băng trong một bức tranh đẹp.
Buổi tối, màn đêm phủ xuống thị trấn Roswell. Ánh sáng trên những con phố thật không đồng đều, có nhiều đoạn có đèn chiếu, có đoạn không. Thật kì lạ.
Ở đó, một ngôi nhà nhỏ hai tầng đang phát ra những tia sáng ấm áp. Trong căn bếp, Julius đưa tay bật nhạc. Tiếng nhạc nhẹ nhàng vang lên trên chiếc điện thoại nhỏ, người thanh niên mỉm cười, anh kéo cửa, mở tủ lạnh ra. Sau khi lấy bọc thịt ra khỏi tủ mát, anh để nó sang một bên để nó rã đông bớt. Một tay kia anh vớ lấy chiếc thớt dày, đặt xuống bàn, tay còn lại lấy bó rau cải, động tác nhanh nhạy, dứt khoát. Sau khi nhặt và rửa rau xong, Julius đặt nó xuống thớt, đưa con dao bếp lên rồi xuống, đôi tay điêu luyện cắt bó rau thành từng khúc nhỏ. Rất thành thạo, Julius đưa tay lên chạn, một tay lấy chiếc nồi lớn xuống. Đặt lên bếp, cho một ít mỡ vào nồi, và sau đó là rau.
Trong khi đợi món rau, Julius đặt chảo lên bên bếp còn lại. Đổ ít dầu ăn xuống, đợi một chút cho dầu nóng, tranh thủ khoảng thời gian ngắn đó, anh lấy chiếc bát nhỏ, đổ một ít nước mắm, cho hạt tiêu, tương ớt, đường và chanh vào. Khuấy mạnh tay.
Không để một giây phút nào bị bỏ phí, chiếc chảo đã nóng, Julius nhanh tay bỏ hết bảy miếng ba chỉ xuống lớp dầu sôi. Một tay anh cầm đôi đũa, dí miếng ba chỉ đang dần cong xuống thật mạnh xuống mặt chảo. Sau một hồi, Julius lắc chảo.
Bụp
Anh vung chảo lên, tất cả đống ba chỉ trong chiếc chảo bay lên theo vành chảo, rồi trôi trở lại, mặt còn sống úp vào mặt chảo dầu, ra mặt thịt vàng đỏ, óng ánh do mỡ.
Nhanh chóng tắt bếp, Julius nhìn qua nồi rau bên cạnh mới trước đấy còn đầy nồi, sau một hồi nấu thì đã xẹp lại còn một phần ba. Anh đưa tay lấy can nước đặt dưới vòi uống nước, đổ thẳng vào nồi rau đến một nửa nồi, sau đó thả hai thìa hạt nêm. Julius đi nhanh sang chạn, lấy chiếc đĩa sứ, bỏ hết đống ba chỉ vào. Chiếc chảo vẫn chưa hết cát xê, Julius lấy từ đâu một hũ dưa chua. Sau khi gắp vài miếng bỏ vào chiếc chảo còn đang dính dầu, anh liền bật bếp lại, nêm một chút muối rồi lại quay qua nồi rau, tắt bếp đi.
Năm phút sau đó.
Bà Lan đi xuống lầu. Vừa đi vào bếp, thứ đầu tiên bà chứng kiến là cảnh người con trai đang đặt bát rau xuống bàn ăn:
“Hôm nay con trai mẹ lại biết tự nấu ăn cơ à!” – bà Lan ồ lên, bà sau đó ngồi xuống ghế.
Julius cũng ngồi xuống, anh xới ít cơm vào bát rồi đặt xuống bàn, chỗ mẹ anh đang ngồi. Sau khi xới thêm một bát cho mình, Julius cũng ngồi xuống, cầm lấy đôi đũa rồi nói:
“Con mời mẹ ăn cơm.”
“Ừ, con ăn cơm.” – người mẹ đáp.
Giữa bữa ăn, khi Julius vừa gắp miếng ba chỉ lên, người mẹ bất ngờ dừng lại một nhịp, rồi thở dài:
“Buồn nhỉ, mấy đứa con gái thì thấy chồng hết, còn được cả bố mày nữa, chả mấy bữa mà cả nhà mình ăn chung.”
Julius cười nhẹ:
“Không sao đâu mẹ, hôm khác chắc là được thôi.”
Bất chợt nhớ ra gì đó, anh nói thêm, giọng hào hứng:
“À đúng rồi, con trúng tuyển vào Oxford rồi mẹ ạ!”
Bà Lan tròn mắt, đôi mắt rưng rưng, rồi người phụ nữ trung niên mỉm cười đầy mãn nguyện:
“Ừ, con của mẹ giỏi quá. Muốn mẹ thưởng cho gì nào?”
Julius cũng đơ ra một lúc, rồi anh đáp:
“À... Ờm, con có một món đồ chơi muốn mua từ lâu, không biết là mẹ có thể mua không...”
Đêm xuống, sau vài trận game, Julius liền gọi cho Agnes – người chị hai trong gia đình. Vừa nhấc máy lên, một giọng nói xa lạ đã vang lên:
“Alo.”
Không phải là giọng nói có phần chua ngoa của người chị mà là một giọng nói xa lạ. Julius khó hiểu, nhưng giờ cũng đã khá muộn, có lẽ vẫn nên xử lí tình huống này trước đã
“Ờm... Xin lỗi, gọi nhầm ạ.”
Nói xong, rất dứt khoát, Julius tắt máy. Một dòng suy nghĩ đầy lấn cấn xuất hiện:
“Đây... Chẳng phải là số máy của Agnes sao? Tại sao...”
Nhớ lại chuyện xảy ra hồi sáng. Đến tận bây giờ, anh vẫn như trong cơn phê, vì mẹ mình đã trở về, điều đó không khác gì một vị anh hùng đã chết trở về trong những câu chuyện sử thi. Nghĩ về nụ cười dịu dàng của bà, cậu thanh niên quyết gạt phăng đi tất cả những thứ vô lí mà mình thấy được, Julius nằm xuống giường, ngủ thiếp đi.
Phải kể một chút về quá khứ của Julius. Trước kia, thời còn niên thiếu, cậu ta từng là một gã ham chơi. Cũng có thể gọi là một cá thể boy phố.
Ngồi trong quán net, dưới nền điều hòa mát rượi, Julius cùng với đám bạn đang chơi sc2. Đôi mắt ai nấy không rời khỏi màn hình dù chỉ nửa giây, từng tiếng call team cùng với tiếng súng, bo vang lên liên hồi trên màn hình điện tử. Từng ấy sự tập trung và Andrenaline khiến Julius không khỏi hưng phấn mà hét lên, nhưng chiếc điện thoại mà cậu để ở bên trong chiếc cặp ở bên cạnh đang rung lên từng hồi. Người gọi là mẹ cậu.
Bảy giờ tối hôm ấy, Julius về nhà.
“Con về rồi...”
Cậu thanh niên 15 tuổi đẩy cửa bước vào. Ngay lập tức, cả mẹ, Anna và Agnes đi ra từ phòng khách. Người mẹ hốt hoảng, chạy ra trước mặt Julius, hai tay đưa ra, sờ vào vai cậu, hớt hải hỏi:
“Con đi đâu vậy? Con không sao chứ?”
Julius ban đầu hơi bất ngờ, nhưng rồi hai đường lông mày hơi nhăn lại, cậu đáp:
“Con đi chơi với bạn thôi.”
Nghe đến đây, Anna và Agnes ở đằng sau liền phản ứng:
“Quái gì? Đi chơi mà không gọi về nhà một tiếng ư? Đi đâu làm gì cũng phải thông báo chứ!” – Agnes phàn nàn.
“Mày biết là vì chuyện nhỏ này mà bọn chị phải tốn công về đây không?” – Anna thở mạnh đầy bực dọc.
Chỉ có bà Lan vẫn đứng yên đó, im lặng. Julius nói tiếp:
“Ờm... Chuyện này cũng đâu có gì to tát...”
“ĐI CHƠI ĐẾN GIỜ NÀO MÀ PHẢI ĐỂ MẸ NHẮC?!”
Chẳng đợi Julius nói hết, người mẹ đã hét lớn, tiếng hét khiến cả ba chị em giật mình:
“Từ giờ mẹ cấm! Không được chơi chung với bọn bạn đấy nữa! Nghe chưa!”
Hai hàng lông mày của Julius chau mạnh, cậu đẩy mẹ ra, nhanh chóng chạy qua các chị rồi chạy lên cầu thang.
Julius đóng sầm cửa phòng, anh lấy điện thoại ra, thứ đập vào mắt anh là một đống tin nhắn ping mình ở trong nhóm lớp.
“Alo Julius à Julius, mẹ cháu hỏi cháu ở đâu này.”
“Đại ca đi chơi quên đường về à.”
Nhìn đống tin nhắn trong nhóm, Julius ném mạnh điện thoại xuống giường. Chằng có thứ gì có thể miêu tả sự phẫn nộ của cậu lúc này. Có lẽ cái người mà cậu muốn giết nhất ngay bây giờ chính là mẹ cậu, khi từ nhóm lớp, nhóm bạn thân hay thậm chí là cả người yêu cũ. Ôi, cuộc sống muôn màu, nếu con người không có thứ được gọi là tiêu chuẩn đạo đức, nếu như Julius và mẹ chưa từng là máu mủ, có lẽ anh đã lấy dao, vào phòng và xiên mẹ mình mấy nhát vì đã làm mình nhục nhã như thế này.
Và như bao cá thể boy phố khác, chuyện điểm số không thể nào mà cao được nói chi là khá.
Thời gian sau, bà Lan đang phơi đồ, thì tiếng chuông điện thoại làm bà ngay lập tức dừng việc mình đang làm, đi vào phòng và nhấc điện thoại lên. Cái tên xuất hiện trên màn hình đang rung lên là cô Peggy – giáo viên chủ nhiệm của Julius.
“Alo.”
“Alo, chị là mẹ của em Dent ạ?” – cô giáo hỏi.
“Vâng, chính là tôi.”
“Vâng, chị ạ, chị biết điểm thi cuối kì của em Julius chưa ạ?”
“Chưa, thưa cô, có chuyện gì không ạ?”
“Thưa chị, điểm kì thi cuối kì I của em Julius là 50 điểm ạ.”
Thông báo của cô giáo vừa dứt, bà Lan liền sững sờ, trái ngược với con số 85 điểm từ kì thi giữa kì, số điểm của Julius đã giảm xuống. Cô giáo tiếp tục:
“Chị biết đấy, dạo này em Julius trên lớp thường xuyên nói chuyện trong giờ, không chú ý đến bài giảng, dù các giáo viên đã nhiều lần nhắc nhở, em vẫn cố tình tái phạm.”
“V, vâng, tôi biết rồi, gia đình sẽ chỉ bảo cháu thêm.”
Vâng, và sau đó? Buổi chiều hôm ấy:
“Con về rồi...” – Julius lần nữa về nhà muộn. Lần này, người mẹ đã đứng chờ sẵn trước bậc thềm nhà chờ cậu:
“Tại sao con không nói gì về điểm thi?” – Bà Lan hỏi, giọng nói đầy gắt gỏng.
Nhận ra có điều khác lạ, nhưng Julius cũng chẳng để tâm. Anh nói:
“Mẹ có hỏi đâu ạ.”
Người mẹ đang nóng máu, gặp phải câu trả lời đó thì lập tức nổi xung, bà chạy đến, vung tay lên định đánh Julius. Nhưng bằng phản xạ, Julius nhảy ra sau, né được tay của bà mẹ. Tấm lưng sát vào cánh cửa, một tay cậu lập tức kéo tay nắm, đẩy cửa rồi chạy thật nhanh ra ngoài:
“Điểm cao để làm cái gì cơ chứ? Đống kiến thức đó cũng đâu thể mài ra ăn được?” – Julius hét lớn, ở bên trong, bà Lan cũng hét lên:
“Julius, mày quay lại đây!”
“Con đâu có ngu như ai đó.” – Julius đáp, rồi cậu chạy đi, không ngoảnh lại.
Vậy là tối đó, cậu đến nhà Ken ngủ tạm qua đêm.
Thời gian sau, Julius lên cấp ba. Dù điểm số có thấp hơn như nhờ cày ngày cày đêm, cậu ta vẫn vượt qua được bài thi chuyển cấp. Sau buổi tiệc với hội bạn, Julius trở về nhà, sau khi đặt ít kẹo từ buổi tiệc vào tủ lạnh, mẹ cậu từ dưới lầu đi xuống:
“Julius.” – tiếng gọi của bà khiến cậu quay đầu sang.
“Con tưởng mẹ ngủ rồi chứ.”
“Tiệc vui không con?” – người mẹ hỏi.
Julius gãi đầu, mỉm cười thật tươi:
“Haha, tất nhiên là có rồi mẹ.”
Bà ngồi xuống bàn, rồi nói với người con:
“Ngồi xuống đi, mẹ muốn nói chuyện.”
Julius cũng xuôi, cậu ngồi xuống. Cậu hỏi:
“Mẹ, có chuyện gì sao?”
Bà mỉm cười dịu dàng, từng nếp nhăn trên mặt xô qua lại, bà nói:
“Con biết không, cái lúc điểm của con sa sút, mẹ rất buồn đấy.”
Nghe đến đoạn đó, Julius cười trừ:
“Ây da... Mẹ nghĩ con sẽ không đỗ được cấp hai sao? Làm sao con để chuyện đó xảy ra được?”
“Không, mẹ không lo con không đỗ được cấp hai. Mẹ chỉ lo là... Việc học hành như thế này... Sau này con sẽ không thành công được.”
“Hmm, đây là nước mỹ mà mẹ, có nhiều cách thành công lắm, việc đi học chỉ là một cách trong số đó thôi. Con có thể trở thành cầu thủ, hay là ca sĩ đấy, tất cả đều có thể đấy thôi.” – Julius nhếch mép.
Nét mặt bà Lan đăm chiêu, bà nói:
“Nhưng... Mẹ muốn con mẹ trở thành trí thức, như vậy thì sẽ được kính trọng.”
Julius đưa tay lên đầu:
“Vậy ư? Con nghĩ người ta sẽ chỉ coi con là một tên nerd mà thôi. Nhưng mà nếu mẹ muốn, con sẽ vào Havard cho mẹ xem!”
Nhìn nụ cười tỏa ra ánh sáng của tuổi trẻ trên người con trai, bà Lan thoáng mỉm cười:
“Có lẽ Stanford sẽ tốt hơn đấy.”
Vâng, quả thực lúc đó, cậu thiếu niên cũng chỉ nghĩ vu vơ rằng mẹ cậu nói vậy vì mấy “tư tưởng Châu Á” mà đám bạn hay nói đến. Lúc đó, Julius vẫn cho rằng chỉ cần mình thành công, giàu có, chỉ cần là làm ăn chân chính thì dù có thế nào cũng được. Chỉ cần thấy cậu có cuộc sống ổn định, tự do thì mẹ sẽ ắt an tâm.
Thế nhưng tin xấu nó đến rất nhanh. Buổi chiều hôm đó, Julius đạp xe về nhà. Trái với lần trước, cậu đã treo chiếc điện thoại cục gạch của mình ở sau balo. Vừa đặt chiếc xe đạp vào ga – ra, một tiếng chuông điện thoại reo lên. Julius giật lấy rồi bấm gọi:
“Alo?”
Đầu dây bên kia là giọng của Agnes, giọng gấp gáp nói:
“Mày ra viện ngay đi! Mẹ bị đột quỵ rồi!”
Tối hôm đó.
Cả gia đình của họ đã đến bệnh viện, Anna, Agnes và Alice sau khi nghe tin mẹ bị đột quỵ thì liền bỏ hết việc đang làm mà chạy đến bệnh viện – nơi ông Andrew – cha họ đã chờ sẵn. Năm người ngồi bên ngoài phòng cấp cứu, ba chị em ngồi cạnh nhau, Alice cố lau hai dòng nước mắt:
“Tại sao... Tại sao mẹ lại thành ra thế này?...”
Agnes khịt mũi:
“Mẹ ơi... Đừng bỏ bọn con nhé...”
Anna vỗ vai hai đứa em:
“Mày nói linh tinh gì đấy, phải tin tưởng bác sĩ chứ!”
Về phần người bố, ông ngồi ở một chiếc góc, im lặng. Hai tay ôm đầu, hình ảnh vốn có của ông. Mạnh mẽ, vững vàng và ấm áp trong khoảnh khắc ấy dường như tan biến.
Vâng, còn về phía Julius, cậu cũng vậy, phải tin tưởng tuyệt đối vào các bác sĩ. Chắc chắn mẹ cậu là người tốt như vậy thì đảm bảo là sẽ vượt qua được cơn nguy kịch này.
Một tiếng sau, bác sĩ đi ra.
Ngay lập tức tất cả mọi người chạy đến trước mặt vị bác sĩ.
“Chúng tôi rất tiếc, dù đã cố gắng hết sức, nhưng bộ não của bệnh nhân chỉ còn hoạt động 20%. Giờ đây, bệnh nhân đã rơi vào trạng thái sống thực vật...”
Khoảnh khắc ấy, tất cả mọi người như sụp đổ, Agnes ngã quỵ xuống. Cả bố của họ cũng không thể nói nổi một lời, mặt cắt không còn giọt máu.
Julius cũng như người bố. Những lời nói của mẹ trong cái ngày hôm ấy hiện về.
“Có lẽ Stanford sẽ tốt hơn đấy.”
Từ ngày hôm ấy, tất cả mọi thứ đã thay đổi. Mẹ của họ đã được gửi về nhà, cha của họ vẫn đi làm, các chị gái của Julius hiện tại đều đang có cuộc sống riêng, việc chăm sóc mẹ được đẩy qua cho Julius. Dù gia đình có thuê giúp việc để chăm sóc cho mẹ họ vào ban ngày, nhưng vào buổi tối – khi người giúp việc đã tan ca, Julius vẫn phải đảm nhận công việc chăm sóc cho người mẹ. Vì chuyện này, mỗi lần bạn bè rủ đi chơi, Julius đành từ chối. Kể cả ngày chủ nhật, Julius vẫn chỉ dành thời gian ở nhà. Có những ngày, những người bạn của cha mẹ đến thăm:
“Vậy là... Một mình cháu chăm sóc mẹ từ trước đến nay sao?” – một người đến thăm hỏi.
“Vâng, không phải cháu thì là ai đây.” – julius mỉm cười nhẹ.
“Bố cháu không cùng chăm mẹ cháu sao?” – một người khác hỏi.
Julius vẫn cố giữ nụ cười, không ai biết việc cha cậu sau cái ngày hôm ấy chưa từng thăm mẹ cậu dù chỉ một lần. Cậu đáp:
“Vâng, bố cháu bận mà.”
Một người bạn tiến lên trước, nắm lấy tay của cậu thanh niên trẻ:
“Có lẽ... Bọn ta không nên nói chuyện này. Nhưng mà bố cháu hiện tại đang hẹn hò với người khác ở bên ngoài.”
Câu nói ấy như giọt nước tràn ly. Tối hôm đó, khi cha cậu lần nữa về nhà muộn, Julius, Agnes và Anna đã đợi sẵn ông ở sau cánh cửa, y như lần Julius về nhà muộn.
Ông Andrew người đầy men rượu hỏi mấy đứa nhóc trong nhà:
“Có chuyện gì vậy mấy đứa?”
Không đợi thêm, Agnes hỏi thẳng:
“Bố có người bên ngoài sao?”
“Chờ đã, con đang nói gì vậy?” – Bố của họ liền chối ngay. Nhưng chẳng đợi hai người chị hay bất cứ ai phản ứng, Julius đã bước một chân lên:
“Lana Redfield, 32 tuổi, làm thư ký của công ty Kenned Inc. Đã ra tòa ly hôn ba lần, và hiện tại đang có 1 đứa con trai 16 tuổi. Người mà bố đã quen vì nói rằng ‘có cái tên giống như người vợ đã mất của mình’. Và đã quen nhau được hai tháng.”
Từng câu rất rành mạch được Julius nói ra, làm tất cả những người chứng kiến phải ngỡ ngàng. Julius cười khẩy:
“ ‘Vợ tôi mất rồi’ cơ à, cũng hợp lí thôi, giờ mẹ trong mắt ông có khác quái gì người đã chết? Nhưng mà kể cô ta biết được sự thật thì chắc cô ta cũng chẳng sốc gì đâu nhỉ. Dù gì thì ly hôn ba lần rồi thì hẳn mấy tình tiết như phim thế này với cái loại không ra gì đó cũng chẳng phải là thứ quan trọng đâu.”
Người cha nghe thấy tất cả, ông sững sờ, nhìn thẳng vào đôi mắt vừa sốc vừa đầy phán xét của ba người con, ông chỉ đành thở dài:
“Bố... Bố chẳng thể nào nhìn mặt mẹ của mấy đứa nữa... Cái ngày hôm đấy, bố chẳng thể làm gì, chỉ là một người chồng bất lực, đứng trơ ra nhìn cô ấy bị lấy đi tất cả...”
Cả ba chị em sững sờ, Agnes và Anna tiến đến, ôm lấy bố:
“Không sao đâu bố, chúng con cũng thế thôi, đây không phải lỗi của bố.”
“Nhưng trốn chạy mãi là không thể, con không phản đối việc bố bước tiếp, chỉ là bố nên tìm một người thật sự tử tế.”
Người bố ôm chầm lấy hai cô con gái, hai hàng nước mắt chảy xuống. Nhưng ở bên kia, Julius vẫn đứng đó, đôi mắt đầy khinh miệt và lạnh lùng như lưỡi dao chĩa thẳng về phía người bố.
Hơn một năm sau, kì thi đại học đã đến. Julius sau thời gian học tập dài, khoảnh khắc ấy đã đến, đây chính là thời khắc mà cậu hoàn thành giấc mơ của mẹ. Quả không ngoài dự đoán, Julius đã hoàn thành được bài thi một cách dễ dàng. Khi cậu vẫn còn đắm chìm trong niềm vui chiến thắng, ở nhà, mẹ cậu đã trút hơi thở cuối cùng.
Và thật buồn làm sao, cái tin ấy chỉ đến tai người thanh niên khi cậu đã hoàn thành bài thi cuối cùng.
Ngay sau buổi thi, Julius đã tức tốc về nhà. Chỉ để nhìn thấy mẹ cậu đã ở trên giường, xung quanh là những người chị đang khóc sướt mướt. Cả người bố cũng không thể ngăn được hai dòng nước mắt tuôn rơi. Nhưng chỉ có Julius, chỉ có cậu vẫn im lặng, cậu suy nghĩ về những nỗ lực của bản thân từ trước đến nay rốt cuộc là vì điều gì. Dù được vô số lời an ủi, chẳng có sự đồng cảm nào đủ để cho Julius lúc này. Cậu chăm chỉ học hành, cậu đã đỗ vào stanford, nhưng nếu chúng chẳng để cho mẹ cậu thấy thì điều đó có ý nghĩa gì?